1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Hoạt động nhượng quyền trên thị trường bán lẻ châu Á

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (456.88 KB, 83 trang )


kiệm tối đa thời gian mua sắm và lựa chọn hàng hóa của mình. Thương mại điện tử cung cấp cho họ những lựa chọn tối ưu nhất trong thời gian ngắn nhất.
2.2 Nhượng quyền thương mại trên thị trường bán lẻ sẽ ngày càng phổ biến
2.2.1 Khái niệm về nhượng quyền thương mại Nhượng quyền thương mại thuật ngữ Tiếng Anh: franchising có lịch
sử từ nước Mỹ. Đây là một ý tưởng kinh doanh được thực hiện giữa hai bên: phía chuyển giao quyền và phía mua quyền. Phía chuyển giao quyền có thể
là một tổ chức: cơng ty sản xuất hàng hóa hay dịch vụ. Phía mua quyền thường là những cá nhân hay cũng có thể gặp một số tổ chức kinh doanh
độc lập. Hợp đồng nhượng quyền được thiết lập trên cơ sở người mua quyền phải trả hai loại phí cho bên chuyển giao: tiền bản quyền thương hiệu và phí
để được thực hiện các hoạt động kinh doanh với tên và công nghệ của phía chuyển giao thường được tính trên doanh số hàng tháng hoặc hàng năm.
Đồng thời, bên mua cũng phải cam kết với bên nhượng quyền phải tổ chức kinh doanh theo đúng tiêu chuẩn và quy trình được quy định bởi phía
chuyển giao.

