1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Quy mô nhỏ II: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ CHÂU Á

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (456.88 KB, 83 trang )


Phương châm kinh doanh của Best Carings Việt Nam là kết hợp giữa thế mạnh của sự hiểu biết về nhu cầu người tiêu dùng trong nước của Carings và
phương pháp tiếp cận khách hàng của doanh nghiệp Nhật Bản. Siêu thị Best Carings đi vào hoạt động đầu tiên vào năm 2008 ở Hà Nội. Đây là siêu thị điện
máy đạt tiêu chuẩn quốc tế đầu tiên ở thành phố này với công nghệ quản lý, phong cách trưng bày và dịch vụ khách hàng đều theo tiêu chuẩn Nhật Bản. Hiện nay
chuỗi siêu thị của Best Carings ở Việt Nam đã mở được 3 siêu thị ở 3 thành phố lớn là Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ. Kế hoạch kinh doanh của Best
Carings là đến hết năm sẽ có 11 cửa hàng trên khắp Việt Nam và trở thành nhà bán lẻ điện máy lớn nhất, hoạt động chuyên nghiệp nhất ở Việt Nam.
1.3 Các doanh nghiệp bán lẻ trong nước còn yếu kém

1.3.1 Quy mơ nhỏ


Doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam nói chung đều gặp khó khăn về vốn. Có thể lấy một ví dụ rất điển hình. Một siêu thị bán lẻ do một doanh nghiệp Việt Nam mở
thường chỉ được đầu tư số vốn chưa đến 10 tỷ trong khi đó nhà bán lẻ nước ngồi có thể đầu tư gấp 13 lần, lên đến 130 tỷ. Một hệ quả khá rõ ràng là doanh thu bình
quân của một siêu thị Việt Nam chỉ bằng 35 một siêu thị của nước ngoài Hồng, Văn 2009.
Nguồn vốn hạn chế là một trong những thách thức lớn nhất mà doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt trong cuộc đua với những tập đoàn bán lẻ nước
ngoài. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực phân phối bán lẻ nhưng còn mở rộng quy mô kinh doanh sang một số lĩnh vực khác như xuất nhập
khẩu nên vốn dành cho hoạt động bán lẻ lại càng bị hạn chế. Do thiếu vốn, các nhà bán lẻ Việt Nam không thể đầu tư cho nghiệp vụ hậu
cần: bến bãi, kho hàng hay phương tiện chuyên chở. Điều này khiến cho các nhà bán lẻ Việt Nam ngày càng tụt lại trong cuộc đua với những nhà bán lẻ nước ngồi
chun nghiệp. Vì đầu tư vào kho bãi rất nhỏ bé, họ không thể dự trữ số lượng hàng lớn do vậy không thể nhanh nhạy đáp ứng nhu cầu thị trường như các nhà
47
bán lẻ nước ngồi. Bên cạnh đó, phần lớn kho hàng của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam đều rơi vào tình trạng khá lạc hậu, khơng được trang bị đầy đủ hệ thống
làm mát. Điều này ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng hàng hóa bán ra. Hạn chế về phương tiện chuyên chở cũng làm giảm tính cạnh tranh của các
doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam. Nếu trên các thị trường phát triển và trong các chuỗi siêu thị bán lẻ của các nhà đầu tư nước ngoài, xe chuyên chở hạng nặng, lên
tới trên 30 tấn và xe container hay pallet xuất hiện ngày càng nhiều, các hệ thống siêu thị của nhà bán lẻ Việt Nam vẫn sử dụng hệ thống xe hạng nhẹ dưới 7 tấn.
Năng lực chuyên chở hạn chế khiến các doanh nghiệp Việt Nam tốn nhiều thời gian hơn và không thể đưa đến khách hàng những dịch vụ nhanh nhất, chất lượng
nhất. 1.3.2 Trình độ quản lý lạc hậu
Do lĩnh vực bán lẻ hiện đại của Việt Nam chỉ thực sự bắt đầu vào khoảng những năm 1990 nên kinh nghiệm các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam có được khá
hạn chế. Đội ngũ quản lý thiếu cơ hội tiếp cận với những mơ hình bán lẻ đã thành công trên thế giới. Tỷ lệ những nhà quản lý có kinh nghiệm trên thị trường quốc tế
còn ở mức rất nhỏ. Mơ hình quản lý ở hầu hết các cơ sở bán lẻ của Việt Nam đều khá cứng nhắc, kém linh hoạt.
Bên cạnh đó, nguồn nhân lực làm quản lý cũng rất thiếu hụt. Trên thị trường lao động nói chung, lượng cầu về những vị trí quản lý quan trọng từ
trưởng phòng trở lên ln vượt q lượng cung. Do vậy, các công ty trên thị trường ln phải tìm mọi cách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao bằng việc
đưa ra các ưu đãi về lương và các hình thức hỗ trợ khác. Các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam vì tiềm lực tài chính hạn chế, khơng có kinh nghiệm trong việc xây dựng
