1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Vai trò của vốn kinh doanh Nguồn vốn từ lợi nhuận khơng chia Phát hành cổ phiếu

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (358.8 KB, 68 trang )


H T
T ≠
T Từ sự phân tích sự vận động của vốn thơng qua vòng tuần hồn vốn ta thấy
rằng: tiền có khả năng chuyển hố thành vốn chỉ khi tiền được đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh thơng qua hoạt động đầu tư nhằm mục đích sinh lời mới được gọi là
vốn. Với tư cách đầu tư thì mục đích cuối cùng là tạo được T phải lớn hơn T.

c. Vai trò của vốn kinh doanh


Nhu cầu về vốn xét trên giác độ mỗi doanh nghiệp là điều kiệ để duy trì sản xuất, đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm ,
tăng việc làm và thu nhập cho người lao động , đóng góp cho xã hội.....Như vậy: Vốn kinh doanh là công cụ quan trọng để thực hiện các nhiệm vụ kinh doanh
của doanh nghiệp. Vốn kinh doanh phản ánh các quan hệ về lợi ích kinh tế giữa doanh nghiệp với
doanh nghiệp trong vấn đề đầu tư. Vốn kinh doanh cho phép khả năng lựa chọn của doanh nghiệp trong sự phân
tích nhu cầu thị trường là: quyết định sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? và sản xuất cho ai? sao cho đạt hiệu quả cao nhất.

