1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Nội dung của phương pháp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (384.38 KB, 63 trang )


cho vay tương đối đa dạng như : cho vay tổ chức kinh tế, cho vay các nhân, đầu tư tiền gửi và cho vay liên ngân hàng…
Các khoản cho vay được cam kết trong tương lai: đây là những khoản
đã ký hợp đồng tín dụng với khách hàng nhưng chưa đến kỳ giải ngân. Ở Việt Nam hiện nay chưa áp dụng phí cam kết phí áp dụng đối với số tiền cho vay
đã ký hợp đồng tín dụng nhưng chưa giải ngân, do vậy việc kế hoạch các khoản này tương đối khó khăn cho cơng tác quản lý thanh khoản trong khi
lượng thanh khoản là rất lớn. c. Cầu thanh khoản phát sinh từ khoản mục ngoại bảng
Hợp đồng repo đến hạn: một giao dịch repo luôn kèm theo nó là cam
kết mua lại, do đó nhu cầu thanh toán để mua lại khi hợp đồng repo đến hạn cũng làm tăng cầu thanh khoản của ngân hàng.
Cam kết mua kỳ hạn trong giao dịch kinh doanh ngoại tệ: khi thực
hiện giao dịch tại thời điểm kì hạn cũng là lúc sẽ phát sinh nhu cầu thanh toán.
1.3. Phương pháp quản lý thanh khoản 1.3.1. Quản lý thanh khoản theo phương pháp truyền thống

