1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Thị trường thiếu quản lý

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (456.88 KB, 83 trang )


Thứ nhất, mặc dù thu nhập trung bình của quốc gia vẫn ở mức thấp song thu nhập khả dụng của người dân, đặc biệt là dân cư sống ở các thành phố lớn tăng
lên đáng kể. Điều này khiến họ không chỉ đặt mục tiêu giá cả lên đầu mà ngày càng quan tâm đến chất lượng hàng hóa và dịch vụ khi đi mua sắm.
Thứ hai, lo ngại về vệ sinh an toàn thực phẩm ngày càng gia tăng sau một loạt những phát hiện của cơ quan nhà nước có chức năng về các loại hàng hóa bán
ở các chợ hay cửa hàng tư nhân. Bên cạnh đó, nạn hàng giả, kém chất lượng cũng ảnh hưởng đến một tỷ lệ không nhỏ người tiêu dùng khiến họ ngày càng nhận thức
được những lợi thế của việc mua sắm trong các khu bán lẻ hiện đại Thứ ba, cũng giống như các xã hội châu Á nói chung, người tiêu dùng ở
Việt Nam ngày càng có xu hướng giảm bớt thời gian mua sắm. Vì vậy, việc có thể mua được hàng loạt hàng hóa khác nhau ở cùng một địa điểm thu hút ngày càng
nhiều khách hàng. Thứ tư, người tiêu dùng Việt Nam đang có xu hướng mua sắm kết hợp giải
trí cùng gia đình. Các khu thương mại với các tiện ích khác kèm theo như khu đồ ăn nhanh, khu vui chơi cho trẻ em, hay thậm chí là các nhà hàng sang trọng là sự
lựa chọn của một số lượng ngày càng tăng người Việt Nam mỗi dịp cuối tuần. Thứ năm, quyết định mua sắm của người Việt Nam bị chi phối nhiều bởi
các chương trình quảng cáo hay khuyến mại, đặc biệt là đối tượng khách hàng thanh thiếu niên. Về khía cạnh này, các cửa hàng mua sắm hiện đại luôn đi trước
các cửa hiệu truyền thống nên đã giành được thị phần tăng đáng kể. 3.2 Khó khăn

3.2.1 Thị trường thiếu quản lý


Quá trình quản lý của Nhà nước về thị trường bán lẻ nói chung vẫn tồn tại nhiều thiết sót và bất cập.
Đối với hệ thống bán lẻ truyền thống, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tỏ ra khá yếu kém trong việc quản lý cũng như quy hoạch. Chất lượng hàng hóa
bán trong những khu chợ hay cửa hàng tư nhân, tiệm tạp hóa vẫn đang bị thả nổi.
59
Chế tài xử phạt các hành vi vi phạm quyền lợi người tiêu dùng vẫn chưa đủ mạnh, phần lớn chỉ mang tính răn đe nên không thể phát huy hiệu quả trong việc điều
chỉnh thị trường. Tình trạng thiếu những quy hoạch cụ thể về hệ thống bán lẻ truyền thống đã khiến hình thức này phát triển khá lộn xộn, các cơ sở kinh doanh
tồn tại tự phát, ảnh hưởng đến giao thông và kiến trúc đơ thị. Về các loại hình tổ chức thương mại hiện đại,
Quy chế siêu thị, trung tâm
thương mại kèm theo Quyết định số 13712004QĐ-BTM của Bộ trưởng Bộ
Thương mại nay là Bộ Công thương về trung tâm thương mại và siêu thị mặc dù đã được ban hành từ năm 2004 song những quy định chủ yếu vẫn mang tính
hình thức và khơng sát thực tế. Bên cạnh đó, do tính đặc thù của một quy chế nên khơng có bất cứ chế tài xử phạt nào đối với doanh nghiệp có hành vi vi phạm.