d. Cơ cấu vốn sản xuất kinh doanh


Có nhiều cách phân loại xong nếu căn cứ vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và sự luân chuyển vốn trong doanh nghiệp, vào mục đích sử dụng số
tiền vốn mà doanh nghiệp có thì được chia làm hai loại đó là vốn cố định VCĐ và vốn lưu động VLĐ. Sự khác nhau cơ bản đó là: nếu như VCĐ tham gia vào quá trình
sản xuất như tư liệu lao động thì VLĐ là đối tượng lao động. Nếu như vốn lao động tạo ra thực thể của sản phẩm hàng hố thì VCĐ là phương thức để dịch chuyển VLĐ
thành sản phẩm hàng hoá.
13
Trần Thị Việt Hà - Lớp K1
Mặt khác nếu như VLĐ được kết chuyển một lần vào giá trị của sản phẩm hàng hoá và thu hồi được ngay sau khi doanh nghiệp tiêu thụ được hàng hố còn vốn
cố định tham gia nhiều vào quá trình sản xuất kinh doanh và kết chuyển vào giá trị sản phẩm hàng hố dưới hình thức khấu hao.
Vốn cố định.
• Khái niệm: Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư, ứng
trước về tài sản cố định, mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hồn khi TSCĐ hết thời gian
sử dụng. Theo qui định của nhà nước chỉ các tư liệu sản xuất có đủ hai điều kiện: có giá
trị lớn trên năm triệu đồng và thời gian sử dụng ít nhất là một năm. Trong các doanh nghiệp, vốn cố định giữ một vai trò rất quan trọng trong q
trình sản xuất. Nó quyết định đổi mới kỹ thuật, đổi mới công nghệ sản xuất, quyết định việc trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, quyết định việc sử dụng các thành tựu công nghệ
mới, là nhân tố quan trọng bảo đảm tái sản xuất mở rộng và việc không ngừng nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân.Vì vậy việc sử dụng vốn cố định là một vấn đề
quan trọng cả về mặt hiện vật và giá trị. Về mặt hiện vật VCĐ bao gồm toàn bộ những TSCĐ đang phát huy tác
dụng trong quá trình sản xuất: nhà xưởng, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải....Vốn cố định tham gia tồn bộ vào q trình sản xuất kinh doanh. Sau mỗi chu kỳ
sản xuất thì hình thái hiện vật của VCĐ không thay đổi nhưng giá trị của nó giảm dần và chuyển vào giá trị sản phẩm hàng hố dưới hình thức khấu hao.
• Cơ cấu của vốn cố định:
14
Trần Thị Việt Hà - Lớp K1
Là tỷ trọng của từng loại VCĐ so với tổng toàn bộ VCĐ của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Cần lưu ý rằng quan hệ tỷ lệ trong cơ cấu vốn là một chỉ tiêu
động mang tính biện chứng và phụ thuộc nhiều nhân tố như: khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường, khả năng thu hút vốn đầu tư, phương hướng mục tiêu sản xuất
kinh doanh, trình độ trang bị kỹ thuật, quy mơ sản xuất .... Việc nghiên cứu cơ cấu vốn cố định có ý nghĩa quan trọng trong việc huy động và sử dụng vốn. Khi nghiên cứu
vốn cố định phải nghiên cứu trên hai góc độ là: nội dung kế hoạch và quan hệ mỗi bộ phận so với toàn bộ. Vấn đề đặt ra là pải xây dựng được một cơ cấu hợp lý phhù hợp
với đặc điểm kin tế kỹ thuật của doanh nghiệp và với trình độ phát triển khoa học -kỹ thuật.
Có nhiều cách phân loại, xong chúng ta có thể dựa vào tính chất cụ thể của nó để phân loại:
-Tài sản cố định dùng cho mục đích kinh doanh gồm: +Nhà cửa, vật kiến trúc
+Máy móc, thiết bị .
+Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn. +Thiết bị ,dụng cụ quản lý.
+Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc cho sản phẩm. +Các tài sản cố định khác.
