1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Điều kiện áp dụng Điều kiện áp dụng Đánh giá ưu nhược điểm

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (384.38 KB, 63 trang )


Tỷ lệ khả năng chi trả = Tổng Tài sản Có có thể thanh tốn ngayTổng Tài sản Nợ đến hạn thanh toán ngay.
Đây là chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh khoản của ngân hàng trong tương lai, phản ánh trạng thái thanh khoản ngắn hạn của ngân hàng bằng việc
dùng các Tài sản Có có thể thanh tốn ngay để đáp ứng các nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn thanh toán. Nếu chỉ số này càng cao thì ngân hàng được xem là
có khả năng thanh khoản ngắn hạn càng cao và ngược lại. Theo chuẩn mực quốc tế, các ngân hàng nên duy trì chỉ tiêu này tối thiểu ở mức 25 tại bất kỳ
thời điểm nào để đảm bảo khả năng thanh khoản. Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước hiện nay QĐ 457QĐ-NHNN của NHNN, việc tính tốn duy
trì khả năng thanh tốn được xem xét trong vòng 7 ngày và 1 tháng tiếp theo. h. Chỉ số Chứng khoán thanh khoản
Chứng khoán thanh khoản = Số chứng khoán thanh khoảnTổng tài sản thanh khoản

1.3.1.2. Điều kiện áp dụng


Khi áp dụng phương pháp này, ngân hàng cần xây dựng các giới hạn để thực hiện phù hợp với quy mơ, tính chất hoạt động của ngân hàng và phù hợp
cả với thông lệ quốc tế. Mặt khác cũng phải tuân thủ theo một số các hạn mức mà Ngân hàng Nhà nước đề ra.