Trong tình hình tốc độ phát triển của thị trường Việt Nam theo hướng hiện đại hóa ngày càng tăng với sự xuất hiện của ngày càng nhiều mơ hình bán lẻ mới như cửa
hàng giảm giá, cửa hàng tiện ích, đại siêu thị, Quy chế đang tỏ ra lạc hậu, không theo kịp thực tế.
Về việc mở cửa cơ sở thứ hai của các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài, Việt Nam đã quy định các doanh nghiệp phải chịu sự chi phối của ENT Kiểm tra nhu
cầu kinh tế. ENT được hiểu là việc cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào tình hình thực tế để xem xét việc cấp phép cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi.
Trong khn khổ WTO, theo GATS, ENT được xây dựng dựa trên 3 tiêu chí: số lượng các nhà bán lẻ trên một khu vực địa lý cụ thể; sự ổn định của thị trường; quy
mô địa lý của khu vực dân cư. Tuy vậy, đến thời điểm này, sau ngày 112009 hơn một năm, Việt Nam vẫn
chưa có hướng dẫn cụ thể nào về ENT và cũng không đưa ra các tiêu chí cụ thể để áp dụng ENT trong các văn bản pháp quy. Bên cạnh đó, một số khái niệm như
điểm bán lẻ, phân định rõ ENT và phân vùng địa lý hay đơn vị bán lẻ, người tiêu dùng cuối cùng cũng chưa được xác định cụ thể. Vì vậy, các doanh nghiệp khi
muốn hoạt động ở Việt Nam phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, phức tạp do
60 60
không biết dựa vào những tiêu chí nào. Bản thân các cơ quan có thẩm quyền cũng rất lúng túng trong công tác quản lý, hoạch địch chính sách.
Ngồi ra, trên thị trường bán lẻ Việt Nam, các hoạt động MA hay nhượng quyền thương mại đang diễn ra rất sôi động nhưng rất hiếm hoặc gần như khơng
có những luật, quy định cụ thể, chặt chẽ. Việc này đã tạo điều kiện khiến nhiều doanh nghiệp dễ dàng lợi dụng kẽ hở để thực hiện các hành vi nhằm giành thị
phần một cách thiếu minh bạch, cạnh tranh không công bằng. 3.2.2 Lạm phát
Một trong những vấn đề đáng lo ngại trên thị trường Việt Nam chính là tình trạng lạm phát bất thường. Việt Nam là một trong những nước trên thế giới thoát
khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế 2008 sớm nhất. Tuy nhiên, rất nhiều nhà kinh tế dự báo nguy cơ lạm phát quay trở lại. Điều này càng thể hiện rõ ràng sau khi những
con số về tỷ lệ tăng CPI được công bố. Năm 2009, CPI của Việt Nam tăng 6.88 so với năm 2008. Quý 1 năm 2010, chỉ số này đã tăng tới 4,12 Tổng cục Thống
kê 2010. Chỉ số giá tiêu dùng CPI liên tục tăng trong năm 2009 đã khiến khơng ít
nhà đầu tư do dự khi tiến hành hoạt động kinh doanh tại thị trường Việt Nam. Nguyên nhân khiến giá cả leo thang không thể không kể đến sự yếu kém của các
cơ quan có thẩm quyền trong việc điều hành giá cả. Tình trạng này dẫn đến việc những nhà cung cấp tự ý nâng giá sản phẩm đầu ra trong khi giá cả trên thế giới
hay giá nguyên vật liệu đầu vào tương đối ổn định là một tình trạng khá phổ biến trên thị trường bán lẻ Việt Nam, đặc biệt đối với các loại hàng hóa tiêu dùng hàng
ngày của người dân. Đáng lo ngại hơn, khi giá cả biến động, khơng chỉ hàng hóa bán trong các khu chợ truyền thống hay cửa hàng tư nhân nhanh chóng tăng theo
mà cả hàng hóa bán trong siêu thị của Việt Nam cũng khơng nằm ngồi xu thế chung.