2.2.2 Hoạt động nhượng quyền trên thị trường bán lẻ châu Á


Hoạt động nhượng quyền diễn ra khá mạnh mẽ trên thị trường bán lẻ châu Á trong thời gian qua, đặc biệt là việc nhượng quyền các cửa hàng tiện ích
convenience store. 7-Eleven, chuỗi cửa hàng tiện ích bán lẻ lớn nhất thế giới có trụ sở chính đặt ở Dallas, Hoa Kỳ là thương hiệu có hoạt động chuyển nhượng
thành cơng nhất ở châu Á tính đến thời điểm này. 7-Eleven đã chuyển nhượng thành công gần 30,000 cửa hàng tiện ích ở 14 quốc gia, bao gồm các thị trường
chủ yếu ở châu Á như Nhật Bản, Hồng Kông, Đài Loan, Malaysia và Thái Lan. 7- Eleven hiện nay đang tiến hành hai mơ hình nhượng quyền ở thị trường châu Á:
mơ hình nhượng quyền truyền thống dành cho các cá nhân hay công ty bắt đầu hoạt động và chương trình chuyển đổi mơ hình kinh doanh cho các cá nhân, tổ
30 30
chức kinh doanh hiện hữu 7-Eleven 2010. Dairy Farm, một trong những nhà bán lẻ châu Á thành công nhất cũng đang đẩy mạnh các hoạt động chuyển nhượng của
mình trên các thị trường mới nổi của châu Á. Đây là doanh nghiệp đầu tiên và duy nhất ở châu Á thực hiện hoạt động nhượng quyền các cửa hàng chuyên kinh doanh
sản phẩm liên quan đến sữa. Trong thời gian tới, hoạt động nhượng quyền sẽ tiếp tục phát triển trên thị
trường bán lẻ châu Á, đặc biệt là việc nhượng quyền các mơ hình bán lẻ qua các cửa hàng tiện ích do những đặc thù của thị trường này.
Thứ nhất, các tập đoàn bán lẻ nước ngoài khi muốn đặt chân vào châu Á nhưng chưa đủ khả năng để nghiên cứu hay chưa thực sự nắm rõ về thị trường này
có thể phát triển mạng lưới mà khơng phải trực tiếp điều hành hoạt động của các cửa hàng. Hoạt động nhượng quyền cho phép họ bắt tay với các doanh nghiệpcá
nhân ở châu Á. Phía mua quyền này thường có hiểu biết nhất định về thị trường nội địa, dễ dàng tìm kiếm các nguồn cung hàng ổn định, giá hợp lý. Do vậy, phía
mua quyền sẽ giúp quảng bá nhãn hiệu được chuyển nhượng. Thứ hai, đối với các nhà bán lẻ châu Á, tiến hành mua nhượng quyền tỏ ra
khá phù hợp với những doanh nghiệp vừa và nhỏ hay các cá nhân. Do đặc thù của hoạt động nhượng quyền là chi phí bỏ ra không lớn bằng việc gây dựng thương
hiệu và cửa hàng kinh doanh hoàn toàn mới, việc mua nhượng quyền sẽ trở nên hấp dẫn hơn. Bên cạnh đó, hoạt động theo các hợp đồng nhượng quyền từ các nhà
bán lẻ lớn, có tên tuổi, bên mua quyền được tiếp thu nhiều về kinh nghiệm quản lý, tổ chức chuỗi cửa hàng. Thông thường, bên được nhượng quyền sẽ được bên
chuyển giao quyền hỗ trợ trong quá trình xây dựng, thiết kế gian hàng hay lựa chọn danh mục hàng hóa, và kể cả việc đào tạo nhân viên. Điều này có ý nghĩa rất
quan trọng đối với những tổ chức mới hoạt động, thiếu kinh nghiệm kinh doanh. 2.3 Xu hướng MA ngày một gia tăng
2.3.1 Khái niệm MA trên thị trường bán lẻ
31
- Mua lại Acquisition: là việc một doanh nghiệp bán lẻ có tiềm lực tài chính mua lại hoặc thơn tính một doanh nghiệp khác. Trong trường hợp này khơng
có pháp nhân mới nào ra đời và thơng thường doanh nghiệp bị thơn tính sẽ khơng còn tồn tại trên cơ sở pháp lý.
- Sáp nhập Merger: là việc hai hai nhiều doanh nghiệp bán lẻ kết hợp với nhau. Trường hợp này một pháp nhân mới sẽ ra đời và đi vào hoạt động. Pháp
nhân mới này sẽ có giá trị lớn hơn từng doanh nghiệp hoạt động đơn lẻ. 2.3.2 Xu hướng MA trên thị trường bán lẻ châu Á
Xu hướng MA trên thị trường bán lẻ châu Á hiện nay diễn ra sơi nổi nhất tập trung vào loại hình doanh nghiệp sau:
- Doanh nghiệp sở hữu các trung tâm mua sắm hay cửa hàng hạ giá: một trong những vụ MA lớn nhất diễn ra trong thời điểm 2008-2009 là việc công ty
bất động sản Simplex của Nhật Bản mua lại chuỗi trung tâm mua sắm Mitsukoshi- Ikebukuro với giá 705 triệu đô la KPMG 2009, tr.6.
- Doanh nghiệp bán hàng qua mạng hay qua catalog: vụ MA lớn nhất trong mảng này diễn ra khi Ebay mua lại công ty chuyên kinh doanh qua mạng của
Hàn Quốc là GMarket Inc với giá 1,2 tỷ đô la Mỹ KPMG 2009, tr.6. Trong năm 2008-2009, số các vụ MA trên lĩnh vực bán lẻ châu Á đều
giảm về cả số lượng lẫn giá trị do ảnh hưởng từ suy giảm kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, theo đánh giá của nhiều tổ chức kiểm toán, tư vấn hàng đầu trong lĩnh vực
MA, từ sau quý 1 năm 2010, thị trường bán lẻ châu Á sẽ chứng kiến số lượng các vụ MA sẽ lại tăng trở lại. Công ty KPMG đã đưa ra những dự báo về tình
hình MA trên lĩnh vực bán lẻ tồn cầu, trong đó châu Á giữ vị trí là thị trường mục tiêu số 2 trên thế giới, được xếp trên cả thị trường châu Mỹ.
Biểu đồ II.4: Giá trị các hợp đồng MA theo khu vực 62008-62009
Nguồn: KPMG 2009, tr.6
32 32
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này nằm ở hai lý do chính sau: Thứ nhất, cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính 2008 đã khiến nhiều doanh
nghiệp châu Á gặp nhiều rắc rối về kinh tế và giá trị công ty liên tục sụt giảm. Điều này sẽ tạo điều kiện cho nhiều nhà bán lẻ đến từ các quốc gia phát triển hay
chính trong cùng châu lục có kết quả kinh doanh tốt và nguồn lực tài chính ít bị sụt giảm có cơ hội tiến hành hoạt động mua lại.
Thứ hai, trước tình hình thị trường ngày càng xuất hiện nhiều tập đồn bán lẻ khổng lồ đến từ phương Tây, các nhà bán lẻ châu Á sẽ có xu hướng liên kết lại
với nhau. Nhận thức được những lợi ích từ MA như tiết kiệm chi phí nhân viên, tiếp thu cơng nghệ mới, đạt hiệu quả của quy mô hay giành được thị phần, tăng thế
cạnh tranh, các doanh nghiệp bán lẻ có thể đẩy mạnh các hoạt động MA để đứng vững trong cuộc chơi ngày càng khốc liệt này.
2.4 Hệ thống bán lẻ hiện đại sẽ tiếp tục chiếm ưu thế Trong bối cảnh hầu hết các quốc gia châu Á đều bị ảnh hưởng từ cuộc
khủng hoảng tài chính tồn cầu, thị trường bán lẻ của mỗi quốc gia được dự đốn sẽ có những thay đổi đáng kể. Theo dự đoán, trong tương lai, hệ thống bán lẻ hiện
đại với ba mơ hình kinh doanh: đại siêu thị, siêu thị và cửa hàng tiện ích sẽ vẫn giữ thế vượt trội nhưng sẽ xuất hiện thêm các mơ hình bán lẻ mới.
Cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra vào năm 2008 đã làm thay đổi thói quen tiêu dùng, mua sắm có một bộ phận khơng nhỏ người tiêu dùng châu Á. Họ đã trở
nên ngày càng quan tâm đến giá cả hàng hóa và các chương trình khuyến mại giảm giá mà các nhà bán lẻ đưa ra. Theo thống kê của công ty nghiên cứu thị trường
Nielsen năm 2009, có đến 70 dân châu Á chú ý nhiều đến giá cả hơn so với năm 2008 Nielsen 2009. Kết quả là họ chỉ mua những thứ thực sự cần thiết hơn là
những thứ bắt mắt và cố gắng giảm số lượng hàng hóa phải mua và ngày càng muốn tìm kiếm những sản phẩm giảm giá.
Trước tình hình đó, thị trường châu Á trong thời gian tới được dự báo sẽ chứng kiến sự bùng nổ của một loạt các cửa hàng giảm giá discount stores.
33
Các cửa hàng giá rẻ trong thời gian gần đây đã gây dựng cho mình một khối lượng khách hàng khá đơng đảo và một văn hóa mới mẻ. Rất nhiều người tiêu
dùng châu Á đã tạo ra hoặc chạy theo trào lưu “săn lùng hàng hạ giá” vào các thời điểm nghỉ lễ, hình thành một nét sinh hoạt mới mẻ trong xã hội châu Á.
Ngoài hệ thống cửa hàng hạ giá, thị trường bán lẻ châu Á trong thời gian tới, theo cơ quan nghiên cứu thị trường thuộc IBM IBM 2007, tr.44-50, sẽ chứng
kiến sự ra đời và bùng nổ của một số loại hình bán lẻ hiện đại sau:

Siêu thị nhỏ mini-mart Là mơ hình bán lẻ tự phục vụ quy mô nhỏ hơn siêu thị, thường được đặt ở
các khu dân cư. Số lượng sản phẩm được bán trong các siêu thị với các chủng loại chính là thực phẩm tươi sống, lương thực khơ và các sản phẩm phục vụ nhu cầu sử
dụng hàng ngày của các hộ gia đình. Khác với các cửa hàng tiện ích, các siêu thị nhỏ này khơng bán bánh kẹo cao cấp, thuốc lá hay báo, tạp chí. Diện tích mỗi siêu
thị khá nhỏ, chỉ từ 100 đến 300 mét vuông. Giá bán ở đây chỉ ngang bằng giá ở các chợ truyền thống nhưng hàng hóa được trình bày có tính thẩm mỹ cao và đảm
bảo về vệ sinh. Do ở nhiều thị trường ở các quốc gia châu Á, một tỷ lệ không nhỏ người
mua sắm thường đi bộ hay sử dụng các phương tiện giao thông công cộng nên các đại siêu thị ở xa khu trung tâm hay các siêu thị lớn nằm trong các khu mua sắm
sầm uất thường khơng phù hợp. Vì vậy, mơ hình nằm trong các khu dân cư này có tiềm năng phát triển mạnh trong tương lai.

Đại siêu thị cỡ nhỏ compact hypermarket Đây là loại hình đại siêu thị quy mô nhỏ, với số lượng, chủng loại hàng hóa
ít hơn đại siêu thị. Mơ hình kinh doanh này khắc phục được những khó khăn về mặt bằng kinh doanh cũng như những hạn chế về mặt pháp lý mà các đại siêu thị
thường gặp phải. Ngoài ra, do số lượng hàng hóa ít hơn, việc mua sắm ở mơ hình bán lẻ này sẽ thuận lợi và tiết kiệm đáng kể về thời gian so với mua sắm ở các đại
siêu thị. Bên cạnh đó, nó cũng thể hiện những đặc điểm vượt trội so với các siêu
34 34
thị như cho phép người mua sắm tiếp cận với các khu ẩm thực hay giải trí. Diện tích mỗi cửa hàng từ 2000 đến 6000 mét vuông và thường được xây dựng nhiều
tầng.

Cửa hàng bán sản phẩm chuyên dụng specialty store Mơ hình cửa hàng này mục đích phục vụ cho người có thu nhập cao trong
xã hội, sản phẩm được cá biệt hóa, thường là sản phẩm sạch, nguồn gốc thiên nhiên, sản phẩm chức năng, bổ dưỡng, chất lượng thượng hạng. Diện tích mỗi cửa
hàng từ khoảng 200 đến 500 mét vuông. Các cửa hàng này thường là các đại lý độc quyền trong một khu vực địa lý nhất định.

