1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Thực trạng hoạt động tại một số nớc trên thế giới

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (181.68 KB, 32 trang )


điều hành CSTT . Nhng phải vận dụng nó một cách thận trọng và phải kết hợp với các phơng pháp khác.
Nh vậy so với các công cụ khác thì NVTTM có u thế hơn hẳn. Nhờ các u điểm của nó mà tới nay hầu hết các NHTW đều đề cao NVTTM nh một công
cụ đầu bảng trong hệ thống các công cụ điều hành CSTT .

6. Thực trạng hoạt động tại một số nớc trên thế giới


ở Anh , NVTTM đã đợc sử dụng từ rất lâu và đã trở thành một công cụ linh hoạt của CSTT của NHTW Anh. ở đây, các loại hàng hoá giao dịch
trên thị trờng không bị giới hạn về thời gian và các chủ thể tham gia cũng không phân biệt là cá nhân hay là tổ chức. Các loại trái phiếu dài hạn của
chính phủ có đảm bảo và các tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu thơng mại đợc giao dịch.ở Anh các giao dịch về trái phiếu dài hạn đợc coi là quan trọng
hơn trong việc kiểm soát tín dụng, NHTW có thể giảm phát hành tín phiếu kho bạc và tăng phát hành các tín phiếu trung và dài hạn.các tín
phiếu có thời hạn dài hơn có khả năng đợc các cá nhân hay các tổ chức ngoài hệ thống tài chính mua hơn là trái phiếu kho bạc loại này phần
lớn nằm trong các ngân hàng và TCTD vì đây đợc coi nh là một khoản dự trữ để đảm bảo khả năng thanh toán cho ngân hàng và các TCTD. VIệc
tăng cờng phát hành trái phiếu dài hạn và hạn chế tín phiếu kho bạc có tác động kép.
Trớc hết, ngời mua trái phiếu là các tổ chức phi ngân hàng và các cá nhân làm giảm lợng tiền gửi của các TCTD . Khiến cho các TCTD phải
giảm việc cho vay. Thứ hai Tín phiếu kho bạc trở nên khan hiếm , dự trữ của các TCTD giảm, từ đó cũng làm giảm khả năng cho vay và làm giảm
lợng tiền cung ứng.
ởMỹ, hoạtđộng mua bán chứng khoán hầu hết là chứng khoán nợ của chính phủtrái phiếu, tín phiếu nhằm mục đích điều chỉnh mức lãi
suất và mức dự trữ trong ngân hàng theo hớng mong muốn. Vì Mỹ có thị trờng tài chính phát triển, thị trờng đối với chứng khoán chính phủ thoả
mãn các điều kiện đòi hỏi của NVTTM nên doanh số giao dịch bình quân một ngày rất lớn 100 ngày. đây là khối lợng giao dịch ở mức rộng và
mạnh nhất trên thị trờng tài chính nớc Mỹ. Nó có thể đảm đơng một khối lợng giao dịch rất lớn với tất cả các ngân hàng, doanh nghiệp, cá nhân và
các nhà môi giới bằng điện thoại và các dịch vụ mạng cáp kết nối giữa
các giao dịch viên các khách hàng trên toàn nớc Mỹ. Các giao dịch mua,
bán chứng khoán diễn ra hàng ngày thông qua phòng giao dịch đặt tại ngân hàng dự trữ liên bang Newyork.
Vì NHTW bán chứng khoán có xu hớng giảm tốc độ tăng trởng của tiền gửi và tín dụng ngân hàng. Vì khi bán chứng khoán chính phủ cho
ngời kinh doanh, giá trị tài khoản tiền gửi dự trữ tại ngân hàng liên bang khu vực của ngân hàng nơi ngời giao dịch đặt tài khoản sẽ giảm. theo đó
khả năng thực hiện cho vay và các hình thức tín dụng khác của ngân hàng sẽ giảm và ngợc lại.
Ngày nay, Fed đặt mục tiêu gắn l·i st q liªn bang víi l·i st cho vay dự trữ qua đêm giữa các ngân hàng. Nếu Fed muốn tăng lãi suất
quỹ liên bang nhằm hạn chế cho vay và chi tiêu, nó thờng bán chứng khoán trên TTM , giảm dự trữ mà ngân hàng có thể sử dụng để cho vay,
buộc ngân hàng phải vay thêm dự trữ. Điều này, có xu hớng nâng cao lãi suất trên thị trờng , hạn chế các quan
hệ kinh tế. Mặt khác nếu NHTW muốn hạ thấp lãi suất nhằm khuyến khích cho vay và chi tiêu trong nền kinh tế, nó sẽ mua chứng khoán trên TTM mở rộng dự
trữ của các ngân hàng, mở rộng khả năng cho vay mới, làm giảm áp lực vay thêm dự trữ trên thị trờng vốn liên bang. Điều này có xu hớng hạ thấp lãi suất,
đẩy nhanh các quá trình kinh tÕ.
PhÇn 2: thùc trạng hoạt động thị trêng më ë ViÖt Nam hiện nay

1. Sự cần thiết phải ra đời hoạt ®éng TTM ë ViÖt Nam


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (32 trang)

×