Nguy cơ lạm phát tăng cao gây nhiều bất lợi trong việc thu hút nhà đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực bán lẻ. Các nhà bán lẻ lớn từ nước ngoài thường theo
61
đuổi chiến lược cạnh tranh về giá. Họ luôn cam kết đưa đến cho khách hàng của mình lượng hàng hóa với giá cả ổn định trong một khoảng thời gian dài. Vì vậy, ở
thị trường mà giá cả liên tục thay đổi theo chiều hướng tăng lên, họ không thể ngay lập tức điều chỉnh giá bán của mình vì hành động đó sẽ ảnh hưởng tới uy tín
kinh doanh của các cơ sở bán lẻ. Do đó, doanh thu của những nhà bán lẻ này có nhiều khả năng sẽ bị sụt giảm. Đây là lý do các nhà bán lẻ thường ưu tiên những
thị trường có nguồn cung dồi dào, giá cả ổn định để ít xảy ra việc phải liên tục thay đổi chiến lược kinh doanh ảnh hưởng tới lợi nhuận của mình.
3.2.3 Mặt bằng bán lẻ: giá thuê cao, nguồn cung chưa dồi dào Vấn đề mặt bằng bán lẻ luôn là vấn đề được quan tâm nhiều nhất đối với
bất cứ nhà bán lẻ nào, cả nước ngoài lẫn trong nước khi có dự định thâm nhập thị trường bán lẻ ở bất cứ quốc gia nào. Để bắt đầu công việc kinh doanh của mình,
tính tốn đầu tiên của một doanh nghiệp sẽ dành cho việc tìm kiếm vị trí đặt cơ sở phù hợp với mức kinh phí đã định sẵn. Đặc biệt ở Việt Nam, nơi mật độ dân số ở
các thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là khoảng trên 2000- 3000 ngườikm vuông, gấp đến 100 lần mật độ chuẩn trên thế giới thì vấn đề tìm
mặt bằng kinh doanh ln là vấn đề số một với bất cứ doanh nghiệp nào. Tổng diện tích mặt bằng bán lẻ của thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội tính
đến nay khoảng 400.000m
2
, trong đó thành phố Hồ Chí Minh chiếm hơn 230.000m
2
với 18 trung tâm thương mại. Tuy nhiên, con số này chưa đáp ứng đủ nhu cầu Ca, Hảo 2009. Nguồn cung chưa đáp ứng đủ cầu là nguyên nhân đẩy giá
cho thuê ở các trung tâm thương mại, đặc biệt là ở những khu trung tâm thành phố lên cao. Biểu đồ sau so sánh mức giá th trung bìnhmét vng và giá th cao
nhấtmét vng ở các trung tâm thương mại ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh với một số thành phố khác trong khu vực.
62 62
Biểu đồ III.3: Mức giá thuê trung bìnhm2tháng và mức giá thuê cao nhấtm2tháng mặt bằng bán lẻ tại các trung tâm thương mại ở một số
thành phố châu Á.
Nguồn: CBRE Việt Nam 2008, tr.18 Có thể thấy giá thuê trung bình ở hai thành phố lớn nhất Việt Nam còn cao
hơn ba thành phố trong khu vực ASEAN là Bangkok Thái Lan, Manila Philipin và Jakarta Indonesia. Mức thuê trung bình ở hai thành phố chính là Hà Nội và
thành phố Hồ Chí Minh đều nằm trên mức 60m2tháng trong khi một số siêu thị trên địa bàn hai thành phố này thì với mức giá trên 25m2tháng họ đã khó kinh
doanh có lãi Ca, Hảo 2009. Theo những thống kê của công ty CBRE, một trong những công ty hàng
đầu về tư vấn, quản lý bất động sản trên thế giới, thị trường Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh hiện đang xuất hiện tình trạng dư cung mặt bằng bán lẻ hạng A trong
khi lại thiếu trầm trọng mặt bằng hạng B và C. Cũng theo công ty này, phải đến năm 2013-2014 thì cung và cầu về bất động sản dành cho bán lẻ mới có thể đạt
mức cân bằng và giá thuê mới có hy vọng sẽ giảm xuống. Điều đó có nghĩa là nhiều khu vực trung tâm thương mại hạng nhất, sang trọng sẽ tiếp tục được xây
dựng và bỏ không trong khi các doanh nghiệp bán lẻ vẫn gặp khó khăn trong việc tìm cơ sở đặt các cửa hàng bán lẻ của mình.
