1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Quyền lợi, nghĩa vụ từ phía sinh viên.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (256.96 KB, 21 trang )


phải bảo đảm về mơi trường giáo dục, an tồn cho người học, người dạy, người lao động khác trong nhà trường.
5. Vốn điều lệ tối thiểu là 150 tỉ đồng được góp bằng tiền từ các nguồn hợp pháp không kể giá trị về đất đai chỉ để đầu tư xây dựng trường.
Trong báo cáo cần nêu rõ về điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị đáp ứng quy mô đào tạo dự kiến trong 5 năm đầu thành lập với diện tích giảng đường, phòng thí nghiệm, thư viện đã xây dựng phải đạt tối thiểu
3m2một sinh viên; phòng làm việc cho giảng viên, cán bộ của trường với diện tích tối thiểu là 8m2người;
Có đội ngũ giảng viên cơ hữu đảm nhận giảng dạy tối thiểu 70 khối lượng của chương trình đào tạo, trong đó mỗi ngành, chun ngành có ít nhất 1 giảng viên có trình độ tiến sĩ và 3 giảng viên có trình độ
thạc sĩ đúng ngành đăng ký; có đủ số lượng kỹ thuật viên, nhân viên thí nghiệm, thực hành với trình độ chun mơn, nghiệp vụ đáp ứng u cầu của các ngành đào tạo.
Có chương trình đào tạo, đề cương các môn học theo quy định của Bộ Giáo dục - đào tạo.Có phòng học với các phương tiện, trang thiết bị cần thiết bị đáp ứng yêu cầu giảng dạy và học tập
Có đủ nguồn lực tài chính để đảm bảo duy trì và phát triển hoạt động giáo dục. Đã kiện toàn bộ máy tổ chức hành chính của trường. Đã ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của trường.
Tất cả các cá nhân, tổ chức muốn thành lập trường đại học phải đảm bảo các yêu cầu trên, đồng thời trong thời gian hoạt đơng sẽ thường xun có ban thanh tra xuốn kiểm tra, nếu không đạt tiêu chuẩn sẽ bị
phạt hoặc giải thể. Hơn nữa do càng ngày nhiều trường đại học mở ra càng nhiều, thế nên khi xác định ra nhập ngành không
những chỉ đảm bảo những điều kiện tối thiểu về thành lập trường, mà phải chuẩn bị tốt các điều kiện khác để có thể cạnh tranh và đứng vững trong ngành.
4.2. Chức năng, quyền hạn từ phía nhà nước và ngành Giáo dục – Đào tạo. Nhìn chung vào hệ thống giáo dục bậc đại học ở Việt Nam cho thấy các trường công lập vẫn đang
chiếm ưu thế cả về chất lượng, uy tín,...hơn so với các trường dân lập; các trường có vốn đầu tư nước ngồi đang có một tầm ảnh hưởng khá lớn tới ngành giáo dục trong nước. Tuy nhiên có thể thấy chất
lượng giáo dục tại các trường dân lập không được đảm bảo, chỉ mở ra nhằm mục đích kinh doanh, chưa thực sự hướng tới mục đích đào tạo một nguồn nhân lực trẻ tài giỏi phục vụ đất nước.
Đối với các trường cơng lập nói chung và trường ĐH Quốc Gia Hà Nội nói riêng, được hưởng nhiều chính sách ưu đãi của nhà nước và bộ GD-ĐT. Do là trường thuộc hệ thống đào tạo giáo dục của nhà
nước nên vốn do ngân sách nhà nước cấp ổn định, và được hưởng nhưng gì tốt nhất của bộ giáo dục, cơ sở hạ tầng, công nghệ, công cụ, dụng cụ dạy học….. .Có quyền hạn lớn hơn so với các trường ngồi cơng
lập. Nhưng chịu sự quản lý của nhà nước và chương trình đào tạo phải theo sụ định hướng của nhà nước và bộ giáo dục. Việc liên kết đào tạo với các trường nước ngoài cũng trở lên dễ dàng hơn vì có tiềm lực
tài chính và uy tín lớn.