Cửa hàng tiện ích kiểu mới convenience plus Các cửa hàng này thường được đặt ở trung tâm, những phố mua sắm sầm
uất, hay các khu mua sắm trong các khu dân cư tập trung hay gần những trạm xăng, điểm dừng xe buýt. Hàng hóa được bán thường là lương thực, thực phẩm
khô và thực phẩm tươi sống, bánh mỳ, thuốc lá, bánh kẹo, báo, tạp chí và các hàng hóa thiết yếu khác. Giá hàng hóa đắt hơn siêu thị từ 10 đến 15. Diện tích mỗi
cửa hàng từ 200 đến 800 mét vng.
III. HAI THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ ĐIỂN HÌNH CỦA CHÂU Á GIAI ĐOẠN 2000 ĐẾN NAY
Như đã phân tích ở trên, hầu hết các quốc gia châu Á đều theo đuổi mơ hình kinh tế mở, tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài vào hoạt động trong lĩnh
vực bán lẻ. Tuy nhiên, mỗi quốc gia chọn cho mình một hướng đi riêng với lộ trình mở cửa đặc trưng. Ở một số quốc gia sau khi thị trường bán lẻ được mở cửa,
thị trường đã hoàn toàn bị chi phối bởi các tập đoàn bán lẻ phương Tây. Bên cạnh đó, cũng có những quốc gia với những chính sách thương mại khơn ngoan đã tạo
điều kiện cho doanh nghiệp nước mình đứng vững trong cuộc cạnh tranh với nhà đầu tư nước ngồi. Đến đây tơi xin đưa ra hai ví dụ điển hình về q trình mở cửa
thị trường bán lẻ ở Thái Lan và Hàn Quốc.
35
1. Thái Lan 1.1 Chính sách mở cửa thị trường một cách ồ ạt của Chính phủ Thái Lan
Thái Lan chính thức gia nhập WTO vào năm 1995. Tuy nhiên nước này lại không cam kết bất cứ điều khoản nào về thực hiện tự do hóa dịch vụ bán lẻ. Chỉ
khi cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 nổ ra, do thiếu vốn trầm trọng, Chính phủ Thái Lan đã tìm mọi cách thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường bán lẻ.
Cuối những năm 1980, nhà đầu tư nước ngoài chỉ được phép hoạt động trên thị trường bán lẻ dưới hình thức liên doanh với doanh nghiệp nội địa và nắm giữ
không quá 49 tổng số vốn. Tuy nhiên, sau khủng hoảng 1997, Chính phủ đã ngay lập tức cho phép các cơ sở bán lẻ 100 vốn nước ngoài được hoạt động nếu
nhà đầu tư bỏ vốn tối thiểu 2,5 triệu Euro. 1.2 Thất bại của các doanh nghiệp bán lẻ Thái Lan trên thị trường nội địa
Hệ quả của chính sách mở cửa khơng kiểm sốt của chính phủ Thái Lan đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới mảng bán lẻ truyền thống của quốc gia này. Hàng loạt
cửa hàng bán lẻ truyền thống ở thủ đô Băng Cốc và các tỉnh khác đã bị phá sản, đặc biệt là ở những vùng xuất hiện các cửa hàng tiện ích hoạt động dưới hình thức
nhượng quyền thương hiệu. Trong khi đó, những nhà bán lẻ nước ngoài bằng việc kinh doanh bán hàng qua các cửa hiệu giảm giá dần tạo vị trí độc quyền trên thị
trường nước này. Đến năm 2001, tức là chưa đầy 5 năm sau khi mở cửa thị trường, hệ thống bán lẻ qua các cơ sở giảm giá discount stores đã chiếm được 23 thị
phần. 97 chuỗi các cửa hàng giảm giá thuộc sở hữu của các nhà bán lẻ nước ngồi. Trong khi đó, thị phần của hệ thống bán lẻ truyền thống sau khi giảm gần
10.000 cửa hàng đã sụt giảm mạnh, từ 74 xuống còn 46 Macedo, Jorge và Chino, Tadao 2003, tr.31.
Tình hình còn xấu hơn khi chính những nhà cung cấp trong nước cũng bị ảnh hưởng rất nghiêm trọng. Sự ra đời của các cửa hàng giảm giá đã đẩy một số
lượng lớn nhà cung cấp Thái Lan vào thế bất lợi trong các vụ mặc cả giá bán hàng hóa.
36 36
Sự kiện này đã gây ảnh hưởng sâu sắc tới xã hội Thái Lan, tạo nên làn sóng phản đối tồn cầu hóa mạnh mẽ trong người dân nước này. Chính phủ Thái Lan
đối mặt với sức ép phải đóng cửa thị trường bán lẻ của mình. Trong tình trạng đó, một loạt các chính sách “chữa cháy” đã được Chính phủ đưa ra, chủ yếu là các
biện pháp về mặt quản lý. Có thể kể đến một số biện pháp như việc Chính phủ hỗ trợ cho việc thành lập các cửa hàng bán lẻ cộng đồng community retail shops,
đào tạo đội ngũ quản lý cho những cửa hàng bán lẻ nhỏ, thiết lập bộ phận tư vấn Retail Clinic,… Macedo, Jorge và Chino, Tadao 2003, tr. 32-33.
Vai trò của Chính phủ tập trung vào việc tháo gỡ khó khăn về mặt tài chính cho hệ thống các cửa hàng bán lẻ truyền thống hay các siêu thị bán lẻ quy mô nhỏ.
Tuy nhiên, những biện pháp này không phát huy được tối đa tác dụng do không được xây dựng và thực thi một cách hệ thống, tác động chỉ dừng ở mức tạm thời.
Bên cạnh đó, việc Chính phủ sửa đổi lại các bộ Luật đã làm cản trở q trình tự do hóa thương mại, cạnh tranh bình đẳng trên thị trường. Doanh nghiệp bán lẻ của
Thái Lan ngày càng mất tính cạnh tranh so với các doanh nghiệp nước ngồi. 2. Hàn Quốc
2.1 Chính sách của Chính phủ Hàn Quốc về thị trường bán lẻ Hàn Quốc bắt đầu mở cửa hoàn toàn thị trường bán lẻ của mình vào năm
1996. Nhờ đó, ngành cơng nghiệp nước này chứng kiến sự xuất hiện của nhiều mô hình kinh doanh mới cùng với sự lớn dần về mặt quy mô của các doanh nghiệp
bán lẻ cả trong nước lẫn nước ngồi. Để tăng tính hiệu quả của thị trường bán lẻ, Chính phủ Hàn Quốc đã thực
hiện từng bước q trình tự do hóa trên thị trường bán lẻ. Chính sách bán lẻ của nước này được chia làm ba giai đoạn:
Giai đoạn 1: bắt đầu diễn ra vào khoảng giữa năm 1989 đến giữa năm 1991. Vào giai đoạn này, Chính phủ Hàn Quốc thực hiện nới lỏng các quy định về việc
các công ty nước ngồi có thể thiết lập các chi nhánh hay thực hiện đầu tư trực tiếp vào đất nước.
37
Giai đoạn 2: tiếp nối giai đoạn 1, thực hiện trong khoảng giữa năm 1991 đến giữa năm 1993. Vào thời điểm này, các doanh nghiệp nước ngồi có thể mở
các cửa hàng ở Hàn Quốc. Tuy nhiên, Chính phủ quy định diện tích của mỗi cửa hàng khơng được q 1000 mét vng. Bên cạnh đó, số lượng cửa hàng mà mỗi
doanh nghiệp nước ngồi được mở cũng khơng được lớn hơn con số 10. Giai đoạn 3: thực hiện vào giữa năm 1993 đến năm 1995. Trong thời kỳ
này, những quy định về diện tích cũng như số lượng cửa hàng các nhà bán lẻ nước ngoài được phép mở quy định trong giai đoạn hai được nới rộng hơn. Doanh
nghiệp nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực bán lẻ trên thị trường Hàn Quốc có thể mở đến 20 cửa hàng với diện tích mỗi cửa hàng có thể là 3000 mét vng.

