1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Tính thanh khoản của tài sản Xác định cầu thanh khoản

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (384.38 KB, 63 trang )


- Trái phiếu cơng trình, trái phiếu doanh nghiệp nhà nước cũng được đánh giá là có độ rủi ro thấp.
- Các khoản dự trữ ngoại tệ có khả năng chuyển đổi. - Các tài sản có tính thanh khoản khác.
1.1.2. Thanh khoản 1.1.2.1. Thanh khoản của ngân hàng
Thanh khoản của ngân hàng được hiểu đơn giản là khả năng của ngân hàng trong việc đáp ứng nhu cầu thanh tốn của khách hàng. Một ngân hàng
có tính thanh khoản cao khi có nhiều tài sản thanh khoản hoặc có khả năng mở rộng nguồn nhanh với chi phí thấp hoặc cả hai sao cho phù hợp với nhu
cầu thanh khoản. Như vậy khi ngân hàng không đáp ứng kịp thời nghĩa vụ thanh toán hoặc
phải chịu tổn thất, chi phí cao để đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán này sẽ dẫn đến rủi ro thanh khoản. Thanh khoản là một nội dung quản lý đặc biệt phức
tạp trong cơng tác quản trị ngân hàng, khi mà dòng tiền vào, dòng tiền ra phát sinh khơng lường trước được, thay đổi liên tục hàng ngày, hàng giờ.

1.1.2.2. Tính thanh khoản của tài sản


Tính thanh khoản của mỗi tài sản là khả năng chuyển tài sản thành tiền được đo bằng thời gian và chi phí. Thời gian và chi phí càng cao thì tính
thanh khoản càng giảm và ngược lại. Trong kế toán tài sản lưu động chia làm năm loại và được sắp xếp theo
tính thanh khoản từ cao đến thấp như sau: tiền mặt,chứng khoán, đầu tư ngắn hạn, khoản phải thu, ứng trước ngắn hạn, và hàng tồn kho. Như vậy rõ ràng
tiền mặt có tính thanh khoản cao nhất, ln ln dùng được trực tiếp để thanh tốn, lưu thơng, tích trữ; còn hàng tồn kho có tính thanh khoản thấp nhất vì
phải trải qua giai đoạn phân phối và tiêu thụ chuyển thành khoản phải thu, rồi từ khoản phải thu sau một thời gian mới chuyển thành tiền mặt.
SV: Lê Trọng Đức
5
Lớp: Ngân hàng 47B

1.1.2.3. Tính thanh khoản của nguồn


Được đo bằng thời gian và chi phí cơ hội để mở rộng nguồn khi cần thiết. Thời gian và chi phí càng cao thì tính thanh khoản của nguồn càng
giảm. Khả năng huy động nguồn cũng góp phần tạo khả năng thanh toán cho
ngân hàng.

1.1.3. Rủi ro thanh khoản


Rủi ro thanh khoản được hiểu là khả năng xảy ra tổn thất cho ngân hàng khi nhu cầu thanh khoản thực tế vượt quá mức khả năng thanh khoản dự kiến.
Rủi ro thanh khoản ở mức cao làm cho ngân hàng phải gia tăng chi phí để đáp ứng nhu cầu thanh khoản làm giảm thu nhập ròng của ngân hàng. Ở mức cao
hơn ngân hàng mất khả năng thanh toán dẫn đến phá sản. Rủi ro thanh khoản có thể đến từ hoạt động bên nợ hoặc bên có hoặc từ
hoạt động ngoại bảng của bảng cân đối tài sản. Rủi ro thanh khoản đến từ bên tài sản nợ có thể phát sinh bất cứ lúc nào
khi người gửi tiền rút tiền trước hạn và cả khi đến hạn. Với một lượng tiền gửi đọt ngột được rút ra lớn sẽ buộc ngân hàng phải đi vay thêm để bổ sung hoặc
bán bớt tài sản. Do cần gấp nên khi huy động thì ngân hàng phải chịu lãi suất cao, hoặc bán gấp tài sản thì phải bán với giá thấp so với giá trên thị trường và
từ đó làm giảm thu nhập của ngân hàng. Rủi ro thanh khoản từ bên tài sản có chủ yếu phát sinh khi nhu cầu vay
tiền của khách hàng tăng đột ngột làm ngân hàng không đảm bảo đủ tiền ngay lập tức theo yêu cầu của khách.
Rủi ro thanh khoản từ hoạt động ngoại bảng: Sự phát triển mạnh mẽ của các công cụ phái sinh khiến cho rủi ro thanh khoản đến từ hoạt động ngoại
bảng cũng ngày càng gia tăng. Khi mà các nghĩa vụ thanh toán xảy ra như cam kết bảo lãnh, nghĩa vụ thanh toán các hợp đồng kỳ hạn, hoán đổi hay
SV: Lê Trọng Đức
6
Lớp: Ngân hàng 47B
quyền chọn đến hạn thì sẽ phát sinh nhu cầu thanh khoản và ngân hàng có thể đối mặt với rủi ro thanh khoản.