Còn các tài sản cố định vơ hình gồm có: bằng phát minh, sáng chế, bản quyền tác giả, lợi thế vị trí....
-Tài sản cố định doanh nghiệp dùng chi mục đích phúc lợi, sự nghiệp an ninh quốc phòngcũng được phân loại như trên.
15
Trần Thị Việt Hà - Lớp K1
-TSCĐ doanh nghiệp bảo quản, giữ hộ cho đơn vị khác hoặc giữ hộ Nhà nước theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Vốn lưu động.
• Khái niệm: Vốn lưu động của doanh nghiệp là số tiền ứng trước về tài sản lưu
động và tài sản lưu thơng nhằm đảm bảo cho q trình sản xuất và tái sản xuất của doanh nghiệp tiến hành bình thường.
Vốn lưu động bao gồm giá trị tài sản lưu động như: nguyên vật liệu chính, nửa thành phẩm mua ngồi, vật liệu phụ, bao bì và vật liệu bao bì, nhiên liệu, phụ tùng thay
thế, sản phẩm dở dang....và vốn lưu thơng như: thành phẩm, hàng hố mua ngoài dùng cho tiêu thụ sản phẩm, vật tư mua ngoài chế biến, vốn tiền mặt...
Khác với VCĐ, VLĐ chuyển toàn bộ giá trị vào sản phẩm sau mỗi chu kỳ sản xuất. Trong quá trình sản xuất kinh doanh VLĐ được luân chuyển không ngừng qua ba
giai đoạn: dự trữ ,sản xuất và tiêu thụ. Trong mỗi giai đoạn đó VLĐ được biểu hiện dưới nhiều hình thái khác nhau, có thể là hình thái hiện vật hay hình thái giá trị.
Có thể thấy rằng vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình tái sản xuất. Nếu doanh nghiệp khơng đủ vốn thì việc tổ chức sử dụng vốn sẽ
gặp nhiều khó khăn và do đó q trình sản xuất cũng bị trở ngại hay gián đoạn. •
Cơ cấu vốn lưu động: Là quan hệ tỷ lệ giữa các thành phần vốn lưu động chiếm trong tổng số vốn lưu
động. Ở những doanh nghiệp khác nhau, kết cấu vốn lưu động không giống nhau. Xác định được cơ cấu vốn lưu động hợp lý sẽ góp phần sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả
vốn lưu động. Để quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn lưu động thì cần thiết phải tiến hành
phân loại vốn khác nhau.
16
Trần Thị Việt Hà - Lớp K1
- Căn cứ vào q trình tuần hồn và luân chuyển vốn lưu động người ta chia vốn làm ba loại:
+ Vốn dự trữ: là một bộ phận dùng để mua nguyên nhiên vật liệu, phụ tùng thay thế,... dự trữ và đưa vào sản xuất.
+ Vốn trong sản xuất: là bộ phận vốn trực tiếp phục vụ cho giai đoạn sản xuất lưu thông như thành phẩm vốn tiền mặt.
- Căn cứ vào phương pháp xác định vốn người ta chia vốn ra làm hai loại: + Vốn lưu động định mức: là số vốn lưu động cần thiết tối thiểu thường xuyên
trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bao gồm: vốn dự trữ, vốn trong sản xuất và thành phẩm, hàng hoá mua ngoài dùng cho tiêu thụ sản phẩm, vật tư
thuê ngoài chế biến. + Vốn lưu động không định mức: là số vốn lưu động có thể phát sinh trong q
trình sản xuất kinh doanh nhưng khơng có căn cứ để tính định mức được. - Căn cứ vào nguồn hình thành:
+ Vốn lưu động tự có: là số vốn doanh nghiệp được Nhà nước cấp, vốn lưu động từ bổ sung lợi nhuận, các khoản phải trả nhưng chưa đến kỳ hạn ...
+ Vốn lưu động đi vay: đây là nguồn vốn quan trọng mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu về vốn lưu động thường xuyên cần thiết trong kinh doanh.
Có thể vay vốn ngân hàng, của các tổ chức tín dụng hoặc có thể vay vốn của các đơn vị, tổ chức và các cá nhân khác trong và ngoài nước.
Mỗi doanh nghiệp cần xác định cho mình một cơ cấu vốn hợp lý và có hiệu quả.

