1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

LẠM PHÁT ĐƯỢC TÍNH NHƯ THẾ NÀO? ĐO LƯỜNG LẠM PHÁT HẬU QUẢ CỦA LẠM PHÁT Ai là nạn nhân của lạm phát?

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (579.18 KB, 50 trang )


ngờ cua lạm phát và do vậy tác dụng đieu chỉnh của thuế bị hạn chế ngay cả trong trường hợp nhà nước có thể “chỉ số hố” luật thuế thích hợp mức lạm
phát thì tác dụng điều chỉnh của thuế cũng bị hạn chế.
Thứ hai, phân phối lại thu nhập làm cho một số người nắm giữ các hàng
hoá có giá cả tăng đột biến giầu lên một cách nhanh chóng và những người có các hàng hố mà giá của chúng không tăng hoặc tăng chậm, và những
người giữ tiền bị nghèo đi.
Thứ ba, kích thích tâm lý đầu cơ tích trữ hàng hố, bất động sản và vàng
bạc... gây ra tình trạng khan hiếm hàng hố khơng bình thường và lãng phí.
Thứ tư, xun tạc, bóp méo các yếu tố của thi trường, làm cho các điều
kiện của thị trường bị biến dạng hầu hết các thông tin kinh tế đều thể hiện trên giá cả hàng hoá, giá cả tiền tệ lãi suất, giá cả lao động... một khi
những giá cả này tăng hay giảm đột biến và liên tục thì những yếu tố của thị trường khơng thể tránh khỏi bị thổi phồng hoặc bóp méo.
Do những tác hại nêu trên, loại lạm phát không cân bằng và khơng dự đốn trước về cơ bản là có hại cho hoạt động của thị trường.
III. LẠM PHÁT ĐƯỢC TÍNH NHƯ THẾ NÀO? ĐO LƯỜNG LẠM PHÁT
Lạm phát được đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi trong giá cả của một lượng lớn các hàng hóa và dịch vụ trong một nền kinh tế thông thường
dựa trên dữ liệu được thu thập bởi các tổ chức Nhà nước, mặc dù các liên đoàn lao động và các tạp chí kinh doanh cũng làm việc này. Các giá cả của
các loại hàng hóa và dịch vụ được tổ hợp với nhau để đưa ra một chỉ số giá cả để đo mức giá cả trung bình, là mức giá trung bình của một tập hợp các
sản phẩm. Tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ phần trăm mức tăng của chỉ số này. Không tồn tại một phép đo chính xác duy nhất chỉ số lạm phát, vì giá trị
của chỉ số này phụ thuộc vào tỷ trọng mà người ta gán cho mỗi hàng hóa
12
trong chỉ số, cũng như phụ thuộc vào phạm vi khu vực kinh tế mà nó được thực hiện.Các phép đo phổ biến của chỉ số lạm phát bao gồm:
- Chỉ số giá tiêu dùng consumer price index - CPI: đo giá cả của một số lượng lớn các loại hàng hoá và dịch vụ khác nhau, bao gồm thực phẩm,
lương thực, chi trả cho các dịch vụ y tế..., được mua bởi người tiêu dùng thông thường.
- Chỉ số giá sinh hoạt CLI: là sự tăng trưởng trên lý thuyết trong giá cả sinh hoạt của một cá nhân, trong đó các chỉ số giá tiêu dùng được giả định
một cách xấp xỉ. - Chỉ số giá sản xuất PPI: đo mức giá mà các nhà sản xuất nhận được.
- Chỉ số giá bán buôn đo sự thay đổi trong giá cả của một sự lựa chọn các hàng hóa bán bn.
- Chỉ số giá hàng hóa đo sự thay đổi trong giá cả của một sự lựa chọn các hàng hóa.
- Chỉ số giảm phát GDP dự trên việc tình tốn của tổng sản phẩm quốc nội.
- Chỉ số giá tiêu dùng cá nhân PCEPI
IV. HẬU QUẢ CỦA LẠM PHÁT Ai là nạn nhân của lạm phát?
Khi lạm phát xảy ra thì hầu hết mọi thành phần của nền kinh tế đều trở thành nạn nhân của lạm phát, bởi nhìn một cách tổng thể thì mỗi người đều
là người tiêu dùng. Tuy nhiên, 3 thành phần chịu nhiều thiệt thòi nhất là: - Người về hưu: Lương hưu là một trong những “hàng hoá” ổn định nhất
về giá cả, thường chỉ được điều chỉnh tăng lên đôi chút sau khi giá cả hàng hoá đã tăng lên gấp nhiều lần.
- Những người gửi tiền tiết kiệm: Hẳn nhiên sự mất giá của đồng tiền khiến cho những người tích trữ tiền mặt nói chung và những người gửi tiền
tiết kiệm đánh mất của cải nhanh nhất. 13
- Những người cho vay nợ: Khoản nợ trước đây có thể mua được một món hàng nhất định thì nay chỉ có thể mua được những món hàng có giá trị