1.1.4. Khe hở thanh khoản


Cung thanh khoản: là khả năng cung ứng tiền của ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng, bao gồm việc bán tài sản thanh
khoản, khả năng huy động vốn mới và thu hồi các khoản cho vay đến hạn. Cầu thanh khoản: là nhu cầu thanh toán của khách hàng mà ngân hàng
có nghĩa vụ đáp ứng, bao gồm nhu cầu chi trả từ tài khoản tiền gửi và nhu cầu vay của khách hàng.
Khe hở thanh khoản: là chêch lệch giữa cung và cầu thanh khoản tại một thời điểm nhất định.
Khe hở thanh khoản chính là nguyên nhân gây nên rủi ro thanh khoản, khi cung và cầu thanh khoản tại một thời điểm nào đó không cân bằng:
- Khi cung thanh khoản cầu thanh khoản: ngân hàng ở trạng thái thặng dư vốn khả dụng. Trường hợp lượng vốn khả dụng lớn hơn mức cần thiết,
ngân hàng sẽ bị dư thừa, ứ đọng vốn và làm giảm hiệu quả kinh doanh. - Khi cung thanh khoản cầu thanh khoản: ngân hàng ở trạng thái thâm
hụt vốn khả dụng, không đáp ứng được nhu cầu chi trả và phải tìm kiếm nguồn thanh khoản bổ sung.
Với sự biến động của lãi suất hị trường trong tương lai, khe hở thanh khoản sẽ ảnh hưởng đến thu nhập ròng từ lãi của ngân hàng, cụ thể:
NII = GAP
L
∆I Trong đó:
• NII : Thu nhập ròng từ lãi • GAP
L
: Giá trị khe hở thanh khoản hay chênh lệch giữa cung thanh khoản và cầu thanh khoản tại thời điểm tính
SV: Lê Trọng Đức
7
Lớp: Ngân hàng 47B
• ∆I : Sự thay đổi của lãi suất thị trường Như vậy để nâng cao thu nhập ròng từ lãi khi có sự biến động của lãi
suất, khi dự đốn lãi suất tăng thì ngân hàng nên duy trì khe hở thanh khoản dương và ngược lại, khi dự đoán lãi suất thị trường giảm ngân hàng sẽ duy trì
khe hở âm.
1.2. Nội dung quản lý thanh khoản 1.2.1. Xác định mục tiêu của quản lý thanh khoản
Trước hết mục tiêu quản lý thanh khoản của ngân hàng được xác định là nhằm đáp ứng kịp thời các nghĩa vụ tài chính đối với khách hàng với mức chi
phí thấp nhất. Mặc khác, bài tốn giữa chỉ tiêu sinh lời và an tồn ln ln được đặt ra cho các nhà quản lý. Thanh khoản và lợi nhuận của ngân hàng là
hai tiêu chí trái ngược nhau, có tính chất đánh đổi. Muốn duy trì một tỷ lệ an toàn thanh khoản cao đồng nghĩa với việc ngân hàng sẽ nắm giữ các tài sản
thanh khoản nhưng ít sinh lợi hoặc hầu như không sinh lời. Và ngược lại, nếu theo đuổi mục đích lợi nhuận, ngân hàng sẽ muốn nắm giữ những tài sản sinh
lợi cao, kỳ hạn dài nhưng thanh khoản kém dẫn tới nguy cơ về rủi ro thanh khoản. Nhà quản lý ngân hàng sẽ cần phải cân đối hợp lý giữa hai mục tiêu
này để phù hợp với mục tiêu, chiến lược hoạt động trong từng thời kỳ của ngân hàng.
Như vậy, ngân hàng quản lý thanh khoản để: Đảm báo khả năng chi trả kịp thời của ngân hàng với chi phí thấp nhất,
hợp lý nhất. Dự đoán nguy cơ rủi ro thanh khoản và tổn thất có thể xảy ra.
1.2.2. Xác định cung cầu thanh khoản 1.2.2.1. Xác định cung thanh khoản
a. Cung thanh khoản phát sinh từ Tài sản Có
SV: Lê Trọng Đức
8
Lớp: Ngân hàng 47B
Tiền mặt: Tiền mặt của ngân hàng được đánh giá là một trong những
khoản mục mang tính lỏng tính thanh khoản cao nhất, tồn bộ số dư tiền mặt được coi là nguồn cung thanh khoản nhanh chóng và ít chi phí nhất.
Tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước: là khoản mục mang tính lỏng khơng