Mặc dù giá thuê cao, các trung tâm thương mại ở nước ta thường không đạt đủ những tiêu chuẩn quốc tế về chỗ đỗ phương tiện, tỷ lệ tối thiểu diện tích cây
xanhtổng diện tích sàn, thiết bị chống cháy, nhà vệ sinh. Có thể lấy ví dụ như khu trung tâm thương mại Vincom và Diamond Plaza, hai khu này được coi là hai
trung tâm lớn và hiện đại nhất thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, diện tích dành cho bãi đỗ xe ở hai khu này khá hạn chế. Vào những đợt đông khách đến
mua sắm, bãi đỗ xe thường ở vào tình trạng quá tải và nhiều khách bị từ chối giữ xe. Đây sẽ là lý do khiến nhiều tập đoàn bán lẻ nước ngoài sẽ phải trì hỗn kế
hoạch xâm nhập thị trường bán lẻ của Việt Nam vì khơng thể tìm được địa điểm kinh doanh phù hợp với quy mô thương hiệu của mình.
63
Ngồi ra, việc xin giấy phép xây dựng cũng gặp nhiều khúc mắc. Quy trình giải phóng mặt bằng ở Việt Nam nói chung còn nhiều bất cập. Q trình xin cấp
đất, cấp phép xây dựng thường khá phức tạp, tốn kém thời gian, công sức cho nhà đầu tư.
II. NHÓM KIẾN NGHỊ NHẰM PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM
Mặc dù quá trình mở cửa thị trường bán lẻ sẽ gây một số tác động tiêu cực lên các chủ thể trên thị trường song những lợi ích từ một thị
trường tự do đem lại lớn hơn nhiều lần. Tự do hóa thương mại trong đó bao gồm việc tạo điều kiện cho những nhà bán lẻ nước ngoài thực
hiện các hoạt động đầu tư không bị hạn chế là một xu thế tất yếu của tất cả các nền kinh tế phát triển trên thế giới. Đó cũng là cơ hội cho
nhà bán lẻ trong nước có cơ hội cạnh tranh trên một sân chơi rộng lớn và bình đẳng hơn. Để có thể tận dụng tối đa những ảnh hưởng tích cực
đồng thời giảm thiểu mặt hạn chế từ quá trình mở cửa thị trường bán lẻ, Nhà nước cần phát huy vai trò tối quan trọng của mình. Một mặt,
Nhà nước cần thực hiện đầy đủ những cam kết mở cửa theo đúng lộ trình gia nhập WTO và hội nhập vào xu thế phát triển chung của nền
thương mại tồn cầu. Tuy nhiên q trình mở cửa phải thực hiện từng bước, khơng nên nóng vội dễ dẫn đến những thất bại như trường hợp
của Thái Lan. Mặt khác, Nhà nước cũng cần thể hiện rõ vai trò tích cực trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước khắc phục những
điểm yếu còn tồn tại nhằm đứng vững trong tình hình mới. Những giải pháp mang tính vĩ mơ từ Chính phủ và Nhà nước sẽ khơng thể có tác
dụng nếu thiếu sự đồng thuận và hành động quyết liệt từ phía các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam. Bản thân các doanh nghiệp này phải
khơng ngừng nâng cao khả năng phân tích nắm vững tình hình và nhanh chóng có thực hiện những thay đổi về mặt cơ cấu, tổ chức cũng
64 64
như chiến lược kinh doanh nhằm thích nghi với thị trường đổi mới. Tơi xin đưa ra nhóm giải pháp cho Nhà nước và các doanh nghiệp như sau:
1. Nhóm giải pháp từ phía Nhà nước 1.1 Giữ ổn định về kinh tế, chính trị
