1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Châu lục đông dân nhất thế giới, dân số trẻ và sức mua tăng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (456.88 KB, 83 trang )


QUỐC GIA THỨ TỰ
TRÊN BẢNG XẾP HẠNG
2009 SỐ ĐIỂM
GRDI 2009 THỨ TỰ
XẾP HẠNG NĂM 2008
THAY ĐỔI VỀ
THỨ TỰ
Ấn Độ 01
68 02
+1 Trung Quốc
03 56
04 +1
Các tiểu vương quốc Ả Rập 04
56 20
+16 Ả Rập Xê Út
05 56
07 +2
Việt Nam 06
55 01
-5 Malaysia
10 51
13 +3
Indonesia 22
46 15
-7 Philipin
25 41
26 +1
Thái Lan 26
40 24
-2
Bảng II.2: Các quốc gia châu Á được xếp hạng 30 thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất thế giới
Nguồn: A.T Kearney2009, tr.5

1.2 Châu lục đông dân nhất thế giới, dân số trẻ và sức mua tăng


Mặc dù diện tích châu Á chỉ chiếm chưa đến 30 diện tích lục địa song số dân châu Á hiện nay chiếm đến 60 dân số toàn cầu và hàng năm vẫn là châu lục
có tỷ lệ tăng dân số cao nhất thế giới. Bên cạnh Trung Quốc, khu vực Đông Nam Á là khu vực có tỷ lệ tăng dân
số ở vào mức cao nhất trong châu lục và trên thế giới. Trong 5 năm vừa qua 2004- 2009 tỷ lệ này ở vào khoảng 1.2năm và được dự báo chỉ tăng trưởng chậm lại
trong vòng 15 đến 20 năm nữa vào khoảng 0.7năm trong khoảng 2025-2050. Khu vực Trung Đông các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất và Ả Rập Xê
Út tuy có quy mơ dân số tương đối nhỏ hơn nếu so với khu vực Đông Nam Á song có đến 80 dân số là dân thành thị, tỷ lệ dân số trẻ dưới 25 tuổi cũng ở mức
khá cao, chiếm tới 60 dân số A.T Kearney 2009, tr.11.
26 26
Đây cũng là khu vực có dân số trẻ với nhu cầu tiêu dùng tăng mạnh trong những năm vừa qua. Lượng cầu nội địa ở châu Á đã giúp nền kinh tế châu lục này
chống chọi với khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 và đảm bảo cho tăng trưởng kinh tế ở khu vực vẫn duy trì ở mức cao. Hầu hết các nền kinh tế châu Á
vẫn đang trong giai đoạn chuyển đổi và một tỷ lệ lớn các quốc gia này đang dần điều chỉnh chính sách phát triển kinh tế tập trung vào khai thác, đẩy mạnh nhu cầu
tiêu dùng nội địa của người dân. Xã hội châu Á hiện đang xuất hiện một bộ phận khơng nhỏ người dân có nhu cầu và khả năng chi trả cho việc mua sắm, tiêu dùng
các mặt hàng xa xỉ, những nhãn hiệu thời trang tồn cầu ngay cả trong thời kỳ khủng hoảng. Vì vậy, mảng thị trường hàng xa xỉ trong thời gian tới được hứa hẹn
sẽ chứng kiến sự bùng nổ mạnh mẽ, là vùng đất đầy tiềm năng cho các nhãn hiệu thời trang, hàng tiêu dùng hàng đầu thế giới.
1.3 Chính phủ các quốc gia châu Á dần điều chỉnh các chính sách thương mại theo hướng mở cửa hồn tồn thị trường bán lẻ
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ nổ ra từ Thái Lan năm 1997 và ảnh hưởng hầu hết đến các quốc gia châu Á khác đã khiến Chính phủ các quốc gia này
từng nghĩ đến việc đóng cửa các thị trường của mình nhằm hạn chế sự tiếp xúc với tồn cầu hóa. Tuy nhiên, quan niệm này đã nhanh chóng được loại bỏ khi họ dần
nhận thức được rằng khủng hoảng gây tác động xấu đến nền kinh tế do cơ cấu nền kinh tế của đất nước chưa hợp lý và hiệu quả. Đồng thời, những lợi ích to lớn mà