kém gì tiền mặt.
Tiền gửi tại các tổ chức tín dụng: Do các tổ chức tín dụng được coi là
những đối tác có độ tín nhiệm cao nên khả năng thanh toán gần như là chắc chắn. Đối với một số giao dịch có thỏa thuận được rút trước hạn thì tính thanh
khoản cũng gần như tiền gửi thanh tốn.
Các khoản cho vay các tổ chức tín dụng được hồn trả: khoản mục
này tính thanh khoản cũng tương đương như tiền gửi tại các tổ chức tín dung tuy nhiên trong xếp loại thứ tự ưu tiên trong thanh toán thì tiền vay nằm sau
tiền gửi.
Các khoản cho vay các tổ chức kinh tế, các nhân được hoàn trả:
khoản mục này khơng được đánh giá cao về tính thanh khoản, trong báo cáo khe hở thanh khoản khoản mục này chỉ được lấy ở mức khoảng 70 số dự
kiến phát sinh.
Các khoản đầu tư chứng khoán đến hạn: chứng khoán ngân hàng nắm
giữ hiện nay thường có độ an tồn cao như Trái phiếu Chính phủ, Tín phiếu Kho Bạc Nhà Nước, trái phiếu cơng trình…Do vậy tính thanh khoản cũng
được đánh giá tương đối cao, ở mức khoảng 90-95 Ngồi ra còn một số Tài sản Có khác đến hạn như các khoản phải thu,
các khoản tạm ứng… b. Cung thanh khoản phát sinh từ Tài sản Nợ
Huy động tiền gửi từ các tổ chức kinh tế, cá nhân: khả năng tăng cung
thanh khoản từ huy động tiền gửi từ các tổ chức kinh tế, cá nhân là thanh khoản trong dài hạn và thể hiện ở chính sách, kế hoạch huy động của ngân
SV: Lê Trọng Đức
9
Lớp: Ngân hàng 47B
hàng. Đây cũng là một trong những chỉ số quan trọng đánh giá tính hiệu quả trong quản lý ngân hàng và được coi là nguồn thanh khoản mang tính ổn định
nhất, là nền tảng lợi nhuận của ngân hàng.
Phát hành giấy tờ có giá: tương tự như trên, phát hành giấy tờ có giá
cũng là biện pháp tăng cung thanh khoản. Tuy nhiên các đợt phát hành thường phục vụ cho mục tiêu nhất định ntrong thời hạn nhất định, lãi suất có
thể cao hơn tiền gửi tiết kiềm nên khoản mục này có thể tăng cung thanh khoản một cách linh động hơn.
Vay cầm cố, vay chiết khấu Ngân hàng nhà nước: Nguồn tái cấp vốn
từ Ngân hàng Nhà nước được coi là sự hỗ trợ thanh khoản cuối cùng của ngân hàng thương mại. Tuy nhiên trên thực tế, các ngân hàng thương mại thường
xuyên sử dụng nguồn này để bổ sung nguồn vốn kinh doanh cũng như hỗ trợ thanh khoản qua sử dụng hạn mức chiết khấu, vay cầm cố giấy tờ có giá do
đây là nguồn vốn có chi phí thấp, quy mơ lớn.
Nhận tiền gửi Kho bạc Nhà nước, nhận tiền gửi, vay các Tổ chức tín dụng khác: Đây cũng là nguồn cung thanh khoản dồi dào vì có chi phí thấp
và quy mơ lớn, nhưng với nguồn này ngân hàng không chủ động được mà phụ thuộc vào khả năng của đối tác và khả năng huy động của chính ngân
hàng. c. Cung thanh khoản phát sinh từ khoản mục ngoại bảng:
Thị trường tài chính ngày nay ngày càng được phát triển và mở rộng, các sản phẩm phái sinh và dịch vụ trở nên đa dạng và linh hoạt hơn. Do đó, sử
dụng các sản phẩm này cũng là công cụ giúp ngân hàng gia tăng lợi nhuận và tăng cung thanh khoản khi cần. Các sản phẩm phái sinh thông dụng hiện nay
như là : Hợp đồng repo, mua bán kỳ hạn trong giao dịch kinh doanh ngoại tệ, quyền chọn trong giao dịch ngoại tệ, các hối phiếu của bộ chứng từ thanh toán
hàng xuất khẩu đã được ngân hàng nước ngoài chấp nhận...
SV: Lê Trọng Đức
10
Lớp: Ngân hàng 47B