Nền kinh tế Việt Nam vẫn được đánh giá là một trong những nền kinh tế ổn định nhất thế giới. Đây là một trong những yếu tố được nhà đầu tư nước ngoài
quan tâm nhất khi quyết định rót vốn đầu tư vào bất cứ thị trường nào. Do vậy trong thời gian tới, Nhà nước cần tiếp tục giữ vững ổn định nền chính trị để giữ
được niềm tin của nhà đầu tư. Bên cạnh đó, Nhà Nước cần điều chỉnh vai trò của mình trong việc điều tiết
nền kinh tế. Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Một trong những ưu điểm là Nhà nước có thể tham gia quản lý kinh tế. Tuy
nhiên, nhược điểm là nền kinh tế thường chậm trễ đón nhận những xu hướng chung trên thế giới. Vì vậy trong thời gian tới, Chính phủ cần thể hiện vai trò của
mình trong việc nhanh chóng phản ứng trước biến động tình hình kinh tế thế giới. Qua đó, Chính phủ có thể ban hành những chính sách tài khóa-tiền tệ phù hợp, tạo
điều kiện cho nền kinh tế vận hành theo những quy luật của thị trường đồng thời vẫn có thể duy trì sự ổn định của tồn nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.
1.2 Hoàn thiện khung pháp lý về thương mại Trước khi ra quyết định đầu tư vào bất cứ lĩnh vực nào, nhà đầu tư nước
ngoài hay trong nước đều phải dành thời gian và công sức nghiên cứu những luật, quy định, thủ tục liên quan. Vì vậy, nếu Việt Nam có những bộ luật hồn chỉnh,
minh bạch, cơng khai sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư tìm đến với thị trường hơn. Hiện nay, Nhà nước đang cố gắng đơn giản hóa thủ tục hành chính, nhiều cấp, Bộ,
ngành đã thực thi quy chế một cửa nhằm tạo thuận lợi tối đa cho các doanh nghiệp trong q trình hồn thiện các thủ tục hành chính trước cũng như trong suốt q
trình kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, có thể nói rằng các cơ quan hành chính của Việt Nam vẫn làm việc chưa thực sự hiệu quả, gây khó khăn cho
65
doanh nghiệp trong và ngồi nước. Vì vậy, trong thời gian tới, Nhà nước cần đẩy mạnh quá trình cải cách về mặt hành chính, rút ngắn thời gian cũng như thủ tục
giấy tờ cấp phép đầu tư, kinh doanh. Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền cần nhanh chóng ban hành những
quy chế, quy định mới về thị trường bán lẻ, những mơ hình kinh doanh hiện đại thay thế cho quy chế cũ đang ngày càng tỏ ra khơng còn phù hợp. Sau khi thị
trường bán lẻ được mở cửa theo đúng cam kết của Việt Nam trong WTO, trên thị trường chắc chắn sẽ xuất hiện những hệ thống bán lẻ mới ngoài trung tâm mua
sắm và hệ thống siêu thị. Những luật, quy định mới không chỉ hỗ trợ cho Nhà nước trong việc quản lý thị trường mà còn góp phần bảo vệ doanh nghiệp trong
nước. Về vấn đề bảo vệ người tiêu dùng, hiện ở Việt Nam chưa có bộ luật thống
nhất nào quy định về quyền của người tiêu dùng. Điều này là hết sức bất lợi trong tình hình thị trường có nhiều diễn biến phức tạp. Chính phủ cần nhanh chóng xây
dựng và đưa vào thực thi những Luật, quy định phù hợp nhằm đảm bảo quyền lợi tối đa cho người tiêu dùng Việt Nam.