1.3.1.3. Đánh giá phương pháp


a.Ưu điểm Nhìn chung đây là phương pháp yêu cầu khả năng công nghệ cũng như
dữ liệu đầu vào tương đối đơn giản. Ngân hàng chỉ cần xây dựng các chỉ số dựa trên bảng tổng kết tài sản. Ở nước ta hiện nay Ngân hàng Nhà nước chỉ
quy định giới hạn thực hiện đối với tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn và tỷ lệ khả năng chi trả, các chỉ số còn lại ngân hàng chủ động quản
lý nên việc thực hiện tương đối dễ dàng. Một ưu điểm nữa là với khả năng và
SV: Lê Trọng Đức
16
Lớp: Ngân hàng 47B
trình độ cơng nghệ còn hạn chế của ngân hàng thương mại Việt Nam, chưa ngang tầm với khu vực và thế giới, thì sử dụng phương pháp đơn giản này là
tương đối phù hợp. Bên cạnh đó phương pháp này cũng không yêu cầu cao về công tác phân tích dự báo trong điều kiện cơng tác phân tích dự báo cín nhiều
hạn chế hiện nay ở nước ta và Ngân hàng Nhà nước cũng chưa có hệ thống cảnh báo sớm về tình hình thanh khoản.
b. Nhược điểm Với phương pháp phân tích thanh khoản tĩnh yêu cầu ngân hàng phải
duy trì một lượng cụ thể về tài sản thanh khoản tương quan với những khoản nợ tại mỗi thời điểm nhất định đảm bảo ngân hàng có đủ những tài sản dự trữ
có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền để làm tăng vốn khả dụng đáp ứng bất kỳ nhu cầu chi trả nào. Tuy nhiên thực tế hoạt động cho thấy việc tuân thủ các
yêu cầu về tỷ lệ tài sản thanh khoản không chỉ ra được tình trạng thanh khoản thực tế của ngân hàng. Danh mục kỳ hạn tài sản Có và tài sản Nợ của ngân
hàng phụ thuộc vào loại thị trường cụ thể tài trợ cho chúng và một chính sách thanh khoản hiệu quả không chỉ phụ thuộc vào “lớp đệm” do tài sản dự trữ
mà còn phụ thuộc vào phụ thuộc vào sự quản lý, theo dõi và dự báo trạng thái thanh khoản tương lai cũng như chính sách đa dạng thích hợp về nguồn tài
trợ. Việc quản lý bằng cách duy trì các tỷ lệ tài sản thanh khoản có thể dẫn đến việc ngân hàng nắm giữ một lượng quá mức tài sản thanh khoản để bù
đắp rủi ro làm giảm hiệu quả kinh doanh hoặc ngược lại nắm giũ 1 lượng tài sản thanh khoản q ít khơng đủ cho u cầu thanh khoản sẽ dẫn đến rủi ro
thanh khoản. Do vậy ta nghiên cứu tiếp phương pháp hiện đại sau:
SV: Lê Trọng Đức
17
Lớp: Ngân hàng 47B
1.3.2. Quản lý theo phương pháp hiện đại 1.3.2.1 Nội dung phương pháp
Phương pháp quản lý thanh khoản hiện đại hay còn gọi là phương pháp phân tích thanh khoản động là phương pháp đánh giá trạng thái thanh khoản
của ngân hàng bằng cách dự đoán cung, cầu thanh khoản, dự đoán chênh lệch cung cầu khe hở thanh khoản, từ đó đưa ra quyết định quản lý thanh khoản
bằng những hạn mức, giới hạn thực hiện. Theo phương pháp này, bộ phận có chức năng quản lý thanh khoản cần thực hiện các công việc sau:
a. Lập báo cáo dự tính thanh khoản Để dự tính một cách tương đối cung cầu thanh khoản theo các khoảng
thời gian trong tương lai thì theo phương pháp này, khi lập báo cáo, mọi khoản mục thuộc bảng cân đối kế toán đều phải được báo cáo bằng cách phân
bổ dữ liệu gốc luồng tiền vào, luồng tiền ra đến hạn vào các dải kỳ hạn: từ 1 ngày → 7 ngày, 8 ngày → 1 tháng, 1 tháng → 3 tháng, 3 tháng → 6 tháng.
Đối với những khoản mục khơng có kỳ hạn hoặc khơng có ngày đến hạn cần thì sử dụng các giả thiết kết hợp với phân tích dữ liệu lịch sủ để chia vào các
thang kỳ hạn thích hợp. Cụ thể như sau:
Cung thanh khoản - Tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước, tiền gửi thanh toán
tại các tổ chức tín dụng : 100 giá trị được phân bổ vào dải kỳ hạn 1 ngày. - Tiền gửi có kỳ hạn tại các tổ chức tín dụng khác : phân bổ 100 theo
kỳ hạn của nó. - Tín phiếu và trái phiếu Chính phủ : phân bổ 5 giá trị vào dài kì hạn 1
ngày, 15 giá trị vào dải kỳ hạn 2 → 7 ngày, 40 giá trị vào dải kỳ hạn 8 ngày → 1 tháng, 40 giá trị vào dải kỳ hạn 1 → 3 tháng.
SV: Lê Trọng Đức
18
Lớp: Ngân hàng 47B
- Giấy tờ có giá phân bổ 100 theo kỳ hạn. - Dự thu lãi và các khoản phải thu khác : phân bổ 50 giá trị vào dải kỳ
hạn 3 → 6 tháng. 50 giá trị còn lại của khoản mục này được coi như có kỳ hạn 6 tháng và khơng đưa vào báo cáo cung cầu thanh khoản.
- Góp vốn liên doanh cổ phần, tài sản cố định, dự phòng rủi ro được coi như có kỳ hạn 6 tháng và không đưa vào báo cáo cung cầu thanh khoản.
- Huy động vốn mới kể cả phát hành giấy tờ có giá: dự đốn doanh số huy động vốn mới tương ứng với các dải kỳ hạn trường hợp khơng có biến
động bất thường có thể sử dụng số liệu lịch sử phát sinh của các năm trước tương ứng với các dải kỳ hạn.