1.3.1.1. Nội dung của phương pháp


Quản lý theo phương pháp truyền thống Quản lý theo phương pháp truyền thống hay còn gọi là Phương pháp
phân tích thanh tĩnh, là phương pháp quản lý thanh khoản bằng cách phân tích các chỉ số rút ra từ bảng tổng kết tài sản và cơ sở dữ liệu hiện tại, từ đó đưa
giới hạn cho các chỉ số đảm bảo thanh khoản. Một số chỉ tiêu quản lý thanh khoản thông dụng:
a. Chỉ số trạng thái tiền mặt: Chỉ số trạng thái tiền mặt = Vốn khả dụng Tổng Tài sản Có
SV: Lê Trọng Đức
13
Lớp: Ngân hàng 47B
Chỉ tiêu này thể hiện khả năng thanh toán nhanh của ngân hàng tại thời điểm báp cáo. Về lý thuyết, nếu chỉ số thạng thái tiền mặt càng lớn thì ngân
hàng càng có khả năng thanh khoản tức thời để xử lý các nhu cầu tiền mặt tức thời. Tuy nhiên, nếu chỉ tiêu này quá cao thì lại làm giảm lợi nhuận của ngân
hàng bởi vì đây là các tài sản khơng sinh lời hoặc hầu như không sinh lời cho ngân hàng. Điều này thể hiện công tác quản lý thanh khoản của ngân hàng
chưa có hiệu quả về chi phí cho dù có hạn chế được rủi ro thanh khoản. Theo chuẩn mực quốc tế, các ngân hàng thương mại nên duy trì chỉ tiêu này dao
động từ 2-3 là hợp lý. b. Chỉ số dự trữ thanh khoản
Chỉ số dự trữ thanh khoản = Dự trữ thanh tốnTổng Tài sản Có Chỉ tiêu này thể hiện khả năng thanh toán của ngân hàng tại thời điểm
báo cáo. Thông thường các ngân hàng không đặt ra giới hạn cho chỉ tiêu này, trên thực tế hiện nay các ngân hàng đang có xu hướng tăng đầu tư vào giấy tờ
có giá và đầu tư liên ngân hàng nhằm mục tiêu lành mạnh hóa tình hình tài chính do đây là những khoản mục sinh lợi được đánh giá là độ rủi ro thấp
hoặc khơng có rủi ro. c. Chỉ số cho vay tiền gửi
Chỉ số cho vay tiền gửi = Dư nợ cho vay khách hàng trước dự phòng rủi roTiền gửi của khách hàng
Đây là chỉ tiêu thể hiện khả năng tự huy động để sử dụng cho vay tự cấp tín dụng của ngân hàng. Dư nợ cho vay được xem là những tài sản ít thanh
khoản nhất và đem lại lợi tức cao nhất, do vậy nếu chỉ tiêu này càng lớn thì khả năng thanh khoản của ngân hàng sẽ thấp tuy nhiên lại đem lại mức lợi
nhuận cao cho ngân hàng. Theo chuẩn mực quốc tế, các ngân hàng thương mại chỉ nên duy trì chỉ tiêu này tối đa ở mức 75 để đảm bảo khả năng thanh
khoản.
SV: Lê Trọng Đức
14
Lớp: Ngân hàng 47B
d. Chỉ số tiền gửi cơ sở Chỉ số tiền gửi cơ sở = Tiền gửi cơ sở Tổng tài sản nợ
Tiền gửi cơ sở là các khoản tiền gửi có tính ổn định cao, thường là các khoản tiền gửi của dân cư và các tổ chức kinh tế, các nguồn vốn huy động
được từ việc phát hành các chứng chỉ, công cụ nợ. Nếu chỉ tiêu “tiền gửi cơ sở” càng lớn thì ngân hàng càng được coi là có khả năng thanh khoản ổn định
do huy động được các nguồn vốn ổn định. e. Chỉ số cơ cấu tiền gửi
Chỉ số cơ cấu tiền gửi = Tiền gửi không kỳ hạn Tiền gửi có kỳ hạn Nếu chỉ tiêu cơ cấu tiền gửi càng thấp thì nhu cầu về thanh khoản của
ngân hàng càng thấp và ngân hàng được coi là càng có khả năng thanh khoản và ngược lại. Tuy nhiên trong thực tiễn, các ngân hàng lại muốn có một chỉ
tiêu cơ cấu tiền gửi cao nghĩa là tiền gửi không kỳ hạn chiếm một tỷ lệ lớn nhất định so với tiền gửi có kỳ hạn để có thể có mức giá vốn huy động đầu
vào bình qn thấp nhằm giảm chi phí về vốn và nâng cao lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh.
f. Chỉ số nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn Chỉ tiêu này = Dư nợ trung, dài hạn – nguồn vốn trung, dài hạn Nguồn
vốn ngắn hạn Chỉ tiêu này thể hiện việc ngân hàng đã sử dụng bao nhiêu các nguốn
vốn ngắn hạn để tài trợ cho vay trung, dài hạn. Chỉ tiêu này càng thấp thì khả năng thanh khoản của ngân hàng càng tốt và ngược lại. Theo chuẩn mực quốc
tế, các ngân hàng thương mại nên duy trì chỉ tiêu này tối đa ở mức 20 để đảm bảo thanh khoản trong hoạt động.
g. Tỷ lệ khả năng chi trả
SV: Lê Trọng Đức
15
Lớp: Ngân hàng 47B
Tỷ lệ khả năng chi trả = Tổng Tài sản Có có thể thanh tốn ngayTổng Tài sản Nợ đến hạn thanh toán ngay.
Đây là chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh khoản của ngân hàng trong tương lai, phản ánh trạng thái thanh khoản ngắn hạn của ngân hàng bằng việc
dùng các Tài sản Có có thể thanh toán ngay để đáp ứng các nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn thanh toán. Nếu chỉ số này càng cao thì ngân hàng được xem là
có khả năng thanh khoản ngắn hạn càng cao và ngược lại. Theo chuẩn mực quốc tế, các ngân hàng nên duy trì chỉ tiêu này tối thiểu ở mức 25 tại bất kỳ
thời điểm nào để đảm bảo khả năng thanh khoản. Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước hiện nay QĐ 457QĐ-NHNN của NHNN, việc tính tốn duy
trì khả năng thanh tốn được xem xét trong vòng 7 ngày và 1 tháng tiếp theo. h. Chỉ số Chứng khoán thanh khoản
Chứng khoán thanh khoản = Số chứng khoán thanh khoảnTổng tài sản thanh khoản

1.3.1.2. Điều kiện áp dụng


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (63 trang)

×