các chương trình đãi ngộ cơng nhân viên nên thường tỏ ra yếu thế trong việc tuyển dụng những vị trí hàng đầu có khả năng chỉ đạo hoạt động kinh doanh, vạch chiến
lược dài hạn cho công ty. Đây là một cản trở rất lớn cho sự thành công của các doanh nghiệp nước nhà.
48 48
1.3.3 Chất lượng nguồn nhân lực nói chung còn thấp Nguồn lao động làm việc trong ngành bán lẻ hiện nay phần lớn đều không
được đào tạo bài bản. Nguyên nhân chính là do ở Việt Nam hiện chưa có một chương trình đào tạo chính quy nào về ngành bán lẻ. Nhân viên làm việc trong các
siêu thị hầu hết chỉ tốt nghiệp phổ thơng. Bên cạnh đó, bản thân các doanh nghiệp cũng khơng tỏ ra thực sự hiệu quả
trong q trình đào tạo nhân viên của mình. Tình trạng thường thấy ở các siêu thị, cửa hàng tiện ích do doanh nghiệp Việt Nam làm chủ là hiểu biết của nhân viên về
các loại hàng hóa thường rất hạn chế. Số lượng nhân viên có đủ kiến thức để giải đáp mọi thắc mắc của khách hàng chỉ là một tỷ lệ rất nhỏ. Một hạn chế nữa của
đội ngũ nhân viên làm việc cho các nhà bán lẻ Việt Nam là trình độ ngoại ngữ tiếng Anh rất yếu kém. Phần lớn không đủ khả năng giao tiếp với khách hàng
ngoại quốc. Điều này dẫn đến tình trạng là ngày càng nhiều khách hàng nước ngoài e dè khi đi mua sắm trong các siêu thị của Việt Nam. Đây là một điều rất
đáng tiếc vì đối tượng này thường là những khách hàng khá tiềm năng, sức mua trung bình lớn hơn khách hàng Việt Nam và do vậy có thể đem lại khoản doanh
thu đáng kể. 1.3.4 Hoạt động liên kết hạn chế
Các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam vào thời điểm hiện nay vẫn chưa nhận thức được đầy đủ tầm quan trọng của việc liên kết. Trên cả nước hiện mới chỉ ghi
nhận hai tổ chức của các nhà bán lẻ trong nước. Đó là Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam AVR và công ty cổ phần cổ phần Đầu tư và phát triển hệ thống phân phối
Việt Nam VDA.
Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam – AVR.
AVR được thành lập vào tháng 7 năm 2007 sau khi Việt Nam trở thành thành viên WTO. Trước tình hình các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài xâm nhập
vào Việt Nam với tốc độ ngày càng tăng, 100 doanh nghiệp hoạt động trong ngành bán lẻ và các lĩnh vực liên quan đến bán lẻ đã tập hợp nhằm cùng nhau phát triển
49
trong bối cảnh thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn. Vào thời điểm thành lập, hiệp hội có 100 thành viên. Hiện nay số lượng thành viên đã lên hơn 150.
Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển hệ thống phân phối Việt Nam
Theo sáng kiến của 4 doanh nghiệp phân phối hàng đầu Việt Nam là Tổng công ty Thương mại Hà Nội Hapro, Tổng công ty Thương mại Sài Gòn Satra,
Liên hiệp Hợp tác xã thương mại thành phố Hồ Chí Minh Saigon Co.op và Cơng ty Cổ phần Tập đoàn Phú Thái Phu Thai Group, VDA được thành lập ra vào ngày
01 tháng 02 năm 2007. Số vốn ban đầu là 1.500 tỷ đồng để xây dựng cơ sở hạ tầng thương mại, trong đó có hệ thống tổng kho với các trang thiết bị hiện đại. Mục tiêu
của cơng ty là trở thành tập đồn phân phối số 1 Việt Nam Kiều, Hương 2007. Lợi ích của liên kết để cạnh tranh với các công ty nước ngoài là khá rõ
ràng. Tuy nhiên, trên thị trường bán lẻ Việt Nam hiện nay, ngồi hai liên kết nói trên thì gần như chưa xuất hiện liên minh đáng chú ý nào giữa các doanh nghiệp
nội địa hoạt động trong lĩnh vực bán lẻ. Nguyên nhân dẫn đến tình hình trên có thể kể tới đầu tiên là do phần lớn các doanh nghiệp chưa nhận thức được sức mạnh
đến từ việc liên kết. Rất nhiều doanh nghiệp lo sợ bí quyết kinh doanh của họ có thể bị doanh nghiệp khác đánh cắp.
Do chưa hiểu rõ được vai trò của liên kết, và những liên kết trên thị trường mới chỉ hạn chế ở mục đích hỗ trợ thành viên về vốn hay xây dựng thương hiệu,
các tổ chức liên kết của các nhà bán lẻ Việt Nam chưa phát huy được ý nghĩa to lớn của mình.
2. Tác động của việc gia nhập WTO đối với hoạt động thị trường bán lẻ Cam kết của Việt Nam trong khn khổ WTO:

Những dịch vụ phân phối Việt Nam cam kết mở cửa khi gia nhập WTO, bao gồm dịch vụ đại lý hoa hồng, dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán lẻ kể cả
hoạt động bán hàng đa cấp và dịch vụ nhượng quyền thương mại.

Những loại hàng hóa nhà đầu tư nước ngồi được phép phân phối tại Việt Nam:
50 50
Từ ngày 1112010, khơng có bất cứ sự hạn chế nào về hàng hóa nhà đầu tư nước ngoài được phép phân phối tại Việt Nam, miễn là hàng hóa đó được sản xuất
tại Việt Nam hoặc được nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam.

Các hình thức nhà đầu tư nước ngồi có thể thực hiện hoạt động phân phối ở Việt Nam:

Lập liên doanh với đối tác Việt Nam: từ ngày 112008 khơng còn bất cứ hạn chế nào về tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài.

Lập doanh nghiệp 100 vốn đầu tư nước ngoài thực hiện từ sau 112009 Hạn chế chung cho cả hai hình thức này là họ chỉ được phép cung cấp dịch
vụ bán lẻ thông qua các cơ sở bán lẻ siêu thị, cửa hàng tiện ích,…. Tuy nhiên, các doanh nghiệp bán lẻ có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được tự động mở một cơ sở
bán lẻ. Việc mở thêm cơ sở bán lẻ ngoài cơ sở thứ nhất phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.
Như vậy, kể từ thời điểm 112009, thị trường bán lẻ Việt Nam đã mở cửa cho phép các doanh nghiệp 100 vốn nước ngoài hoạt động. Quá trình thực hiện
theo đúng cam kết của WTO này đã có tác động trực tiếp và mạnh mẽ lên những chủ thể chính trên thị trường bán lẻ Việt Nam.
2.1 Tác động tích cực 2.1.1 Đối với thị trường bán lẻ Việt Nam nói chung
Kể từ thời điểm 112009, hầu như mọi rào cản trên thị trường bán lẻ Việt Nam đều được dỡ bỏ. Việc này đồng nghĩa với việc đầu tư của doanh nghiệp bán
lẻ nước ngồi sẽ khơng ngừng tăng lên. Trên thị trường bán lẻ Việt Nam, cạnh tranh sẽ trở nên sôi động hơn. Bên cạnh đó, hình thức các loại doanh nghiệp cũng
trở nên đa dạng hơn, tình hình liên kết giữa các doanh nghiệp nước ngoài và các doanh nghiệp nội địa cũng như giữa các doanh nghiệp nội địa với nhau càng trở
nên phổ biến. Kết quả là nhiều hình thức sở hữu mới ra đời làm cho thị trường bán
51
lẻ của nước ta càng trở nên phong phú. Thị trường sẽ ngày càng hướng tới các mơ hình kinh doanh tiên tiến trên thế giới.
Khi thị trường bán lẻ Việt Nam được mở cửa hoàn toàn, hàng loạt các trung tâm mua sắm, đại siêu thị, siêu thị, cửa hàng tiện ích,… sẽ ra đời. Điều này chắc
chắn sẽ dẫn đến nhu cầu tìm kiếm một số lượng lao động khổng lồ. Ngành bán lẻ hiện nay vẫn dẫn đầu là ngành sử dụng lao động nhiều nhất trong nền kinh tế toàn
cầu. Việc mở cửa thị trường bán lẻ Việt Nam còn tạo điều kiện cho lao động Việt Nam được làm việc trong mơi trường có tính quốc tế cao, được đào tạo bài bản và
tiếp cận với khoa học kỹ thuật hiện đại của thế giới. 2.1.2 Đối với các chủ thể trên thị trường bán lẻ trong nước