tồn cầu hóa đem lại là khơng thể phủ nhận. Vì vậy, sau khi khủng hoảng tài chính, các quốc gia châu Á lại theo đuổi các chính sách hội nhập sâu rộng và mở
cửa hầu hết các thị trường của mình, đặc biệt là thị trường bán lẻ. Trong khu vực châu Á, khu vực Đông Á là khu vực phát triển và năng động
nhất, bao gồm 10 quốc gia ASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Đài Loan. Cụ thể ở một số thị trường như sau: Indonesia nâng mức vốn đầu tư nước
ngoài vào khu vực bán lẻ từ 49 lên 100. Ở Hàn Quốc, tỷ lệ vốn tối thiểu các nhà bán lẻ nước ngồi có thể đầu tư từ 15-20 hiện đã tăng lên 100. Bên cạnh
đó, nước này còn sửa đổi Bộ Luật Đầu tư trực tiếp nước ngồi xóa bỏ mọi hạn chế
27
về việc sở hữu nước ngoài trong lĩnh vực đất đai, bất động sản. Malaysia hiện đã mở cửa hoàn toàn thị trường bán lẻ của mình World Bank 2000, tr.146-149.
Trung Quốc sau 3 năm gia nhập WTO, từ thời điểm tháng 12 năm 2004 đã thực hiện đầy đủ cam kết mở cửa thị trường bán lẻ, cho phép các công ty bán lẻ nước
ngoài được vào thị trường nội địa. Bên cạnh đó, nước này cũng đang dần nới lỏng những quy định yêu cầu những nhà bán lẻ nước ngoài khi vào nước này mở các
cửa hàng bán lẻ phải xin phép từ chính phủ Trung Ương Business in Asia 2005. Ở khu vực Nam Á, Ấn Độ trở thành thị trường hấp dẫn nhất. Thị trường Ấn
Độ được xếp hạng nhất trong các thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất thế giới năm 2009 A.T Kearney 2009, tr.5. Nước này đã cho phép nhà đầu tư được mở các cơ sở bán
sỉ “cash and carry” 100 vốn trực tiếp. 2. Khuynh hướng phát triển trên thị trường bán lẻ châu Á trong tương lai
2.1 Thương mại điện tử sẽ ngày càng phát triển mạnh mẽ Cơ quan thống kê số liệu liên quan đến Internet thế giới Internet world
stats cho biết số lượng người sử dụng Internet hàng ngày ở châu Á tính đến thời điểm cuối quý hai năm 2009 chiếm đến gần 43 tổng số người dùng Internet trên
tồn thế giới. Theo đó, châu Á có hơn 738,2 triệu người sử dụng Internet. Tính từ năm 2002 đến 2009, số lượng này đã tăng 545,9, tỷ lệ tăng nhanh nhất toàn thế
giới Internet World Stats 2009. Đặc biệt, số lượng người dùng Internet không chỉ tập trung ở thành thị, các thành phố lớn mà ngày càng mở rộng sang các vùng
nông thôn. Dự báo Internet ngày càng trở nên phổ biến trong xã hội châu Á. Trước cơ hội đầy hứa hẹn về một kênh bán lẻ hiện đại và mang đến những
ưu thế vượt trội như vậy, các nhà bán lẻ châu Á vẫn chưa khai thác triệt để. Thương mại điện tử hiện mới chỉ chiếm giữ một phần khá khiêm tốn trong hoạt
động của các doanh nghiệp bán lẻ đến từ châu Á. Theo báo cáo về bán lẻ toàn cầu năm 2009 mà Deloitte đưa ra thì doanh thu bán lẻ từ thương mại điện tử mới chỉ
chiếm khoảng 0.6 tổng doanh thu của bán lẻ của khu vực châu Á Deloitte 2010, tr.31. Vì vậy, chắc chắn trong thời gian tới, các doanh nghiệp bán lẻ trên thị
trường sẽ đầu tư nhiều hơn vào việc triển khai kênh bán hàng đầy tiềm năng này vì
28 28
đây là phương thức kinh doanh đem lại cho doanh nghiệp bán lẻ châu Á rất nhiều lợi ích:
Thứ nhất, trong tình hình giá thuê mặt bằng ở các nền kinh tế sôi động nhất châu Á như Trung Quốc, Singapore, Đài Loan, Việt Nam, .v.v. liên tục tăng và
nguồn cung còn hạn chế, việc bán hàng qua mạng giúp các doanh nghiệp bán lẻ không phải chú ý nhiều đến việc thuê mặt bằng trưng bày hàng hóa. Chi phí th
cửa hàng có thể được tiết kiệm đáng kể. Thứ hai, thương mại điện tử giúp các nhà bán lẻ có thể tiếp cận được với
nguồn khách hàng lớn hơn nhiều. Địa bàn hoạt động hồn tồn có thể mở rộng, khơng chỉ giới hạn ở một khu vực nhất định như việc bán hàng trực tiếp thông qua
các cửa hàng, khu mua sắm. Những nhà bán lẻ lựa chọn thêm kênh bán hàng này thậm chí có thể vươn tới những thị trường ở ngồi quốc gia mình với chi phí thấp
nhất. Ngoài ra, thời gian hoạt động khi bán hàng qua mạng cũng sẽ linh hoạt hơn rất nhiều, cho phép doanh nghiệp hoạt động đến 24 giờ mỗi ngày.
Thứ ba, thương mại điện tử giúp các doanh nghiệp bán lẻ nhỏ có thế cân bằng hơn với các doanh nghiệp lớn do quy mô các doanh nghiệp không phải là
nhân tố quyết định nhất đối với sự thành công của các doanh nghiệp bán lẻ thương mại điện tử. Thương mại điện tử sẽ là một trong những lựa chọn hàng đầu của các
doanh nghiệp bán lẻ mới nổi ở châu Á trong quá trình cạnh tranh với các đại gia bán lẻ phương Tây như Carrefour hay Wal-mart.
Một lợi ích rõ ràng mà hoạt động bán lẻ qua mạng có thể đem lại chính là nó giúp doanh nghiệp dễ dàng tiến hành các hoạt động nghiên cứu hành vi tiêu
dùng của khách hàng, tìm hiểu thị trường và các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong khi đó, người tiêu dùng cũng thu được rất nhiều lợi ích khi mua hàng qua các cửa hàng điện tử này. Người dân châu Á hiện nay, đặc biệt là người dân ở
các quốc gia công nghiệp mới phát triển hay đang phát triển đang có xu hướng tiết
29
kiệm tối đa thời gian mua sắm và lựa chọn hàng hóa của mình. Thương mại điện tử cung cấp cho họ những lựa chọn tối ưu nhất trong thời gian ngắn nhất.
2.2 Nhượng quyền thương mại trên thị trường bán lẻ sẽ ngày càng phổ biến
2.2.1 Khái niệm về nhượng quyền thương mại Nhượng quyền thương mại thuật ngữ Tiếng Anh: franchising có lịch
sử từ nước Mỹ. Đây là một ý tưởng kinh doanh được thực hiện giữa hai bên: phía chuyển giao quyền và phía mua quyền. Phía chuyển giao quyền có thể
là một tổ chức: cơng ty sản xuất hàng hóa hay dịch vụ. Phía mua quyền thường là những cá nhân hay cũng có thể gặp một số tổ chức kinh doanh
độc lập. Hợp đồng nhượng quyền được thiết lập trên cơ sở người mua quyền phải trả hai loại phí cho bên chuyển giao: tiền bản quyền thương hiệu và phí
để được thực hiện các hoạt động kinh doanh với tên và cơng nghệ của phía chuyển giao thường được tính trên doanh số hàng tháng hoặc hàng năm.
Đồng thời, bên mua cũng phải cam kết với bên nhượng quyền phải tổ chức kinh doanh theo đúng tiêu chuẩn và quy trình được quy định bởi phía
chuyển giao.

2.2.2 Hoạt động nhượng quyền trên thị trường bán lẻ châu Á


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (83 trang)

×