thấp hơn. Vậy ai là người được hưởng lợi? Có lẽ khi đồng tiền mất giá dần thì người sung sướng nhất chính là những con nợ vì nay khoản nợ họ phải
trả có vẻ nhẹ gánh hơn. - Những người thuộc diện nghèo trong xã hội thu nhập dưới
1USDngày: đây là những người chịu hậu quả nặng nề nhất của lạm phát khi số tiền ít ỏi của họ giờ đây không đủ cho 1 bữa ăn gia đình.
Tuy nhiên, lạm phát ở mức độ vừa phải cũng có cái lợi, đó là nó góp phần phân phối lại thu nhập trong xã hội, giữa những người thừa tiền và
những người có hàng hố cần thanh lý. Sau khi lạm phát kết thúc thì tiền sẽ phân phối đều hơn, ít trường hợp người này wá nhiều tiền còn người kia quá
nhiều hàng nhưng lại thiếu vốn. Ngoại trừ trường hợp lạm phát nhỏ, lạm phát vừa phải 1 con số có tác
động tích cực đến nền kinh tế còn lại nói chung lạm phát đều gây ảnh hưởng xấu đến quá trình phát triển của nền kinh tế xã hội.
Hậu quả của lạm phát tập trung lại ở những mặt sau: Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh: trong điều kiện lạm phát ở mức độ
cao, giá cả hàng hóa tăng liên tục, điều này làm cho sản xuất gặp khó khăn. Quy mô sản xuất không tăng hoặc giảm sút do nhu cầu phải bổ sung vốn đầu
tư liên tục. Cơ cấu nền kinh tế dễ bị mất cân đối vì sẽ có xu hướng phát triển những ngành sản xuất có chu kỳ ngắn, thời gian thu hồi vốn nhanh, còn
những ngành sản xuất có chu kỳ dài, thời gian thu hồi vốn chậm sẽ có xu hướng bị đình đốn, phá sản. Vì vậy, trong điều kiện có lạm phát, lĩnh vực
thương nghiệp thường phát triển mạnh. Bên cạnh đó việc đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh không còn chính xác vì thước đo của đồng tiền bị thu
hẹp, công tác hạch toán chỉ còn là hình thức. Trong lĩnh vực thương mại: người ta từ chối tiền giấy trong vai trò là
trung gian trao đổi đồng thời chuyển sang đầu cơ tích trữ vàng, hàng hóa đẩy 14
khỏi tay mình những đồng tiền mất giá. Điều này càng làm cho lưu thông tiền tệ bị rối loạn. Lạm phát xảy ra là môi trường tốt để những hiện tượng
tiêu cực trong đời sống phát sinh như đầu cơ, tích trữ gây cung – cầu hàng hóa giả tạo…
Trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng: tín dụng cũng rơi vào khủng hoảng khi người dân không an tâm đầu tư trong điều kiện lạm phát gia tăng. Lạm phát
làm sức mua của đồng tiền bị giảm, lưu thông của tiền tệ diễn biến khác thường, tốc độ lưu thông của thị trường tăng lên một cách đột biến hoạt động
của hệ thống tín dụng rơi vào tình trạng khủng hoảng do nguồn tiền gửi trong xã hội bị sụt giảm nhanh chóng nhiều ngân hàng bị phá sản do mất khả
năng thanh toán và thua lỗ trong kinh doanh dẫn đến hệ thống tiền tệ bị rối loạn không thể kiểm soát nổi.
Trong lĩnh vực tài chính nhà nước: tuy lúc đầu lạm phát mang lại thu nhập cho ngân sách nhà nước qua cơ chế phân phối lại sản phẩm và thu nhập của
quốc dân nhưng do ảnh hưởng nặng nề của lạm phát mà những nguồn thu của ngân sách nhà nước chủ yếu là thuế ngày càng sụt giảm do sản xuất bị
sút kém, do nhiều công ty, xí nghiệp bị phá sản, giải thể… Trong lĩnh vực đời sống xã hội: đại bộ phận tầng lớp dân cư sẽ rất khó
khăn và chật vật do phải chịu áp lực từ sự gia tăng của giá cả. Giá trị thực tế của tiền lương giảm sút nghiêm trọng làm cho trật tự an toàn xã hội bị phá
hoại nặng nề. Như vậy, lạm phát đã ảnh hưởng đến mọi mặt trong đời sống kinh tế xã
hội và nhà nước phải cân bằng được giữa nhu cầu khuyến khích tăng trưởng kinh tế và sự đòi hỏi phải kiểm soát được lạm phát.

V. TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT ĐẾN NỀN KINH TẾ - Các hiệu ứng tích cực :


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (50 trang)

×