Ủy ban thương mại lành mạnh Hàn Quốc KFTC
Thành lập từ đầu những năm 1980, Ủy ban này có 4 nhiệm vụ chính là: khuyến khích cạnh tranh công bằng; củng cố quyền lợi khách hàng; thiết lập môi
trường cạnh tranh cho các doanh nghiệp nội địa vừa và nhỏ và hạn chế sự bành trướng, lạm dụng của các tập đoàn khổng lồ. Trong 4 chức năng này, Ủy ban đã
thực hiện mạnh mẽ nhất chức năng hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước, đặc biệt là sau khi Hàn Quốc thực hiện những cam kết của mình trong
khn khổ WTO. Ủy ban này đã đưa vào thi hành 9 bộ luật trong đó có “Những quy định về độc quyền Monopoly regulation và Luật về “Thương mại bình đẳng”
Fair Trade Act. Cụ thể trong lĩnh vực bán lẻ, nếu bất cứ doanh nghiệp nào đang chiếm được phần lớn thị trường lạm dụng vị trí của mình với mục đích cạnh tranh
khơng cơng bằng, KFTC sẽ ra lệnh cho doanh nghiệp phải giảm giá hàng loạt, ngay lập tức chấm dứt hành vi của mình. Đồng thời, KFTC sẽ cơng bố rộng rãi vi
phạm của doanh nghiệp đó hoặc sử dụng các biện pháp theo các bộ luật liên quan. Doanh nghiệp có thể chịu phạt lên tới 3 tổng doanh thu trong thời kỳ xảy ra vi
phạm. Chính những biện pháp này đã giúp Chính phủ tối thiểu hóa sự bành trướng của các tập đoàn bán lẻ khổng lồ và bảo vệ các nhà bán lẻ trong nước quy mô nhỏ
không bị phá sản khi thị trường được mở cửa hoàn tồn KFTC 2010.
38 38
2.2 Thành cơng của các doanh nghiệp bán lẻ Hàn Quốc trong việc giữ thị phần của mình trước sự xâm chiếm của các tập đồn quốc tế
Sự thành công của các nhà bán lẻ nội địa của Hàn Quốc được đánh dấu bằng sự kiện tập đoàn bán lẻ hàng đầu thế giới Wal-mart phải rút khỏi thị trường
này bằng việc bán lại 16 cửa hàng trên khắp Hàn Quốc cho Shinsegae với mức giá được cho rằng đã gây ra một khoản lỗ khổng lồ: 882 triệu đơ la Mỹ vào năm 2006.
Ngay trước đó, một tập đoàn bán lẻ khổng lồ khác, Carrefour cũng phải rút khỏi thị trường Hàn Quốc bằng việc bán lại 32 cửa hàng bán lẻ của mình cho một
doanh nghiệp nội địa là E-land theo một hợp đồng trị giá 1,85 tỷ đô la Mỹ Renee, Kim B 2006, tr3-7. Shinsegae là nhà bán lẻ lớn nhất Hàn Quốc, chiếm tới 30 thị
phần cả thị trường bán lẻ. Tập đoàn này được xếp hạng 85 trong top 250 nhà bán lẻ lớn nhất toàn cầu xét trên doanh số bán lẻ vào năm 2008. Doanh thu bán lẻ của
Shinsegae vào khoảng trên 10 tỷ đô Deloitte 2010, tr.13. Đây được coi là sự thành cơng khá bất ngờ vì trước đó hai đại gia này gần
như chưa khi nào gặp phải thất bại khi vươn ra các thị trường quốc tế. Thành công của những nhà bán lẻ hàng đầu Hàn Quốc có thể được giải thích bằng những lý do
sau: Thứ nhất, về địa điểm kinh doanh: trong khi các doanh nghiệp bán lẻ đến từ
phương Tây lựa chọn địa điểm xây dựng cửa hàng là những khu diện tích lớn, thường ở các vùng ngoại ơ, xa trung tâm thì các doanh nghiệp bán lẻ Hàn Quốc lại
lựa chọn cho mình những cửa hiệu ở các khu trung tâm. Người dân Hàn Quốc khác người dân phương Tây ở một điểm rất quan trọng là họ đi mua sắm thường
xuyên hơn. Vì vậy, mặc dù các cửa hàng của nhà bán lẻ trong nước diện tích nhỏ song có thuận lợi về giao thơng đã thu hút được số lượng khách nhiều hơn.
Thứ hai là về sản phẩm. Văn hóa Hàn Quốc rất ưa chuộng việc sử dụng các sản phẩm sản xuất trong nước. Nắm bắt được tâm lý này, các nhà bán lẻ Hàn Quốc
luôn tìm cách tối đa hóa danh mục sản phẩm của mình bằng những sản phẩm nội địa. Bên cạnh đó, người Hàn Quốc cũng rất quan trọng đến cách trưng bày sản
phẩm hay chính xác hơn chính là tính thẩm mỹ của mỗi gian hàng. Trong khi tập
39
đoàn bán lẻ từ phương Tây do quá chú trọng tới việc tận dụng từng khoảng không gian nhỏ để bày được nhiều hàng hóa đã quên mất việc đầu tư vào cách bài trí gian
hàng. Ngược lại, trong các cửa hàng bán lẻ của doanh nghiệp Hàn Quốc, hàng hóa được bày rất đẹp mắt, thuận tiện cho khách hàng có thể tự tay kiểm tra thay vì phải
nhờ tới sự trợ giúp của nhân viên phục vụ. Hàng hóa bán trong các cửa hiệu như E-mart hiếm khi bị gói kỹ trong hộp kín như hàng hóa bày bán trong chuỗi các
siêu thị của Wal-mart hay Carrefour. Ngoài ra, lựa chọn về chủng loại sản phẩm cũng được các tập đoàn bán lẻ Hàn Quốc sử dụng để cạnh tranh với các tập đoàn
châu Âu và Bắc Mỹ. Người dân Hàn Quốc thích mua những sản phẩm tươi sống thay vì sản phẩm qua chế biến. Do đó, trong mỗi siêu thị của Shinsegae hay Lotte,
người tiêu dùng có thể dễ dàng tìm kiếm thực phẩm theo nhu cầu của mình tại các quầy thực phẩm tươi sống trong khn viên siêu thị. Trong khi đó, Wal-mart hay