4.3. Quyền lợi, nghĩa vụ từ phía sinh viên.


9
Thơng qua những con số thực tế qua các năm có thể thấy, những trường cơng lập có chất lượng cao vẫn là sự lựa chọn hàng đầu của các học sinh. Rõ ràng trong trường hợp này học sinh đóng vai trò là
những khách hàng, học là nhân tố quan trọng quyết định tới sự thành cơng của một trường. Là trường có uy tín về chất lượng đào tạo, cơ sở vật chất đem lại cho sinh viên như quyền lợi hơn.
Như là về học phí học phí thấp hơn chất lượng dịch vụ đào tạo bài bản tốt, hưởng những chính sách của nhà nước theo quy định của pháp luật, có nhiều cơ hội phát triển hơn, đối với mỗi khoa đào tạo có
thể được hưởng những chính sách khác nhau nữa. Nhưng cũng đòi hỏi ở sinh viên sự cố gắng học tập tốt, ý thức học tập, trách nhiệm với bản thân và nhà trường.
4.4. Cạnh tranh giữa các trường trong ngành GD-ĐT. Trong những năm trở lại đây số lượng các trường đại học công và dân lập ngày càng nhiều, học
sinh cũng có nhiều sự lựa chọn hơn, thế nhưng cái khó của họ là nên chọn trường nào để phù hợp với khả năng của mình mà lại đảm bảo chất lượng tốt. Trường công lập vẫn luôn là sự lựa chọn hàng đầu của
sinh viên trong nước, thế nhưng còn rất nhiều vấn đề chứng ta phải bàn tới, vì nhu cầu học sinh ngày càng cao, đòi hỏi các trường phải nâng cao chất lượng hơn nữa để thu hút học sinh, hay nói cách khác
một cuộc chạy đua để hút học sinh vào trường mình, khơng chỉ là những trường dân lập mà ngay cả cơng lập.
Chính sách của các trường công lập. Đại học quốc gia Hà Nội là một trường đã có bề dày kinh nghiệm và uy tín lớn, hàng năm đơng thí sinh
đăng ký dự thi nhưng ĐH Quốc gia Hà Nội ĐHQGHN liên tục có những kế hoạch mới để thu hút thí sinh, đặc biệt là sinh viên được học văn bàng hai. Điểm nội trội hơn để thu hút sinh viên đó là trường có
sự liên kết và hợp tác rộng rãi với các trường trong nước trường ĐH khao học tự nhiên, ĐH cơng nghệ, ĐH kinh tế,...và nước ngồi. Đối tác rộng rãi: châu á, châu âu, châu mỹ, châu đại dương, vói các chương
trình hợp tác trao đổi và học bổng, nghiên cứu,... giúp sinh viên có nhiều cơ hôi giao lưu với nhiều kiến thức mới và cơng nghệ cao của nước ngồi.
Thậm chí nhiều trường còn chiêu sinh bằng cách mở hệ ngoài ngân sách: Học viện Tài chính, Kinh tế Quốc dân, Học viện Ngân hàng, Ngoại thương… quy định thí sinh đủ điểm sàn vào Học viện nhưng
không đủ điêm tuyển vào ngành đã đăng ký thì được đăng ký vào ngành còn chỉ tiêu. Và được đăng ký xét học hệ ngoài ngân sách với chương trình học khơng đổi nhưng điểm đầu vào thấp nên tạo nhiều điều
kiện hơn cho thí sinh, chỉ có phần khonar học phí thì cao hơn nhiều so với hệ chính quy. Chính sách của các trường ngồi cơng lập:
Thưởng điểm, thưởng tiền, chi tiền mơi giới, cạnh tranh kiểu xé rào,... Không chịu thua kém, các trường cơng lập đã có nhiều lới thế hơn về uy tín, chất lượng, học phí,...thế
nên các trường dân lập cũng khó để đua tranh, thế nhưng khơng chịu dừng tại đó, họ tập trung phát triển cơ sở vật chất, ...
Chưa tuyển đã khát thí sinh Chưa biết điểm sàn của Bộ Giáo dục và Đào tạo GD và ĐT là bao nhiêu, cũng không chờ thời gian quy
định xét tuyển, trước áp lực về khả năng thủng chỉ tiêu, nhiều trường đại học ngồi cơng lập NCL đã công bố phương thức xét tuyển nguyện vọng 2 và tung ra nhiều chiêu tuyển sinh khá hấp dẫn. Tại
Trường đại học dân lập Lương Thế Vinh Nam Định, ngay từ những ngày cuối tháng 7 đã thông báo tuyển nguyện vọng 2 và có chủ trương tặng quà thí sinh. Còn đối với các đơn vị khuyến khích thí sinh
10
nộp hồ sơ xét tuyển vào trường được thưởng từ 550 nghìn đồng đến một triệu đồng tùy theo mức điểm của thí sinh từ điểm sàn trở lên; với các trường THPT, trung tâm giáo dục thường xuyên GDTX, Phòng
GD và ĐT nếu khuyến khích được thí sinh vào học tại trường sẽ được tặng thưởng 250 nghìn đồngthí sinh.
Khơng kém phần hấp dẫn, Trường đại học Đơng Á Đà Nẵng ưu tiên xét tuyển trực tuyến trên trang Web của trường. Đối với những thí sinh nộp hồ sơ xét tuyển sớm kèm phiếu đăng ký ưu tiên xét tuyển sẽ
được hạ 0,5 điểm so với điểm chuẩn xét tuyển của trường. Trường đại học Dân lập Hải Phòng tổ chức xét tuyển và thơng báo sinh viên có hồn cảnh khó khăn được vay vốn ưu đãi 8,5 triệunăm, được giảm
học phí từ 10 đến 50. Sinh viên giỏi, xuất sắc được nhận học bổng hằng năm... Các ĐH vùng năm vừa qua cũng không tuyển đủ chỉ tiêu, năm nay đã tới tận các thí sinh ở vùng sâu,
vùng xa để tuyên truyền về kế hoạch tuyển sinh của trường như Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TPHCM đã chi gần tỷ đồng để tổ chức hoạt động tư vấn tuyển sinh. Trường đã đài thọ chi phí cho khoảng 100
giáo viên chuyên trách hướng nghiệp đến từ 80 trường THPT các tỉnh từ Quảng Nam trở vào Nam để tuyên truyền.
4.5. Đe dọa từ các sản phẩm thay thế. mơ hình đào tạo. Ở Việt Nam hiện nay chỉ có 5 đơn vị cung cấp giáo dục trực tuyến song vẫn còn rất nhiều hạn chế. Tuy
vậy, với sự phát triển như vũ bão của cơng nghệ thơng tin như hiện nay thì giáo dục trực tuyến sẽ nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường, là mối đe dọa lớn đối với các chương trình đào tạo truền thống.

4.6. Quyền lực thương lượng các bên liên quan.


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (21 trang)

×