1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Đánh giá việc quản lý và sử dụng lao động của Xí nghiệp Những thuận lợi: Những khó khăn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (315.1 KB, 60 trang )


SVTH: Phạm Thanh Lâm GVHD: Ths. Lê Đình Thái
- Khen thưởng do tăng năng suất lao động, sáng tạo ra phương thức làm việc hiệu quả;
- Khen thưởng cho cá nhân, tập thể đạt thành tích xuất sắc trong vấn đề cải tiến phương pháp quản lý;
- Vào các ngày tết âm lịch hàng năm, Xí nghiệp có thưởng 1 tháng lương cho tất cả CBCNV.
Thời gian làm việc và nghỉ ngơi
Thời gian làm việc của tất cả CBCNV trong Xí nghiệp thực hiện theo đúng quy định hiện hành của Nhà nước. 8 giờngày, 40 tiếngtuần, sáng từ 7h30’ - 12h00’,
chiều từ 13h00’ - 16h30’. Thời gian nghỉ ngơi tại Xí nghiệp cũng được áp dụng theo quy định của Nhà
nước. Ngoài 8 ngày lễ tết trong năm, toàn thể CNV trong Xí nghiệp được nghỉ thêm 12 ngày phép sau khi đã làm đủ 12 tháng trong điều kiện làm việc bình thường.
Nghỉ cá nhân, kết hơn, con kết hơn, gia đình có tang đều được nghỉ theo quy định của Nhà nước.
Như vậy, Xí nghiệp đã thực hiện đầy đủ quy định của Nhà nước về thời gian làm việc và nghỉ ngơi cho CBCNV.
Chế độ bảo hiểm, chính sách xã hội
Xí nghiệp thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động theo đúng quy định hiện hành của Nhà nước.

3.5. Đánh giá việc quản lý và sử dụng lao động của Xí nghiệp


Qua thời gian khảo sát thực tế, kết hợp với q trình phân tích tình hình nhân sự tại Xí nghiệp, tơi thấy Xí nghiệp đã biết áp dụng nhiều biện pháp quản lý mang lại
những kết quả đáng kể. Việc tuyển dụng và đào tạo, khuyến khích người lao động đã được Xí nghiệp quan tâm làm cho hiệu quả sử dụng nhân sự ở Xí nghiệp tăng lên.
Song bên cạnh những điểm đã đạt được, vẫn còn tồn tại một số ít mặt hạn chế, tôi xin mạnh dạn đánh giá như sau:
Trang 46
SVTH: Phạm Thanh Lâm GVHD: Ths. Lê Đình Thái

a. Những thuận lợi:


Xí nghiệp đạt được kết quả trên là nhờ sự cố gắng của toàn bộ ban lãnh đạo cũng như đội ngũ cán bộ nhân viên của Xí nghiệp đã làm việc hết mình để phục vụ
lợi ích của Xí nghiệp cũng như lợi ích của chính mình. Cơ cấu tổ chức một số năm gần đây đã thay đổi đáng kể và dần dần hoàn thiện
hơn nhằm phù hợp hơn với nền kinh tế thị trường cùng với sự phát triển của đất nước. Hiện nay Xí nghiệp đã tạo cho mình thế đứng trên thị trường và là một trong
những Xí nghiệp đạt doanh thu và thu nhập bình quân đầu người cao nhất. Bộ máy lãnh đạo và các phòng ban trong Xí nghiệp ngày càng phát huy tốt chức năng nhiệm
vụ, ý thức kỷ luật và trách nhiệm luôn luôn được đánh giá tốt. Xí nghiệp đã phát huy được sự hợp tác giữa các cá nhân trong công việc, giữa cấp dưới với cấp trên, qua đó
chất lượng cơng việc ngày càng cao. Ban lãnh đạo có chủ trương, đường lối điều hành Xí nghiệp một cách hợp lý,
thúc đẩy nhân viên nhiệt tình trong cơng việc của mình để thu lợi nhuận cao nhất cho Xí nghiệp.
Cán bộ cơng nhân viên trong Xí nghiệp đều một lòng vì sự phát triển của Xí nghiệp, quyết tâm ký kết được những hợp đồng lớn cho Xí nghiệp nhằm thu lợi
nhuận. Các hợp đồng lớn mà Xí nghiệp ký kết đều được sự đơn đốc của ban lãnh đạo.