1.2.2. Huy động vốn


17
Trần Thị Việt Hà - Lớp K1
Để có được vốn hoạt động thì doanh nghiệp phải thực hiện huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau. Huy động vốn là hoạt động nhằm đáp ứng cầu về vốn của doanh
nghiệp. Huy động vốn chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khác nhau hay nói cách khác
là các ràng buộc khác nhau như: + Hình thức pháp lý của doanh nghiệp: một doanh nghiệp Nhà nước khi huy động
vốn phải chịu sự ràng buộc cuả các văn bản quản lý Nhà nước về tỷ lệ huy động tối đa có thể Luật DNNN .
+ Sự vững mạnh về tình hình tài chính nói chung và có khả năng thanh tốn nói riêng sẽ là những điều kiện mà chủ nguồn tài chính chú ý khi xTôi xét bỏ vốn cho
doanh nghiệp. + Chiến lược kinh doanh quyết định cầu về vốn và từ đó ảnh hưởng đến lượng vốn
cần thiết huy động của doanh nghiệp. Xuất phát điểm của chiến lược kinh doanh là cơ sở để huy động vốn. Để thực
hiện huy động vốn thì ta cần phải xác định cầu về vốn của doanh nghiệp. Để dự đoán cầu về vốn của doanh nghiệp ta có thể sử dụng hai phương pháp:
+ Phương pháp tỷ lệ trên doanh thu. + Phương pháp sử dụng các chỉ tiêu tài chính đặc trưng của ngành là cơ sở để làm
xuất phát điểm cho mình. Phương pháp này hay được sử dụng cho những doanh nghiệp mới thành lập hay những doanh nghiệp đã hoạt động nhưng cần thiết lập lại cơ
cấu vốn.