1.2.2.2. Xác định cầu thanh khoản


a. Cầu thanh khoản phát sinh từ Tài sản Nợ
Nhu cầu rút tiền gửi của Kho bạc Nhà nước: theo quy định hiện nay,
tiền gửi Kho bạc Nhà nước được thực hiện như ở tiền gửi thanh toán, do vậy với nhu cầu rút tiền gửi của Kho bạc Nhà nước, yêu cầu một lượng thanh
khoản cao và khối lượng lớn.
Nhu cầu rút tiền gửi của các tổ chức tín dụng: tương tự tiền gửi của
Kho bạc Nhà nước, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi đến hạn của các tổ chức tín dụng có khối lượng lớn, kỳ hạn ngắn nên yêu cầu thanh khoản thường cao
và lớn.
Vay Ngân hàng Nhà nước đến hạn: Theo quy định hiện nay các khoản
vay tái cấp vốn Ngân hàng Nhà nước cho mục tiêu thanh khoản không được gia hạn, quay vòng do vậy yêu cầu thanh khoản cho khoản mục này cũng
thường ở mức cao.
Vay tổ chức tín dụng khác đến hạn: đây cũng lã khoản mục có yêu cầu
thanh khoản cao, tuy nhiên do phụ thuộc vào khả năng thanh khoản của đối tác nên nên vẫn còn khả năng quay vòng, gia hạn.
Nhận vốn cho vay đồng tài trợ đến hạn: vốn cho vay đồng tài trợ là các khoản vốn các ngân hàng đồng thời góp vốn cho ngân hàng đầu mối để cho
vay theo một dự án, chương trình nhất định, do vậy yêu cầu thanh khoản đối với khoản mục này cũng tương đối cao.
Nhu cầu rút tiền gửi không kỳ hạn của dân cư và tổ chức kinh tế: là
khoản mục có tính thay đổi cao tùy thuộc vào từng thời kỳ và khó lường trước hết được. Do đó, ngân hàng cần chú ý để bảo đảm cho nhu cầu thanh khoản
này thường xuyên. Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước tại quyết định 457QĐ-NHNN thì tỷ lệ dự trữ thanh khoản cho khoản mục này tối thiểu ở
mức 15 cho ngày làm việc tiếp theo.
SV: Lê Trọng Đức
11
Lớp: Ngân hàng 47B
Nhu cầu rút tiền gửi có kỳ hạn đến hạn, rút tiền gửi trước hạn của tổ chức kinh tế, dân cư: Theo lý thuyết thì khoản tiền gửi này sẽ bị rút khỏi
ngân hàng khi đến hạn. Nhưng thường thì ln có một tỷ lệ nhất định được quay vòng hoặc chuyển sang kỳ hạn khác. Ngân hàng cũng phải duy trì một
tỷ lệ dự trữ nhất định cho khoản mục này, để xác định tỷ lệ dự trữ khá phức tạp nên các ngân hàng thường dựa vào dữ liệu lịch sử của mình.
Vốn huy động dưới hình thức phát hành giấy tờ có giá đến hạn: vốn
từ phát hành giấy tờ có giá có yêu cầu thanh khoản tương tự tiền gửi có kỳ hạn.Ngân hàng cũng cần căn cứ số liệu lịch sử để lập kế hoạch thanh khoản