Đối với doanh nghiệp bán lẻ nội địa
Sau khi thị trường bán lẻ được mở cửa hoàn toàn, một số lượng lớn các nhà bán lẻ toàn cầu sẽ đến Việt Nam, mang theo công nghệ mới, phong cách quản lý
hiện đại, chuyên nghiệp. Doanh nghiệp Việt Nam nhờ đó có cơ hội học hỏi kinh nghiệm, tiếp thu những nét tiên tiến mà các doanh nghiệp nước ngồi mang lại.
Thơng qua cách thức làm việc chun nghiệp mà những nhà bán lẻ lớn trên thế giới đem lại, doanh nghiệp Việt Nam có thể tiếp thu để không chỉ áp dụng trên thị
trường nội địa mà vươn ra quốc tế. Do cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt hơn, các doanh nghiệp trong
nước muốn tồn tại phải không ngừng cải thiện, loại bỏ những phong cách làm việc quan liêu, bao cấp do ảnh hưởng từ thời kỳ kinh tế kế hoạch tập trung. Họ sẽ quan
tâm hơn nhiều đến việc đổi mới mình nhằm giữ thị phần trước sự đe dọa của các tập đoàn dày dặn kinh nghiệm đến từ các nước phát triển.

Đối với nhà sản xuất trong nước
Các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào thị trường Việt Nam chắc chắn sẽ giúp mở rộng thị trường đầu ra cho hàng ngàn sản phẩm của các nhà sản xuất
trong nước. Mỗi hệ thống mua sắm hiện đại là nơi trưng bày và bán hàng loạt các chủng loại sản phẩm khác nhau. Cơ hội cho nhà sản xuất trong nước hợp tác với
52 52
các nhà bán lẻ nước ngoài nhằm giới thiệu sản phẩm của mình qua các tên tuổi hàng đầu thế giới là rất lớn.
Bên cạnh đó, nếu các nhà sản xuất trong nước khẳng định được tên tuổi của mình bằng các sản phẩm chất lượng đạt tiêu chuẩn quốc tế, giá cạnh tranh, cơ hội
trở thành nhà phân phối độc quyền cho các nhà bán lẻ lớn nhất thế giới hồn tồn có thể. Trong trường hợp đó, sản phẩm của họ chắc chắn sẽ có cơ hội xuất hiện tại
những thị trường phát triển nhất trên thế giới.