- Các khoản mục ngoại bảng : giữ nguyên số dư gốc. Cầu thanh khoản
- Tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức, cá nhân, Kho bạc Nhà nước và các tổ chức tín dụng khác: căn cứ vào phân tích số liệu lịch sử và thơng tin cập
nhật từ phía khách hàng, bộ phận phân tích thanh khoản xác định lượng tiền ổn định và lượng tiền không ổn định của tiền gửi không kỳ hạn. Lượng tiền
ổn định được coi như không bị rút khỏi ngân hàng hoặc có kỳ đến hạn 6 tháng nên không đưa vào báo cáo cung cầu thanh khoản. Lượng tiền gửi
không ổn định được phân bổ 20 vào dải kỳ hạn 1 ngày, 30 vào dải kỳ hạn 2 → 7 ngày, 50 vào dải kỳ hạn 8 ngày đến 1 tháng.
- Tiền gửi có kỳ hạn của tổ chức và cá nhân, giấy tờ có giá đến hạn: căn cứ vào số liệu lịch sử để xác định khả năng tỷ lệ tiền gửi rút trước hạn và
được phân bổ vào dải kỳ hạn 1 ngày; số dư tiền gửi còn lại được giữ nguyên dữ liệu gốc.
- Tiền gửi kỳ hạn, vay các tổ chức tín dụng khác, vay Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính: giữ nguyên dữ liệu gốc.
SV: Lê Trọng Đức
19
Lớp: Ngân hàng 47B
- Dự chi lãi và các khoản phải trả khác: phân bổ 50 giá trị vào dải kỳ hạn 3 tháng → 6 tháng, 50 giá trị của khoản mục này được coi như có kỳ
đến hạn 6 tháng và không đưa vào báo cáo cung cầu thanh khoản. - Vốn chủ sở hữu được coi như có kỳ đến hạn 6 tháng và khơng đưa
vào báo cáo cung cầu thanh khoản. - Cho vay mới khách hàng: thu thập dữ liệu về lịch giải ngân các dự án,
dự kiến các khoản cho vay mới phát sinh trong tương lai. - Các khoản mục ngoại bảng ; giữ ngun số liệu gốc.
b. Phân tích mơ phỏng thanh khoản Thiết lập các kịch bản trong tương lai dựa trên các giả định với xác suất
xảy ra tối thiểu 5. Các giả định nêu ra bao gồm: - Giả định thay đổi lãi suất
- Giả định thay đổi môi trường kinh tế vĩ mô lạm phát, tăng trưởng, chu kỳ kinh tế… và môi trường vi mô cạnh tranh của tổ chức tín dụng khác, uy
tín ngân hàng… - Với mỗi kịch bản, cần dự báo các yếu tố sau:
• Kế hoạch cho vay mới • Khả năng huy động tiền gửi mới từ các tổ chức, cá nhân
• Khả năng từ huy động vốn mới từ phát hành giấy tờ có giá • Khả năng vay cầm cố, chiết khấu của Ngân hàng nhà nước
• Khả năng huy động thêm tiền gửi, vay các Tổ chức tín dụng khác • Khả năng thực hiện hợp đồng repo bán chứng khốn cam kết mua lại
• Khả năng chuyển các tài sản khác thành tiền mặt tài sản cố định, vốn liên doanh, cổ phần,…
c. Phân tích khả năng thanh toán
SV: Lê Trọng Đức
20
Lớp: Ngân hàng 47B
Việc phân tích khả năng thanh tốn được thực hiện với giả thiết hoạt động kinh doanh của ngân hàng là bình thường. Trên thực tế, khó có thể xảy
ra trường hợp tất cả các khách hàng đều đến ngân hàng rút hết tiền trong cùng 01 ngày. Với hoạt động kinh doanh bình thường ngân hàng sẽ ước tính được
lượng tiền gửi vào hoặc rút ra. Chúng ta có thể thấy thành phần tiền gửi của khách hàng luôn luôn thay đổi, theo tình hình thị trường khách hàng có thể
chuyển từ tiền gửi sang danh mục khác, từ kỳ hạn này sang kỳ hạn khác và trong ngắn hạn, sự thay đổi chỉ ảnh hưởng chủ yếu đến phần vốn không ổn
định. Nhà quản lý ngân hàng sẽ cần phải nắm vững và giám sát hành vi của
các nhóm đối tượng khách hàng theo từng loại sản phẩm và ngày đáo hạn, xây dựng các kịch bản tác động đến luồng tiền vào, luồn tiền ra để từ đó xác
định trạng thái thanh khoản để dự đoán thanh khoản trong thời gian tới dư thừa hay thiếu hụt.
d. Đánh giá rủi ro thanh khoản Mục đích của việc phân tích rủi ro thanh khoản là nhằm đánh giá tình
trạng ngân hàng sẽ ra sao nêu tình huống xấu nhất có thể xảy ra mà cụ thể tình huống được đề cập ở đây là khủng hoảng thanh khoản xảy ra tại ngân
hàng, từ đó đánh giá khả năng chống đỡ của ngân hàng trước những tình huống xấu. Cụ thể ngân hàng sẽ phải tiến hành đánh giá trên các mặt sau:
- Khả năng huy động vốn của ngân hàng trên thị trường liên ngân hàng - Yếu tố thời gian : ngân hàng có thể huy động hoặc cho vay bao nhiêu
trong khoảng thời gian nhất định - Thời gian cần phải có để ngân hàng có thể bán một số tài sản nhất định
- Ngân hàng có thể bán các tài sản tại mức giá nào - Khủng hoảng xảy ra là có tính hệ thống hay chỉ cục bộ trong ngân hàng
SV: Lê Trọng Đức
21
Lớp: Ngân hàng 47B
- Khả năng ngân hàng có thể tiếp tục cung cấp các dịch vụ cho khách hàng một cách bình thường hay khơng
- Khả năng tạo vốn thanh khoản từ các công cụ phái sinh và các hoạt động ngoại bảng