cho khoản mục này.
Các Tài sản nợ khác: các Tài sản nợ khác bao gồm các khoản phải
trả,thanh tốn…nên kế hoạch thanh khoản tương đối khó xác định. Ngân hàng thường xác định một tỷ lệ dự trữ nhất định trên tổng giá trị tài sản nợ khác tại
mỗi thời điểm. b. Cầu thanh khoản phát sinh từ Tài sản có
Dự trữ bắt buộc: nhu cầu về thanh khoản đầu tiên mà một ngân hàng
thương mại phải đáp ứng là việc phải duy trì tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo quy định của Ngân hàng nhà nước. Đó là khoản tiền mà các ngân hàng thương
mại phải duy trì tại Ngân hàng Nhà nước để thực hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ được thay
đổi trong từng thời kỳ phụ thuộc vào mục tiêu và chính sách tiền tệ.
Cam kết cho vay: Cho vay được coi là chức năng kinh tế hàng đầu của
ngân hàng thương mại, chiếm một tỷ trọng lớn trong thu nhập cũng như trong tổng tài sản ngân hàng. Ở nước ta hiện nay, tỷ trọng dư nợ cho vay trên tổng
tài sản của các Ngân hàng thương mại thường chiếm đến 60-80, do vậy nhu cầu thanh khoản đáp ứng được cam kết cho vay thường là rất lớn. Danh mục
SV: Lê Trọng Đức
12
Lớp: Ngân hàng 47B
cho vay tương đối đa dạng như : cho vay tổ chức kinh tế, cho vay các nhân, đầu tư tiền gửi và cho vay liên ngân hàng…
Các khoản cho vay được cam kết trong tương lai: đây là những khoản
đã ký hợp đồng tín dụng với khách hàng nhưng chưa đến kỳ giải ngân. Ở Việt Nam hiện nay chưa áp dụng phí cam kết phí áp dụng đối với số tiền cho vay
đã ký hợp đồng tín dụng nhưng chưa giải ngân, do vậy việc kế hoạch các khoản này tương đối khó khăn cho cơng tác quản lý thanh khoản trong khi
lượng thanh khoản là rất lớn. c. Cầu thanh khoản phát sinh từ khoản mục ngoại bảng
Hợp đồng repo đến hạn: một giao dịch repo ln kèm theo nó là cam
kết mua lại, do đó nhu cầu thanh toán để mua lại khi hợp đồng repo đến hạn cũng làm tăng cầu thanh khoản của ngân hàng.
Cam kết mua kỳ hạn trong giao dịch kinh doanh ngoại tệ: khi thực
hiện giao dịch tại thời điểm kì hạn cũng là lúc sẽ phát sinh nhu cầu thanh toán.
1.3. Phương pháp quản lý thanh khoản 1.3.1. Quản lý thanh khoản theo phương pháp truyền thống

1.3.1.1. Nội dung của phương pháp


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (63 trang)

×