Đối với người tiêu dùng
Lợi ích đầu tiên và rõ ràng nhất là người tiêu dùng sẽ có nhiều cơ hội lựa chọn hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của bản thân và gia đình. Các doanh
nghiệp nước ngoài vào Việt Nam chắc chắn sẽ giới thiệu một số lượng lớn các mặt hàng mới, hiện đại và tiện ích hơn. Do đó, người tiêu dùng có thể chọn được
những mặt hàng chất lượng tốt nhất và giá cả cạnh tranh. Việc các tập đoàn bán lẻ lớn trên thế giới đặt chân vào Việt Nam sau khi
Chính phủ mở cửa hoàn toàn thị trường bán lẻ giúp người tiêu dùng dần tiếp cận với các phương thức kinh doanh hiện đại và thay đổi thói quen mua sắm của người
dân Việt Nam. Mặc dù trong thời gian gần đây, hệ thống bán lẻ hiện đại đã giành được thị phần không nhỏ song kênh bán lẻ truyền thống vẫn chiếm ưu thế. Vì vậy,
cùng với việc mở cửa hoàn toàn thị trường bán lẻ từ đầu năm 2009, số lượng các cửa hàng, trung tâm bán lẻ hiện đại tăng lên sẽ đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa
phong cách mua sắm của đa số người dân, kể cả người dân có mức sống trung bình hay một bộ phận lớn người dân sống sống ở vùng nơng thơn.
Bên cạnh đó, cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường bán lẻ Việt Nam sẽ khiến các doanh nghiệp không ngừng đổi mới để tạo được lợi thế về giá cũng
như chất lượng sản phẩm hay dịch vụ khách hàng. 2.2 Tác động tiêu cực

Các cửa hàng bán lẻ truyền thống
53
Trong khi hệ thống bán lẻ truyền thống chợ và các cửa hàng tạp hóa, cửa hàng tư nhân vẫn đang chiếm tỷ trọng áp đảo trên thị trường bán lẻ Việt Nam, sự
xâm nhập thị trường của các tập đoàn bán lẻ lớn trên thế giới chắc chắn sẽ đe dọa vị trí của loại hình bán lẻ này. Hệ thống bán lẻ truyền thống vẫn tồn tại và phát
triển cho đến ngày nay chính là nhờ lợi thế về giá. Tuy nhiên, khi các nhà bán lẻ nước ngồi có tiềm lực tài chính mạnh, họ hồn tồn có khả năng chi phối nguồn
cung đảm bảo hàng hóa của họ có giá bằng hoặc thấp hơn ngồi chợ. Thêm vào đó, hàng hóa ở các trung tâm bán lẻ hiện đại thường ít biến động hơn về giá cả sẽ
thu hút một lượng lớn khách hàng. Như vậy, công việc kinh doanh của một tỷ lệ lớn các tiểu thương Việt Nam có nguy cơ bị phá sản.

Đối với doanh nghiệp bán lẻ
Cuộc cạnh tranh của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam với các đại gia bán lẻ tồn cầu có thể là cuộc cạnh tranh một mất một còn và phần thắng có nhiều khả
năng sẽ thuộc về những tập đoàn đa quốc gia với tài chính khổng lồ và kinh nghiệm dạn dày.
Nhiều nhà bán lẻ nước ngồi như Wal-mart, Metro có lợi thế về giá vì họ nắm được thế chủ động trước các nhà sản xuất, phân phối dựa vào sức mạnh tài
chính của mình nên kiểm sốt được nguồn hàng và đảm giá thấp hơn đối thủ cạnh tranh. Đây có thể là nguyên nhân khiến khách hàng từ bỏ các cửa hàng mua sắm
quen thuộc để đến với các trung tâm bán lẻ hiện đại.