1.3.2.2. Điều kiện áp dụng


Để áp dụng được phương pháp này yêu cầu ngân hàng phải có kho dữ liệu tập trung với cơ sở dữ liệu đủ mạnh phục vụ cho cơng tác lập báo cáo,
phân tích, dự báo. Như vậy yêu cầu ngân hàng phải có một nền tảng cơ sở vật chất cũng như trình độ công nghệ phát triển ở mức tương đối cao.
Bên cạnh đó với phương pháp này đối tượng là trạng thái thanh khoản trong tương lai với nhiều yếu tố khách quan tác động nên yêu cầu khả năng
phân tích, dự báo tương đối chính xác và phức tạp, do vậy yêu cầu về trình độ cán bộ tác nghiệp cũng là tương đối cao trong khi đây là hạn chế phổ biến ở
các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay.

1.3.2.3. Đánh giá ưu nhược điểm


a. Ưu điểm Ngược lại với phương pháp phân tích thanh khoản tĩnh, phương pháp
phân tích thanh khoản động qua phân tích trạng thái thanh khoản là phương pháp mang lại hiệu quả cao và ngày càng phù hợp với xu hướng phát triển của
hoạt động ngân hàng cũng như tính hính biến động của thị trường. Với phương pháp này ngân hàng sẽ thực hiện tốt hơn mục tiêu của quản lý thanh
khoản là an toàn và hiệu quả trong hoạt động. b. Nhược điểm
Như đã đề cập ở trên, yêu cầu của phương pháp thanh khoản động là tương đối cao về cơ sở vật chất, công nghệ cũng như nguồn nhân lực trong
khi đây đang là hạn chế của hệ thống ngân hàng thương mại nước ta, do vậy việc áp dụng tương đối khó và yêu cầu phải có sự đầu tư lớn.
SV: Lê Trọng Đức
22
Lớp: Ngân hàng 47B

1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thanh khoản


Các quyết định thanh khoản có thể phát sinh từ phía Tài sản Có hoặc Tài sản Nợ hoặc Tài sản ngoại bảng để đáp ứng cung thanh khoản hoặc cầu thanh
khoản phát sinh. Mặt khác, thanh khoản bao gồm hai mục tiêu là an toàn và hiệu quả trong khi hai mục tiêu này lại mâu thuẫn nhau, nghĩa là khi ngân
hàng theo đuổi mục tiêu an tồn thì sẽ phải làm giảm hiệu quả và ngược lại. Để đáp ứng các nhu cầu thanh khoản, ngân hàng sẽ phải lựa chọn rất nhiều
loại trong số các nguồn cung thanh khoản từ các Tài sản Có, tài sản Nợ, hay từ những nguồn thanh khoản phái sinh khác nhau để đáp ứng mục tiêu kinh
doanh. Và việc ra quyết định này sẽ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố sau:

1.4.1. Nguyên nhân phát sinh nhu cầu thanh khoản


Với một nhu cầu thanh khoản phát sinh nhất định tại thời điểm ngân hàng sẽ phải lựa chọn giữa các khả năng hiện có để có quyết định lựa chọn.
Nguyên nhân của nhu cầu thanh khoản nếu phát sinh do tính thời vụ thì ngân hàng sẽ dựa vào số liệu lịch sử trong quá khứ để dự đốn trước được và sau
đó lựa chọn nguồn cung thanh khoản hợp lý và mang lại hiểu quả cao nhất cho ngân hàng. Cầu thanh khoản phát sinh từ việc nhiều người liên tục rút
tiền và cầu thanh khoản phát sinh từ việc ngân hàng mở rộng cho vay và người đi vay gia tăng được ngân hàng xử lý theo cách khác nhau bằng việc
lựa chọn nguồn cung thanh khoản khác nhau.

1.4.2. Kỳ hạn của nhu cầu thanh khoản


Kỳ hạn này cũng là yếu tố quan trọng tác động đến quyết định thanh khoản. Khi thiếu hụt thanh khoản ngắn hạn thì ngân hàng có xu hướng sử
dụng các nguồn vay trên thị trường tiền tệ hoặc bán một số tài sản thanh khoản. Ngược lại nếu phải đối mặt với thiếu hụt thanh khoản trong dài hạn thì
ngân hàng thường có xu hướng tăng cường nguồn vốn huy động hơn là vay nóng. Tương tự khi dư thừa thanh khoản trong ngắn hạn thì ngân hàng sẽ đầu
tư vào các tài sản thanh khoản ngắn hạn hoặc cho các định chế tài chính khác SV: Lê Trọng Đức
23
Lớp: Ngân hàng 47B

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (63 trang)

×