b. Những khó khăn


Bên cạnh những kết quả đạt được trong thời gian qua, Xí nghiệp cũng khơng thể tránh khỏi những thiếu sót, khiếm khuyết trong công tác quản lý công việc, thể
hiện ở mặt sau đây: - Những hợp đồng ký kết trước đây thường là nhỏ, lợi nhuận không cao do chưa
có nhiều kinh nghiệm trong kinh doanh. - Mối quan hệ giữa các đơn vị cũng như các phòng ban chức năng còn chưa
chặt chẽ.
Trang 47
SVTH: Phạm Thanh Lâm GVHD: Ths. Lê Đình Thái
- Còn một số cán bộ cơng nhân viên có trình độ chun mơn còn non kém, chất lượng làm việc chưa đáp ứng được nhu cầu hiện tại của Xí nghiệp, ý thức trách
nhiệm trong cơng việc chưa cao. - Cơng tác khuyến khích vật chất chưa có tác dụng kích thích mạnh mẽ.
Đi sâu vào phân tích cơng tác quản lý nhân sự trong Xí nghiệp, ta thấy: - Chưa coi trọng việc phân tích cơng việc, khơng có cán bộ chun trách đảm
nhận, không được tiến hành một cách khoa học. - Việc nghiên cứu, phân tích cơng việc chỉ dừng lại ở việc nhìn nhận khách
quan bên ngồi và ý kiến chủ quan của người phân tích. - Trong cơng tác tuyển dụng lao động, Xí nghiệp vẫn chưa thực hiện đầy đủ các
bước mà cơng tác tuyển dụng cần có. Điều này làm cho chất lượng tuyển chọn chưa cao.
- Đào tạo CBCNV là cần thiết trong thời buổi hiện nay nhưng Xí nghiệp thực hiện chưa tốt thể hiện qua việc chi phí bỏ ra để đào tạo nhân viên chưa phát huy hiệu
quả cao. Nhân viên chỉ tăng thêm trình độ và kinh nghiệm hiểu biết qua cơng việc, qua thời gian làm việc chứ không được đào tạo một cách cơ bản.
Trang 48

CHƯƠNG IV MỘT SỐ GIẢI PHÁP HỒN THIỆN QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TẠI XÍ


NGHIỆP XÂY DỰNG CƠNG TRÌNH 4.1. Các giải pháp

4.1.1. Hồn thiện cơng tác hoạch định nguồn nhân lực:


Trong những năm gần đây, với sự phát triển ổn định của nền kinh tế, các ngành nghề cũng có những bước tiến đáng kể, quy mô và ngành nghề sản xuất cũng tăng lên, cùng
với nó là sự gia tăng của lực lượng lao động. Mặc dù số lượng lao động của Xí nghiệp có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây nhưng sự gia tăng đó khơng theo kế
hoạch, hay nói cách khác là công tác hoạch định nguồn nhân lực tại Xí nghiệp chưa được làm tốt và để cơng tác này được nâng cao, có chất lượng, Lãnh đạo Xí nghiệp cần
thực hiện những biện pháp sau:
- Lập kế hoạch hoạch định nguồn nhân lực: Ban lãnh đạo Xí nghiệp phải cùng với Phòng Tổ chức hành chính thực hiện việc lập kế hoạch hoạch định nguồn nhân lực. Việc
đó cần theo một quy trình rõ ràng với ban đầu là việc phân tích mơi trường xác định mục tiêu chiến lược của Xí nghiệp. Trên cơ sở đó, Xí nghiệp phải xác định được mục tiêu
chiến lược nguồn nhân lực. Mục tiêu này nhằm trả lời câu hỏi: Xí nghiệp sẽ huy động nguồn nhân lực như thế nào để đạt được mục tiêu chiến lược của mình. Tiếp theo, Phòng
Tổ chức hành chính phải phân tích được hiện trạng nguồn nhân lực về số lượng, chất lượng, cơ cấu tuổi, giới tính, để có thể hồn thành công việc một cách tốt nhất, phẩm
chất cá nhân, mức độ nhiệt tình trong cơng việc…
- Cơng tác dự báo cầu nhân lực: Dựa vào việc phân tích hiện trạng và dự định các công việc, các đề tài, dự án cần triển khai thực hiện trong năm tiếp theo để có thể đưa ra
dự kiến cầu nhân lực.
- Công tác dự báo cung: Đối với công việc dự báo cung nguồn nhân lực phải dự đoán được cung từ bên trong và cung từ bên ngồi đó chính là những số người sẽ chuyển đi
trong năm, số người nghỉ chế độ, số người nghỉ hưu ở các bộ phận để từ đó có kế hoạch tiếp theo.
- Điều tiết cung cầu nhân lực: Sau khi có chỉ tiêu biên chế, Xí nghiệp cần thực hiện các yêu cầu về cân đối giữa cung và cầu nguồn nhân lực. Khi cần tinh giảm biên chế cần
49

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (60 trang)

×