Đối với nhà sản xuất nội địa
Cơ hội cho nhà sản xuất nội địa là rất lớn tuy nhiên thách thức cũng không hề nhỏ.
Thứ nhất, để được trở thành nhà cung cấp sản phẩm cho các tập đoàn bán lẻ hàng đầu thế giới, nhà sản xuất Việt Nam sẽ phải điều chỉnh hàng loạt các kế
hoạch sản xuất của mình để có thể cho ra những sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Những tiêu chuẩn này chắc chắn sẽ khắt khe hơn những tiêu chuẩn mà
trong nước đang áp dụng.
54 54
Thứ hai, các nhà bán lẻ nước ngoài khi vào Việt Nam có thể sẽ mang theo hàng hóa từ các nhà cung cấp độc quyền và lâu năm của họ từ nước ngồi. Những
hàng hóa này chưa tính đến khả năng được bán với giá thấp hơn sản phẩm cùng loại sản xuất trong nước thì hồn tồn có thể vượt trội về chất lượng, mẫu mã, bao
bì. Do đó, sản phẩm xuất xứ nội địa sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh khá gay gắt và có thể sẽ đánh mất thị phần.
Thứ ba, nếu các nhà sản xuất nội địa có thể trở thành nhà cung cấp cho các chuỗi cửa hàng bán lẻ hiện đại thuộc sở hữu của các doanh nghiệp nước ngoài,
nguy cơ bị các doanh nghiệp này chèn ép không thể không tính đến. Các tập đồn bán lẻ ln mong muốn hàng hóa bán trong chuỗi các cửa hàng của mình có giá cả
cạnh tranh nhất. Vì vậy, họ sẽ tận dụng tối đa ưu thế và tiềm lực tài chính của mình để gây sức ép lên nhà cung cấp bằng việc ký kết các hợp đồng dài hạn với
giá cả thường bị cố định, khó thay đổi. Bên cạnh đó, nhà sản xuất Việt Nam nói chung đều thiếu kinh nghiệm trên thị trường quốc tế và năng lực khởi kiện khá hạn
chế. Do đó họ khó có thể bảo vệ quyền lợi của mình trên thị trường trước các nhà bán lẻ hùng mạnh.

Đối với người tiêu dùng
Mặc dù cơ hội tiếp cận với nguồn hàng phong phú hơn, giá cả cạnh tranh và ổn định hơn là không thể phủ nhận, nguy cơ từ việc mở cửa là hồn tồn có thể
xảy ra. Người Việt Nam từ trước đến nay vẫn coi trọng những giá trị truyền thống phương Đơng. Trong khi đó, các tập đồn bán lẻ toàn cầu đang lên kế hoạch xâm
nhập thị trường Việt Nam chủ yếu đến từ Bắc Mỹ và Tây Âu. Khi hoạt động ở Việt Nam họ sẽ liên tục giới thiệu những mặt hàng mới, kể cả những mặt hàng chỉ phù
hợp với lối sống phương Tây nên khó tránh khỏi ảnh hưởng đến xã hội Việt Nam, tác động tiêu cực và làm mờ đi những giá trị truyền thống hàng ngàn năm của
người Việt. 3. Thuận lợi và khó khăn trong tương lai
3.1 Thuận lợi
55
3.1.1 Tốc độ tăng dân số cao, cơ cấu dân số trẻ, sức mua lớn

Tốc độ tăng dân số
Việt Nam là quốc gia có số dân đơng thứ ba trong khu vực ASEAN và đứng thứ 13 thế giới. Dân số Việt Nam theo thống kê vào tháng 4 năm 2009 đã ở mức
trên 85,7 triệu người. Trong thời kỳ 10 năm từ 1999 đến 2002 dân số Việt Nam tăng trung bình 1,2năm. Dù trong thời gian gần đây dân số Việt Nam đã có
những dấu hiệu tăng trưởng chậm lại so với 50 năm cuối thế kỷ 20 song vẫn cao hơn tỷ lệ tăng dân số thế giới 1,16 hàng năm Tổng cục thống kê 2009.
Cùng với việc dân số tăng lên hàng năm, tốc độ đô thị hóa cũng đang diễn ra ở Việt Nam khá mạnh mẽ, tốc độ trung bình năm 2007 và 2008 đều ở mức trên
2,5. Chúng ta có thể thấy rõ hiện tượng gia tăng dân cư thành thị qua biểu đồ sau:
Biểu đồ III.1: số lượng dân cư sống ở các đô thị lớn ở Việt Nam 2004-2009
Nguồn: Tổng cục thống kê 2009

Cơ cấu dân số
Theo số liệu từ Tổng cục thống kê, Việt Nam vẫn là một nước có dân số trẻ: dân số trong độ tuổi lao động cả nước là 55 triệu người. Vì vậy, so với một số
quốc gia khác trong cùng châu lục như Singapo hay Nhật Bản, sức mua của dân số Việt Nam được đánh giá cao hơn và đầy tiềm năng. Bên cạnh đó, tỷ lệ dân số Việt
Nam biết chữ thuộc vào khoảng 98, đây là một trong những tỷ lệ cao nhất thế giới. Điều này khá thuận lợi cho các doanh nghiệp bán lẻ hoạt động trên thị trường
Việt Nam trong việc thực hiện các chiến lược marketing, quảng cáo, xúc tiến mua hàng.

