1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Rủi ro thanh khoản Khe hở thanh khoản

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (384.38 KB, 63 trang )


1.1.2.3. Tính thanh khoản của nguồn


Được đo bằng thời gian và chi phí cơ hội để mở rộng nguồn khi cần thiết. Thời gian và chi phí càng cao thì tính thanh khoản của nguồn càng
giảm. Khả năng huy động nguồn cũng góp phần tạo khả năng thanh tốn cho
ngân hàng.

1.1.3. Rủi ro thanh khoản


Rủi ro thanh khoản được hiểu là khả năng xảy ra tổn thất cho ngân hàng khi nhu cầu thanh khoản thực tế vượt quá mức khả năng thanh khoản dự kiến.
Rủi ro thanh khoản ở mức cao làm cho ngân hàng phải gia tăng chi phí để đáp ứng nhu cầu thanh khoản làm giảm thu nhập ròng của ngân hàng. Ở mức cao
hơn ngân hàng mất khả năng thanh toán dẫn đến phá sản. Rủi ro thanh khoản có thể đến từ hoạt động bên nợ hoặc bên có hoặc từ
hoạt động ngoại bảng của bảng cân đối tài sản. Rủi ro thanh khoản đến từ bên tài sản nợ có thể phát sinh bất cứ lúc nào
khi người gửi tiền rút tiền trước hạn và cả khi đến hạn. Với một lượng tiền gửi đọt ngột được rút ra lớn sẽ buộc ngân hàng phải đi vay thêm để bổ sung hoặc
bán bớt tài sản. Do cần gấp nên khi huy động thì ngân hàng phải chịu lãi suất cao, hoặc bán gấp tài sản thì phải bán với giá thấp so với giá trên thị trường và
từ đó làm giảm thu nhập của ngân hàng. Rủi ro thanh khoản từ bên tài sản có chủ yếu phát sinh khi nhu cầu vay
tiền của khách hàng tăng đột ngột làm ngân hàng không đảm bảo đủ tiền ngay lập tức theo yêu cầu của khách.
Rủi ro thanh khoản từ hoạt động ngoại bảng: Sự phát triển mạnh mẽ của các công cụ phái sinh khiến cho rủi ro thanh khoản đến từ hoạt động ngoại
bảng cũng ngày càng gia tăng. Khi mà các nghĩa vụ thanh toán xảy ra như cam kết bảo lãnh, nghĩa vụ thanh toán các hợp đồng kỳ hạn, hoán đổi hay
SV: Lê Trọng Đức
6
Lớp: Ngân hàng 47B
quyền chọn đến hạn thì sẽ phát sinh nhu cầu thanh khoản và ngân hàng có thể đối mặt với rủi ro thanh khoản.

1.1.4. Khe hở thanh khoản


Cung thanh khoản: là khả năng cung ứng tiền của ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng, bao gồm việc bán tài sản thanh
khoản, khả năng huy động vốn mới và thu hồi các khoản cho vay đến hạn. Cầu thanh khoản: là nhu cầu thanh toán của khách hàng mà ngân hàng
có nghĩa vụ đáp ứng, bao gồm nhu cầu chi trả từ tài khoản tiền gửi và nhu cầu vay của khách hàng.
Khe hở thanh khoản: là chêch lệch giữa cung và cầu thanh khoản tại một thời điểm nhất định.
Khe hở thanh khoản chính là nguyên nhân gây nên rủi ro thanh khoản, khi cung và cầu thanh khoản tại một thời điểm nào đó khơng cân bằng:
- Khi cung thanh khoản cầu thanh khoản: ngân hàng ở trạng thái thặng dư vốn khả dụng. Trường hợp lượng vốn khả dụng lớn hơn mức cần thiết,
ngân hàng sẽ bị dư thừa, ứ đọng vốn và làm giảm hiệu quả kinh doanh. - Khi cung thanh khoản cầu thanh khoản: ngân hàng ở trạng thái thâm
hụt vốn khả dụng, không đáp ứng được nhu cầu chi trả và phải tìm kiếm nguồn thanh khoản bổ sung.
Với sự biến động của lãi suất hị trường trong tương lai, khe hở thanh khoản sẽ ảnh hưởng đến thu nhập ròng từ lãi của ngân hàng, cụ thể:
NII = GAP
L
∆I Trong đó:
• NII : Thu nhập ròng từ lãi • GAP
L
: Giá trị khe hở thanh khoản hay chênh lệch giữa cung thanh khoản và cầu thanh khoản tại thời điểm tính
SV: Lê Trọng Đức
7
Lớp: Ngân hàng 47B
• ∆I : Sự thay đổi của lãi suất thị trường Như vậy để nâng cao thu nhập ròng từ lãi khi có sự biến động của lãi
suất, khi dự đốn lãi suất tăng thì ngân hàng nên duy trì khe hở thanh khoản dương và ngược lại, khi dự đoán lãi suất thị trường giảm ngân hàng sẽ duy trì
khe hở âm.
1.2. Nội dung quản lý thanh khoản 1.2.1. Xác định mục tiêu của quản lý thanh khoản
Trước hết mục tiêu quản lý thanh khoản của ngân hàng được xác định là nhằm đáp ứng kịp thời các nghĩa vụ tài chính đối với khách hàng với mức chi
phí thấp nhất. Mặc khác, bài toán giữa chỉ tiêu sinh lời và an tồn ln ln được đặt ra cho các nhà quản lý. Thanh khoản và lợi nhuận của ngân hàng là
hai tiêu chí trái ngược nhau, có tính chất đánh đổi. Muốn duy trì một tỷ lệ an tồn thanh khoản cao đồng nghĩa với việc ngân hàng sẽ nắm giữ các tài sản
thanh khoản nhưng ít sinh lợi hoặc hầu như không sinh lời. Và ngược lại, nếu theo đuổi mục đích lợi nhuận, ngân hàng sẽ muốn nắm giữ những tài sản sinh
lợi cao, kỳ hạn dài nhưng thanh khoản kém dẫn tới nguy cơ về rủi ro thanh khoản. Nhà quản lý ngân hàng sẽ cần phải cân đối hợp lý giữa hai mục tiêu
này để phù hợp với mục tiêu, chiến lược hoạt động trong từng thời kỳ của ngân hàng.
Như vậy, ngân hàng quản lý thanh khoản để: Đảm báo khả năng chi trả kịp thời của ngân hàng với chi phí thấp nhất,
hợp lý nhất. Dự đoán nguy cơ rủi ro thanh khoản và tổn thất có thể xảy ra.
1.2.2. Xác định cung cầu thanh khoản 1.2.2.1. Xác định cung thanh khoản

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (63 trang)

×