1.2.2.1. Huy động vốn chủ sở hữu a. Vốn góp ban đầu


18
Trần Thị Việt Hà - Lớp K1
Khi doanh nghiệp được thành lập bao giờ chủ doanh nghiệp cũng phải có một số vốn ban đầu nhất định do các cổ đơng – chủ sở hữu góp. Khi nói đến nguồn vốn chủ sở
hữu của doanh nghiệp đó, vì hình thức sở hữu sẽ quyết định tính chất và hình thức tạo vốn của bản thân doanh nghiệp.
- Vốn do ngân sách Nhà nước cấp: đối với doanh nghiệp Nhà nước
Các doanh nghiệp Nhà nước ngay từ khi mới thành lập đã được Nhà nước cấp cho một lượng vốn nhất định. Đây là lượng vốn quan trọng để đầu tư xây dựng ban
đầu và mở rộng sản xuất. Khi sử dụng vốn này các DNNN phải nộp thuế sử dụng vốn NSNN. Từ 01011997, theo Nghị định số 59 NĐ-CP của Chính phủ và Thơng tư 70
TC-CSTC của Bộ tài chính thì chỉ có các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có lãi thì mới phải nộp thuế sử dụng vốn NSNN và được tính từ lợi nhuận sau thuế.
Hiện nay, cơ chế quản lý tài chính nói chung và quản lý vốn của doanh nghiệp Nhà nước nói riêng đang có những thay đổi để phù hợp với tình hình thực tế.
- Khấu hao tài sản cố định: Việc xác định mức khấu hao cụ thể phụ thuộc vào thực tiễn sử dụng tài sản cố
định cũng như ý muốn chủ quan của con người. Đối với doanh nghiệp Nhà nước trong chừng mực nhất định phải phụ thuộc ý đồ của Nhà nước, các doanh nghiệp khác có thể
tự lựa chọn thời hạn sử dụng và phương pháp tính khấu hao cụ thể. Trong chính sách tài chính của mình, doanh nghiệp có thể lựa chọn và điều chỉnh khấu hao tài sản cố
định và coi đây là một nguồn cung ứng vốn bên trong của mình. - Vốn liên doanh, liên kết:
Theo Luật doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp phải có một số vốn ban đầu cần thiết để xin đăng ký thành lập doanh nghiệp.
Đây là một hình thức phổ biến ở Việt Nam hiện nay, là vốn do các doanh nghiệp khác trong và ngồi nước đóng góp để cùng thực hiện q trình sản xuất kinh doanh.
19
Trần Thị Việt Hà - Lớp K1
Nguyên tắc trong liên doanh, liên kết là các bên tham gia liên doanh, liên kết phải bình đẳng với nhau, cùng chia sẻ lợi nhuận và rủi ro trong phạm vi tỷ lệ vốn góp. Tuy nhiên
trong trường hợp liên doanh, liên kết với nước ngồi, do trình độ yếu kém nên bên Việt Nam thường chịu nhiều thiệt thòi, lượng vốn góp của Việt Nam còn thấp thường ở
mức 30 - 35 nên các quyết định của bên Việt Nam còn thiếu trọng lượng. Ngồi ra còn có thể huy động từ cán bộ cơng nhân viên chức của doanh nghiệp.
Với phương thức này doanh nghiệp liên doanh, liên kết với một hoặc một số doanh nghiệp khác nhằm tạo vốn cho hoạt động liên doanh nào đó.
+ Ưu điểm: với hình thức này doanh nghiệp sẽ có được một lượng vốn cần thiết cho một hoặc một số hoạt động nào đó mà khơng tăng nợ.
+ Nhược điểm: các bên liên doanh cùng tham gia liên doanh và cùng chia sẻ lợi nhuận thu được.
- Vốn do cổ phần hoá DNNN mang lại: Đây là nguồn vốn huy động từ việc DNNN phát hành cổ phiếu. Vốn cổ phần do
cổ đơng đóng góp thơng qua việc mua cổ phiếu do doanh nghiệp phát hành. Mức lãi của cổ phiếu phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nếu lỗ thì
khơng phải trả .

b. Nguồn vốn từ lợi nhuận khơng chia


Đây là nguồn vốn do doanh nghiệp tạo ra trong q trình sản xuất kinh doanh. - Tích luỹ tái đầu tư: phụ thuộc vào hai nhân tố cụ thể là tổng số lợi nhuận thu được
trong từng thời kỳ kinh doanh và chính sách phân phối lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp Nhà nước toàn bộ lợi nhuận thu được sẽ phải sử dụng
cho các khoản: + Nộp tiền sử dụng vốn ngân sách Nhà nước theo quy định.
20
Trần Thị Việt Hà - Lớp K1
+ Trả các khoản phải quy định. + Lập các quỹ đặc biệt.
- Điều chỉnh cơ cấu tài sản: Phương thức này tuy không làm tăng tổng số vốn sản xuất kinh doanh nhưng lại có tác dụng rất lớn trong việc tăng vốn cho các hoạt động cần
thiết trên cơ sở giảm vốn ở những nơi không cần thiết.

