1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Chống lạm phát bằng cách giảm cầu: Có thể giảm cầu bằng các chính

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (579.18 KB, 50 trang )


Khi tỉ lệ lạm phát đạt ở mức phi mã 125,000năm và đạt mức kỷ lục 231 triệu phần trăm vào tháng 7 năm 2008 so với tháng 7 năm 2007
Đồng tiền ngày một mất giá, khiến người dân rơi vào cảnh tỉ phú đói nghèo.

CHƯƠNG V: GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT


Dù lạm phát là do nguyên nhân nào gây ra thì nguyên tắc hành động chung để chống lạm phát vẫn là giảm lượng cung tiền. Chính phủ có thể
kiềm chế lạm phát bằng các cơng cụ quản lí kinh tế vĩ mơ. Dưới đây, các phương pháp chống lạm phát sẽ được trình bày theo từng nguyên nhân
tương ứng đã nêu ở trên.

1. Chống lạm phát bằng cách giảm cầu: Có thể giảm cầu bằng các chính


sách tài khố thu hẹp, chính sách tiền tệ thu hẹp và chính sách thu nhập.

a. Chính sách tài khố thu hẹp: gồm giảm tiêu dùng chính phủ hoặc tăng


thuế trực thu. - Nếu áp dụng cách giảm tiêu dùng của Chính phủ thì sẽ trực tiếp ảnh
hưởng đến tổng cầu về hàng hoá và dịch vụ.
45
- Nếu áp dụng cách tăng thuế trực thu thì sẽ làm giảm thu nhập khả dụng, gián tiếp làm giảm tiêu dùng và kết quả là giảm tổng cầu.
Ở Việt Nam, hiện nay, Chính phủ đang áp dụng chính sách giảm tiêu dùng của Chính phủ thông qua việc thắt chặt nguồn vốn đầu tư, nhằm đảm
bảo chỉ đầu tư vào những dự án mũi nhọn chắc chắn đem lại hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, biện pháp này còn chưa phát huy tác dụng cụ thể vì cơng tác
xây dựng, kiểm định và thực hiện các dự án đầu tư còn kém, xảy ra nhiều tiêu cực gây thất thốt lớn.
Còn về chính sách tăng thuế, Chính phủ Việt Nam khơng áp dụng vì sẽ gây ảnh hưởng lớn đến đời sống nhân dân trong tình hình giá cả leo thang.
Ngược lại, Chính phủ lại liên tục tăng lương tối thiểu để tăng thu nhập danh nghĩa cho dân chúng, đây là một hình thức bù đắp lại lượng thu nhập đã mất
đi do sự trượt giá của đồng tiền. Tuy nhiên, hạn chế của nó là càng làm tăng lượng cung tiền trong nền kinh tế, thúc đẩy lạm phát tăng cao hơn.

b. Chính sách tiền tệ thu hẹp:


Thực hiện các biện pháp nhằm giảm lượng cung tiền như: bán các loại giấy tờ có giá, tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc, tăng tỉ suất chiết khấu.
Khi Chính phủ bán các loại giấy tờ có giá như trái phiếu Chính phủ thì một lượng tiền trên thị trường được rút về, làm giảm lượng cung tiền, qua đó
làm giảm tiêu dùng và đầu tư, hạn chế lạm phát. Khi ngân hàng trung ương tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc hoặc tăng tỉ suất
chiết khấu sẽ lảm giảm lượng cung tiền trong các ngân hàng trung gian, từ đó làm giảm đầu tư và hạn chế lạm phát.
Hiện nay, ở Việt Nam đang áp dụng các biện pháp trên nhằm kiềm chế lạm phát, tuy nhiên, tác dụng thực tế của các chính sách này còn chưa rõ rệt.
Ngân hàng trung ương cũng đã thực hiện biện pháp tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc và tăng lãi suất tiền gửi tiết kiệm để thu hồi một phần tiền đang lưu
thông. Tuy nhiên, nếu áp dụng các chính sách này một cách cứng nhắc có
46
thể làm ảnh hưởng xấu đến sản xuất và xuất khẩu, có thể làm giảm đáng kể tốc độ tăng trưởng.

c. Chính sách thu nhập:


Là một chính sách kiểm soát kinh tế bằng các phương pháp kiểm soát độc đoán đối với lương và giá để kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên, do các biện
pháp này không phù hợp với nền kinh tế thị trường nên ngày nay Chính phủ các nước rất ít khi sử dụng biện pháp này.
Ở Việt Nam, vào những năm giữa thập kỉ 80 của thế kỉ XX đã từng phải gánh chịu một bài học đau đớn khi áp dụng chính sách thu nhập. Đó là việc
Chính phủ áp dụng chính sách giá-lương-tiền một cách duy ý chí, phi khoa học đã làm nền kinh tế thêm trì trệ và tỉ lệ lạm phát tăng lên chóng mặt từ
hai con số lên đến trên 700, gây một cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng. Ngày nay, chính sách này khơng còn được sử dụng để chống lạm phát
ở nước ta nữa.

2. Chống lạm phát bằng cách tác động lên cung:


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (50 trang)

×