Carrefour lại tập trung trưng bày các sản phẩm đóng hộp, thực phẩm khô hay đồ điện tử gia dụng.
Lý do thứ ba chính là các chương trình khuyến khích mua hàng. Các cửa hàng của E-mart hay Lotte đã thành công bằng việc thuê những nhân viên sử dụng
các hệ thống loa cỡ lớn hay xếp hàng vào giờ mở cửa và chào đón khách hàng bằng những tràng vỗ tay lớn. Phong cách này đã thu hút được sự chú ý của một số
lượng lớn khách hàng. Lý do thứ tư khiến các doanh nghiệp bán lẻ Hàn Quốc giành được ưu thế là
ở chỗ họ đã biết xây dựng mối quan hệ mật thiết với những nhà sản xuất, cung cấp hàng hóa nội địa. Wal-mart hay Carrefour ln tìm cách hạ thấp giá mua hàng để
đạt được lợi thế về giá sản phẩm bán ra bằng những cách tác động lên nhà sản xuất, phân phối sản phẩm. Nhiều trường hợp, những tập đoàn lớn này đã tận dụng
ưu thế về mặt tài chính của mình để gây sức ép với nhà cung cấp, khiến một số lượng lớn tỏ ra hết sức bất bình. Khi xuất hiện trên thị trường Hàn Quốc, các nhà
bán lẻ phương Tây này đã gặp phải nhiều vụ khởi kiện từ nhà sản xuất, ảnh hưởng đến uy tín của mình. Nhà sản xuất nội địa do đó khá e dè trong việc bắt tay với
những nhà bán lẻ này. Trong khi đó, những nhà bán lẻ hàng đầu Hàn Quốc đã tận
40 40
dụng cơ hội để củng cố mối quan hệ của mình với những nhà cung cấp truyền thống. Vì vậy, họ luôn đảm bảo được nguồn hàng dồi dào, giá cả ổn định cung cấp
cho khách hàng. Bài học rút ra được từ thành công của những nhà bán lẻ Hàn Quốc là họ đã
nắm rõ tâm lý, hiểu được văn hóa, truyền thống, thói quen mua sắm của người tiêu dùng nội địa. Từ đó, họ có thể điều chỉnh những chiến lược phù hợp với những
biến động trên thị trường.
CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ NHẰM PHÁT
TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRONG TƯƠNG LAI
I. THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM 1. Khái quát về thị trường bán lẻ Việt Nam
1.1 Các loại hình kinh doanh bán lẻ khá phong phú đa dạng 1.1.1 Hệ thống bán lẻ truyền thống vẫn chiếm ưu thế
Thị trường bán lẻ Việt Nam nhìn chung là thị trường phân tán và quy mơ còn khá khiêm tốn nếu xét trên quy mô dân số. Chợ và các cửa hàng theo kiểu hộ
41
gia đình vẫn chi phối cả thị trường. Mặc dù quy định mới về việc cấm bán hàng rong tại một số quận nội thành ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã được ban
hành từ tháng 22008, loại hình này vẫn giữ vai trò đáng kể trong thói quen mua sắm của người Việt Nam.
Đặc biệt ở khu vực nông thơn nơi có hơn 70 dân số Việt Nam đang sinh sống, hệ thống bán lẻ truyền thống chiếm vị trí gần như áp đảo.
Theo thống kê của RNCOS, trong thời kỳ từ 2006 đến nay, doanh thu từ hệ thống bán lẻ truyền thống đang giữ khoảng 90 tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa
trên thị trường. Riêng tại thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh, nơi xuất hiện ngày càng nhiều các mơ hình bán lẻ hiện đại, thị phần của hệ thống bán lẻ truyền thống
vào khoảng 75-80 RNCOS 2008, tr.62. 1.1.2 Các loại hình kinh doanh bán lẻ hiện đại khá phong phú, đa dạng
Hệ thống bán lẻ hiện đại hiện đang tồn tại ở Việt Nam dưới rất nhiều hình thức khác nhau: trung tâm mua sắm, trung tâm thương mại, đại siêu thị, siêu thị,
siêu thị nhỏ, cửa hàng tiện ích, cửa hàng chuyên doanh,… Thành phố Hồ Chí Minh là nơi siêu thị đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam.
Tháng 10 năm 1993, siêu thị đầu tiên được mở là một siêu thị thuộc sở hữu nhà nước. Tính từ thời điểm đó tới nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, sự gia
tăng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI và sự tăng trưởng mạnh mẽ của ngành du lịch nội địa đã thúc đẩy các mô hình bán lẻ hiện đại nở rộ ở Việt Nam.
Sự tăng lên về số lượng các cửa hàng bán lẻ hiện đại ở 6 thành phố lớn là Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ và Hồ Chí Minh có thể được thể hiện
trong bảng sau trong tương quan với số lượng các cửa hàng thuộc kênh bán lẻ truyền thống.
KÊNH BÁN LẺ 2006
2007 2008
42 42
SỐ LƯỢNG
TỶ LỆ TĂNG
SO VỚI 2006
SỐ LƯỢNG
TỶ LỆ TĂNG
SO VỚI 2007
Hiện đại các loại hình siêu thị và cửa
hàng tiện ích 230
368 60
425 15,5
Truyền thống 88.035
96.957 10
99.687 2,8
Bảng III.1: Số lượng cửa hàng bán lẻ theo loại hình tại 6 thành phố lớn nhất Việt Nam
Nguồn: Global Agriculture Information Network – GAIN 2010, tr.3-11
Hệ thống bán lẻ hiện đại của Việt Nam ngồi việc phân chia dựa trên mơ hình kinh doanh còn có thể phân loại dựa trên hình thức sở hữu. Theo đó, các cửa
hàng bán lẻ hiện đại có thể được phân thành ba loại với những đặc trưng sau:

Thuộc sở hữu nhà nước: mặc dù siêu thị bán lẻ hiện đại đầu tiên của Việt Nam là của nhà nước song các cửa hàng bán lẻ loại này đang ngày càng
mất dần thị phần trên thị trường bán lẻ. Tốc độ tăng trưởng của mơ hình kinh doanh bán lẻ thuộc sở hữu nhà nước cũng thấp nhất, chỉ đạt khoảng
12năm trong giai đoạn từ 2002-2008 RNCOS 2008, tr.56.

Thuộc sở hữu tư nhân hay các doanh nghiệp trong nước: loại hình này đang dẫn đầu về số lượng các cửa hàng, chiếm vị trí áp đảo trên thị trường bán
lẻ. Tốc độ tăng trưởng hàng năm đều trên 20 RNCOS 2008, tr.56.
Sài Gòn Co.op Mart – Nhà bán lẻ hàng đầu Việt Nam
Ví dụ thành cơng nhất về nhà bán lẻ Việt Nam không thuộc sở hữu nhà nước là chuỗi siêu thị Co.opMart. Từ khi siêu thị đầu tiên ra đời Co.pMart Cống Quỳnh
năm 1996, Saigon-Co.op đã không ngừng phát triển và trở thành hệ thống siêu thị bán lẻ lớn nhất Việt Nam với hơn 40 siêu thị. Hệ thống siêu thị Co.opMart là một
43
trong những hệ thống siêu thị lớn trong nước với sự đầu tư hiện đại, công nghệ quản lý chuyên nghiệp. Thành cơng của chuỗi siêu thị Sài Gòn Co.op Mart có
được là do những người lãnh đạo ngay từ thời kỳ đầu đổi mới đã nhanh chóng thay đổi tư duy, học hỏi kinh nghiệm bán lẻ từ các thị trường phát triển trong khu
vực và trên thế giới, sớm phát triển mơ hình kinh doanh theo hướng hiện đại, phù hợp với xu thế phát triển chung của thị trường.
Thành cơng của Sài Gòn Co.op Mart đáng kể nhất là doanh nghiệp bán lẻ duy nhất của Việt Nam được bầu chọn trong top 500 nhà bán lẻ hàng đầu châu Á trong
sáu năm liên tiếp 2004-2009