c. Phát hành cổ phiếu


Là hình thức do doanh nghiệp được cung ứng vốn trực tiếp từ thị trường chứng khốn. Khi có cầu về vốn và lựa chọn hình thức này, doanh nghiệp tính tốn và phát
hành cổ phiếu bán trên thị trường chứng khoán. Đặc trưng cơ bản là tăng vốn nhưng không tăng nợ của doanh nghiệp bởi lẽ những người sở hữu cổ phiếu trở thành cổ đơng
của doanh nghiệp. Vì lẽ đó nhiều nhà quản trị học coi hình thức này là nguồn cung ứng nội bộ.
Tuy nhiên chỉ có cơng ty cổ phần, doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn mới được phát hành. Và doanh nghiệp phải có nghĩa vụ cơng khai hố thơng tin tài chính theo
Luật doanh nghiệp. - Cổ phiếu thường
Cổ phiếu thường còn gọi là cổ phiếu thơng thường là loại cổ phiếu thơng dụng nhất vì nó có những ưu thế trong việc phát hành ra cơng chúng và trong quá trình lưu
hành trên thị trường chứng khoán. Cổ phiếu thường là chứng khoán quan trọng nhất được trao đổi, mua bán trên thị trường chứng khoán, điều đó cũng đủ để minh chứng
tầm quan trọng của nó so với các cơng cụ tài chính khác. - Cổ phiếu ưu tiên
Cổ phiếu ưu tiên thường chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng số cổ phiếu được phát hành. Tuy nhiên trong một số trường hợp, việc dùng cổ phiếu ưu tiên là thích hợp. cổ
21
Trần Thị Việt Hà - Lớp K1
phiếu ưu tiên có đặc điểm là nó thường có cổ tức cố định. Người chủ của cổ phiếu này có quyền được thanh tốn lãi trước các cổ đông thường. Nếu số lãi chỉ đủ để trả cổ tức
cho các cổ đơng ưu tiên thì các cổ đông thường sẽ không được nhận cổ tức của kỳ đó. Việc giải quyết chính sách cổ tức được nêu rõ trong điều lệ công ty.
1.2.2.2. Huy động vốn nợ a. Nguồn vốn tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại
Vay vốn của các ngân hàng thương mại:
Vay vốn từ các ngân hàng thương mại là hình thức doanh nghiệp vay vốn dưới các hình thức cụ thể ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn từ các ngân hàng thương mại.
Đây là mối quan hệ tín dụng giữa một bên đi vay và một bên cho vay. Với hình thức này doanh nghiệp có thể huy động được một lượng vốn lớn, đúng hạn và có thể mời
các doanh nghiệp cùng tham gia thẩm định dự án nếu có cầu vay đầu tư lớn. Yêu cầu doanh nghiệp phải có uy tín lớn, kiên trì đàm phán, chấp nhận các thủ tục thẩm định
ngặt nghèo. Nếu doanh nghiệp vay tiền của ngân hàng có thể bị ngân hàng thương mại kiểm soát các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong thời gian cho vay.
Ngày 3151997, Ngân hàng trung ương đã có Cơng văn số 471 về điều kiện cho các DNNN vay vốn mà không phải thế chấp, bảo lãnh, tín chấp, ... khơng giới hạn theo
vốn điều lệ mà căn cứ vào hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Vốn vay của các tổ chức tài chính trung gian:
Đây là một nguồn cũng rất quan trọng trong tương lai khi hệ thống thị trường tài chính chứng khốn nước ta đi vào hoạt động. Đó là:
+ Vay các tổ chức tín dụng. + Thuê mua, thuê tài chính, thuê hoạt động.
22
Trần Thị Việt Hà - Lớp K1
- Phát hành trái phiếu - Mua bán chịu chiếm dụng vốn của các doanh nghiệp khác.
- Vay từ nội bộ công nhân viên. Trong bất kỳ doanh nghiệp nào cũng có một số quỹ như: quỹ đầu tư xây dựng
cơ bản, quỹ phát triển sản xuất kinh doanh, quỹ dự phòng tài chính, quỹ khen thưởng , quỹ phúc lợi ... mà doanh nghiệp có thể huy động tạm thời vào sản xuất kinh doanh.
Doanh nghiệp có thể trả chậm lương cho cán bộ cơng nhân viên, nộp thuế chậm lại.
Tín dụng thương mại từ các nhà cung cấp:
Trong hoạt động kinh doanh, quan hệ mua bán trao đổi giữa các doanh nghiệp thông thường không kết thúc tại một điểm, tức là xuất hiện sự chênh lệch về mặt thời
gian giữa dòng tài chính và dòng vật chất. Thực chất ln diễn ra đồng thời quá trình doanh nghiệp nợ khách hàng tiền và chiếm dụng tiền cuả khách hàng. Nếu tiền doanh
nghiệp chiếm dụng của khách hàng nhiều hơn số tiền doanh nghiệp bị chiếm dụng thì số tiền dơi ra sẽ mang bản chất tín dụng thương mại hay tín dụng nhà cung cấp. Ngồi
ra tín dụng thương mại còn gồm cả khoản đặt cọc trước của khách hàng. Đây là một hình thức tín dụng ngắn hạn quan trọng thường phải thanh tốn
trong vòng 30 - 90 ngày đặc biệt là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp đang trong thời kỳ tăng trưởng.
Tín dụng thuê mua:
Trong cơ chế thị trường hình thức này được thực hiện giữa một doanh nghiệp có cầu sử dụng máy móc, thiết bị với một doanh nghiệp thực hiện chức năng thuê mua
diễn ra khá phổ biến. Hình thức này có ưu điểm rất cơ bản là giúp cho doanh nghiệp sử dụng vốn đúng mục đích, khi nào doanh nghiệp có cầu về sử dụng máy móc, thiết bị
23
Trần Thị Việt Hà - Lớp K1
cụ thể mới đặt vấn đề thuê mua. Doanh nghiệp không chỉ được nhận máy móc thiết bị mà còn được nhận tư vấn đào tạo.
Tuy nhiên cũng có những hạn chế như: chi phí kinh doanh cho việc sử dụng máy móc thiết bị cao và hợp đồng tương đối phức tạp.
Nguồn vốn ODA:
Đối tác mà doanh nghiệp có thể tìm kiếm và nhận được nguồn vốn này là các chương trình hợp tác của Chính Phủ, các tổ chức phi Chính Phủ hoặc các tổ chức quốc
tế khác. Hình thức cấp vốn ODA có thể là hình thức viện trợ khơng hồn lại hoặc cho
vay với điều kiện ưu đãi về lãi suất và thời hạn thanh tốn. Hình thức này có chi phí kinh doanh thấp sử dụng vốn . Tuy nhiên để nhận được nguồn vốn này các doanh
nghiệp phải chấp nhận thủ tục chặt chẽ. Đồng thời doanh nghiệp phải có điều kiện làm việc với các cơ quan Chính Phủ và chun gia nước ngồi.
Nguồn vốn nước ngồi đầu tư trực tiếp FDI:
Với phương thức này doanh nghiệp khơng chỉ nhận được vốn mà còn nhận được cả kỹ thuật - công nghệ cũng như phương thức quản trị tiên tiến và cũng được chia sẻ thị
trường xuất khẩu. Tuy nhiên huy động vốn theo hình thức này phải chịu sự kiểm soát điều hành của doanh nghiệp tổ chức kinh tế nước ngoài phụ thuộc vào tỷ lệ góp
vốn.

b. Phát hành trái phiếu cơng ty


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (68 trang)

×