Sức mua hàng hóa
Thu nhập khả dụng của người dân Việt Nam liên tục tăng với tốc độ trung bình 7năm trong những năm gần đây và được ước tính sẽ tiếp tục tăng trong
56 56
những năm tới. Sự tăng trưởng của thu nhập khả dụng tính theo đầu người của người Việt Nam đã khiến sức mua của người dân nói chung tăng.
Bên cạnh đó, thu nhập khả dụng tăng cũng kéo theo chi tiêu của người dân vào các loại hàng hóa bán lẻ cũng tăng mạnh, tạo đà tăng cho thị trường bán lẻ.
Theo dự báo, chi tiêu của người Việt Nam từ nay đến năm 2012 sẽ tăng khoảng gần 15năm. Sự gia tăng về thu nhập khả dụng tính trên đầu người và chi tiêu
của người dân Việt Nam nói chung giai đoạn 2002-2012 sẽ được biểu hiện rõ qua biểu đồ sau:
Biểu đồ III.2
: Thu nhập khả dụngđầu người và chi tiêu người dân Việt Nam 2002-2012
Nguồn: RNCOS 2008, tr.12-13 3.1.2 Kinh tế tăng trưởng nhanh bậc nhất khu vực và trên thế giới
Việt Nam liên tục dẫn đầu châu Á và trên thế giới về tốc độ tăng trưởng kinh tế. Dự báo trong thời gian tới, GDP của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trưởng trên
5. Việt Nam cũng là một trong số các nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế
2008 sớm nhất. Theo bảng xếp hạng các thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất của A.T.Kearney dựa vào GRDI, trong suốt khoảng thời gian 5 năm trở lại đây, Việt
Nam ln có mặt trong top 30. Đặc biệt năm 2008, thị trường bán lẻ Việt Nam được đánh giá số 1. Mặc dù năm 2009, thứ tự về trong bảng xếp hạng của thị
trường Việt Nam bị giảm xuống vị trí thứ 6 song các nhà đầu tư thế giới vẫn đánh giá rất cao về thị trường bán lẻ của Việt Nam. Ngoài những nguyên nhân như lòng
tin của người tiêu dùng, mức độ mở cửa của thị trường thì mức độ tăng trưởng và tính ổn định của nền kinh tế khiến các nhà đầu tư giữ được niềm tin khi quyết định
xâm nhập thị trường Việt Nam. Doanh thu bán lẻ hàng hóa dịch vụ của Việt Nam cũng không ngừng tăng
lên trong thời gian qua. Trong đó doanh thu từ ngành bán lẻ thực phẩm tăng mạnh
57
nhất, khoảng 12năm trong khoảng thời gian từ 2003-2008. Doanh thu từ thị trường bán lẻ của Việt Nam năm 2008 tương đương hơn 40 GDP danh nghĩa của
cả nước RNCOS 2008, tr.27 và tỷ lệ này được xếp vào loại cao trong khu vực châu Á, cao hơn cả Trung Quốc và Thái Lan, hai quốc gia có thị trường bán lẻ
tương đối phát triển. Các tổ chức kinh tế tồn cầu và các cơng ty phân tích thị trường lớn nhất trên thế giới đều đưa ra những dự báo đầy lạc quan về thị trường
bán lẻ Việt Nam. Công ty RNCOS cho rằng doanh thu bán lẻ của Việt Nam có thể đạt mức 85 tỷ đơ la Mỹ vào năm 2012 còn phòng Thương mại của Liên minh châu
Âu Eurocham cũng dự báo thị trường bán lẻ Việt Nam sẽ tăng trên 50 trong khoảng 4-5 năm nữa.
3.1.3 Tập quán tiêu dùng thay đổi theo hướng hiện đại Người tiêu dùng Việt Nam nói chung vẫn giữ những thói quen tiêu dùng