Thuộc sở hữu nước ngồi: mặc dù các mơ hình kinh doanh này mới chỉ giữ thị phần nhỏ trên thị trường nhưng tăng trưởng khá mạnh, gần 20năm và
dự đoán sau khi thị trường được hồn tồn mở cửa thì sẽ đạt mức tăng lớn hơn đáng kể RNCOS 2008, tr.58.
Trên thị trường bán lẻ Việt Nam, Big C và Metro là hai tập đồn bán lẻ đến từ nước ngồi có hoạt động rộng khắp nhất. Hai tập đoàn này sẽ được trình bày trong
phần kế tiếp khi phân tích về sự phát triển của các tập đoàn bán lẻ toàn cầu. 1.2 Các tập đoàn bán lẻ nước ngoài ngày càng mở rộng phạm vi hoạt động và
chiếm lĩnh thị trường Mặc dù phải đến thời điểm 112009, thị trường bán lẻ Việt Nam mới mở
cửa cho các doanh nghiệp 100 vốn nước ngoài hoạt động theo những cam kết trong khuôn khổ WTO, trên thực tế, các cơ sở bán lẻ 100 vốn đầu tư nước ngồi
đã có mặt ở Việt Nam từ cuối những năm 1990. Các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài lớn hiện đang hoạt động trên thị
trường Việt Nam gồm có chuỗi siêu thị Big C của tập đoàn Casino Pháp, các đại siêu thị bán bn của Metro Cash Carry Đức, tập đồn Parkson của Malaysia,
Dairy Farm của Hồng Kông, Lotte của Hàn Quốc,.v.v. Trong phần này em xin được phân tích mơ hình kinh doanh bán lẻ của một số tập đoàn nước ngoài tại Việt
Nam.
44 44
Big C
Big C thuộc quyền sở hữu của tập đoàn Casino. Đây là một trong những tập đoàn bán lẻ hàng đầu châu Âu với hơn 9.000 cửa hàng tại hàng chục các quốc gia
châu Âu và châu Á. Số lượng nhân viên của tập đoàn này lên tới 190.000. Big C xuất hiện ở Việt Nam bằng việc mở siêu thị ở Đồng Nai vào năm
1998. Hiện nay, Big C đã mở rộng hoạt động của mình sang hầu hết các thành phố lớn của Việt Nam, bao gồm: thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà
Nẵng, Biên Hòa, với tổng số 10 đại siêu thị và siêu thị bán lẻ. Big C ở Hà Nội Bourbon Thăng Long là đại siêu thị lớn nhất trong chuỗi 10 trung tâm. Mỗi trung
tâm mua sắm của Big C phục vụ trên 50.000 mặt hàng với chủng loại vô cùng phong phú. Ở các siêu thị của Big C, khách hàng có thể lựa chọn thực phẩm tươi
sống, hàng tạp hóa, quần áo, đồ trang trí nội thất, cũng như các mặt hàng điện máy như đồ gia dụng và thiết bị nghe nhìn. Giá của các mặt hàng trong chuỗi các siêu
thị Big C đều có giá cả cạnh tranh và một số lượng lớn được bán với giá thấp hơn giá bán tại các chợ truyền thống.
Metro Cash Carry
Trung tâm Metro đầu tiên khai trương ở Việt Nam vào tháng 3 năm 2002 tại thành phố Hồ Chí Minh. Tính đến thời điểm cuối năm 2009, tập đồn Metro đã có
9 đại siêu thị hoạt động ở Việt Nam: 3 trung tâm tại thành phố Hồ Chí Minh, 1 trung tâm tại thành phố Biên Hòa, 2 trung tâm ở thủ đơ Hà Nội, và ở thành phố
khác là Cần Thơ, Đà Nẵng và Hải Phòng. Theo kế hoạch, trong năm 2010, 4 trung tâm mua sắm của Metro sẽ tiếp tục ra đời trên thị trường bán lẻ Việt Nam.
Cash and Carry là trả tiền mặt và vận chuyển. Phương thức kinh doanh này còn khá mới mẻ trên thị trường Việt Nam nhưng đã khá phổ biển và gặt hái được
thành cơng trên các thị trường phát triển. Nhóm khách hàng mục tiêu là các khách hàng chuyên nghiệp, thường xuyên mua sắm với khối lượng lớn. Nhóm khách
hàng này bao gồm các nhà bán buôn, nhà phân phối, các đại lý, chủ các cửa hiệu
45
tạp hóa, nhà hàng, khách sạn,… Metro chỉ phục vụ cho những khách hàng có thẻ hội viên.
Parkson
Parkson thuộc sở hữu của công ty Malaysia hiện đang quản lý hơn 70 trung tâm ở Malaysia và Trung Quốc.
Tại Việt Nam, Parkson bắt đầu mở trung tâm mua sắm đầu tiên ở thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2005 và đến nay đã có tất cả 6 trung tâm mua sắm Parkson
ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng. Mơ hình kinh doanh của Parkson là chuỗi các trung tâm mua sắm tập trung những nhãn hiệu thời trang, mỹ phẩm và
các sản phẩm thời thượng nhất trên thế giới nhằm vào đối tượng khách hàng mục tiêu là tầng lớp trung lưu và thượng lưu trong xã hội. Phương châm kinh doanh
của Parkson là đem đến cho khách hàng những trải nghiệm mua sắm thú vị và độc đáo bằng việc thiết kế những gian hàng có tính thẩm mỹ cao, một bộ sưu tập vô
cùng đa dạng những nhãn hàng nổi tiếng nhất trên thế giới. Parkson luôn đưa ra những chương trình khuyến mại giảm giá lớn vào mỗi dịp lễ, tết đặc trưng trên
mỗi thị trường.
Best Carings
Best carings là chuỗi siêu thị chuyên kinh doanh hàng điện tử gia dụng. Chuỗi cửa hàng này ra đời là kết quả của hợp đồng nhượng quyền thương mại
giữa công ty Tiếp thị Bến Thành và tập đoàn bán lẻ điện tử của Nhật bản là Best Denki.
Từ năm 1999, công ty Tiếp thị Bến Thành đã kinh doanh sản phẩm điện tử gia dụng và liên tục giữ vị trí doanh nghiệp bán buôn sản phẩm điện máy lớn nhất
Việt Nam. Doanh thu từ hoạt động kinh doanh của công ty luôn tăng trưởng ở mức trên 50 suốt từ năm 2006.
Tập đoàn bán lẻ điện tử Nhật Bản Best Denki bắt đầu hoạt động trên thị trường quốc tế từ năm 1985. Tính đến thời điểm hết năm 2009, tập đồn này đã có
40 cửa hàng trên khắp châu Á.
46 46
Phương châm kinh doanh của Best Carings Việt Nam là kết hợp giữa thế mạnh của sự hiểu biết về nhu cầu người tiêu dùng trong nước của Carings và
phương pháp tiếp cận khách hàng của doanh nghiệp Nhật Bản. Siêu thị Best Carings đi vào hoạt động đầu tiên vào năm 2008 ở Hà Nội. Đây là siêu thị điện
máy đạt tiêu chuẩn quốc tế đầu tiên ở thành phố này với công nghệ quản lý, phong cách trưng bày và dịch vụ khách hàng đều theo tiêu chuẩn Nhật Bản. Hiện nay
chuỗi siêu thị của Best Carings ở Việt Nam đã mở được 3 siêu thị ở 3 thành phố lớn là Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ. Kế hoạch kinh doanh của Best
Carings là đến hết năm sẽ có 11 cửa hàng trên khắp Việt Nam và trở thành nhà bán lẻ điện máy lớn nhất, hoạt động chuyên nghiệp nhất ở Việt Nam.
1.3 Các doanh nghiệp bán lẻ trong nước còn yếu kém

1.3.1 Quy mô nhỏ


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (83 trang)

×