truyền thống. Đối với mặt hàng lương thực, thực phẩm, họ thích đi chợ hàng ngày để mua thực phẩm cho gia đình mình. Một tỷ lệ khá lớn người Việt Nam vẫn thích
mua sắm ở các chợ hay cửa tạp hóa nhỏ do sự thuận lợi về giao thông, tiết kiệm thời gian hoặc do mối quan hệ với người bán hàng. Trên thị trường Việt Nam, các
thực phẩm tươi sống được ưa thích hơn thực phẩm đã qua chế biến do quan niệm về hàm lượng dinh dưỡng, độ “tươi” và đảm bảo của thực phẩm. Một nguyên nhân
nữa khiến nhiều người Việt Nam vẫn giữ thói quen mua thực phẩm tươi hàng ngày là tỷ lệ các hộ gia đình có điều kiện sử dụng tủ lạnh và lò vi sóng còn khá khiêm
tốn: chỉ khoảng 13 hộ gia đình sống ở các đơ thị có lò vi sóng GAIN 2010, tr3- 11.
Đối với mặt hàng phi thực phẩm, người Việt Nam vẫn giữ thói quen mua sắm tại các cửa hàng tư nhân nhỏ nằm trên các khu phố mua sắm ở các đô thị lớn.
Nguyên nhân cũng ở sự thuận lợi về giao thông và đặc biệt là ưu thế về giá cả so với hàng hóa bán ở các trung tâm mua sắm lớn.
Tuy nhiên, những năm gần đây, xu hướng tiêu dùng của người Việt Nam ở thành thị đã xuất hiện những thay đổi theo hướng tiếp nhận phong cách mua sắm
hiện đại xuất phát từ những nguyên nhân sau:
58 58
Thứ nhất, mặc dù thu nhập trung bình của quốc gia vẫn ở mức thấp song thu nhập khả dụng của người dân, đặc biệt là dân cư sống ở các thành phố lớn tăng
lên đáng kể. Điều này khiến họ không chỉ đặt mục tiêu giá cả lên đầu mà ngày càng quan tâm đến chất lượng hàng hóa và dịch vụ khi đi mua sắm.
Thứ hai, lo ngại về vệ sinh an toàn thực phẩm ngày càng gia tăng sau một loạt những phát hiện của cơ quan nhà nước có chức năng về các loại hàng hóa bán
ở các chợ hay cửa hàng tư nhân. Bên cạnh đó, nạn hàng giả, kém chất lượng cũng ảnh hưởng đến một tỷ lệ không nhỏ người tiêu dùng khiến họ ngày càng nhận thức
được những lợi thế của việc mua sắm trong các khu bán lẻ hiện đại Thứ ba, cũng giống như các xã hội châu Á nói chung, người tiêu dùng ở
Việt Nam ngày càng có xu hướng giảm bớt thời gian mua sắm. Vì vậy, việc có thể mua được hàng loạt hàng hóa khác nhau ở cùng một địa điểm thu hút ngày càng
nhiều khách hàng. Thứ tư, người tiêu dùng Việt Nam đang có xu hướng mua sắm kết hợp giải
trí cùng gia đình. Các khu thương mại với các tiện ích khác kèm theo như khu đồ ăn nhanh, khu vui chơi cho trẻ em, hay thậm chí là các nhà hàng sang trọng là sự
lựa chọn của một số lượng ngày càng tăng người Việt Nam mỗi dịp cuối tuần. Thứ năm, quyết định mua sắm của người Việt Nam bị chi phối nhiều bởi
các chương trình quảng cáo hay khuyến mại, đặc biệt là đối tượng khách hàng thanh thiếu niên. Về khía cạnh này, các cửa hàng mua sắm hiện đại luôn đi trước
các cửa hiệu truyền thống nên đã giành được thị phần tăng đáng kể. 3.2 Khó khăn

3.2.1 Thị trường thiếu quản lý


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (83 trang)

×