Ngoài ra, Chính phủ cũng cần liên tục sửa đổi các bộ luật liên quan như Luật Doanh nghiệp, Luật Cạnh tranh, Luật Sở hữu trí tuệ cho phù hợp với tình
hình, giảm thiểu tình trạng nhiều bộ luật chồng chéo, điều chỉnh khác nhau cho cùng một vấn đề gây không ít hiểu lầm cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Chính phủ
cũng cần khẩn trương soạn thảo những quy định điều chỉnh các hình thức kinh doanh mới trên thị trường bán lẻ hiện đại như nhượng quyền, mua lại và sáp nhập,
… Nhằm giải quyết những khó khăn về mặt bằng, Chính phủ cần hồn thiện
Luật Đất đai và minh bạch hóa những dự án quy hoạch theo địa phương, vùng miền nhằm rút ngắn thời gian giải phóng mặt bằng, tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp bán lẻ tìm được những địa điểm kinh doanh phù hợp.
66 66
Về vấn đề ENT, Chính phủ cần thúc giục cũng như hỗ trợ các địa phương trong việc hoàn thiện những quy định liên quan theo tinh thần phù hợp với những
cam kết với WTO. Mục đích là giúp các địa phương khơng gặp khó khăn hay chậm trễ trong q trình cấp phép cho nhà đầu tư nước ngoài trong việc mở các cơ
sở bán lẻ sau cơ sở thứ nhất. Việc này đòi hỏi Chính phủ cùng các địa phương phải rà soát những đặc điểm kinh tế của từng vùng miền để đảm bảo đưa ra những tiêu
chí phù hợp với sự phát triển của thị trường bán lẻ, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các nhà bán lẻ và hỗ trợ được nhà bán lẻ nội địa.
1.3 Thực hiện các biện pháp điều hành, giám sát thị trường bán lẻ, hoàn thiện các chế tài xử phạt các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và xâm phạm lợi ích
người tiêu dùng Nhà nước cần đẩy mạnh công tác giám sát, quản lý thị trường nhằm đảm
bảo các hoạt động kinh doanh diễn ra trong môi trường cạnh tranh bình đẳng, hiện đại. Gần đây trên thị trường luôn xuất hiện các hành vi cạnh tranh thiếu lành mạnh
hay các chương trình khuyến mại, quảng cáo không phù hợp với thuần phong mỹ tục, truyền thống lâu đời của người Việt Nam. Nhà nước cần chặt chẽ kiểm tra
nhằm ngăn chặn mọi hành vi có thể gây ảnh hưởng xấu tới xã hội, đặc biệt là hành động tuyên truyền, kích động việc sử dụng những sản phẩm làm lệch hướng phát
triển của tầng lớp thanh thiếu niên. Hiện nay ngày càng xuất hiện những chiêu thức kinh doanh trục lợi của một
số doanh nghiệp bán lẻ gây phương hại đến người tiêu dùng như bán hàng nhái các thương hiệu nổi tiếng, mập mờ trong việc đính nhãn mác, thời hạn sử dụng sản
phẩm,.. Nhà nước cần thể hiện vai trò của mình trong việc loại bỏ những hành vi này nhằm đảm bảo người tiêu dùng được tiếp cận với các loại hàng hóa chất lượng
tốt, an toàn cho sức khỏe. Một trong những mối quan tâm nhất hiện nay của người dân là chất lượng các sản phẩm thực phẩm bày bán ở các chợ hay kể cả trong các
siêu thị lớn. Các Bộ, Ban, ngành liên quan cần đặt ra những tiêu chuẩn thống nhất trên cả nước về thực phẩm sạch. Đồng thời, Nhà nước cũng cần mạnh tay xử lý
những cơ sở vi phạm bằng những chế tài rõ ràng, hợp lý. Bên cạnh đó, các cơ quan
67
chức năng của nhà nước hay từng địa phương phải liên tục thanh kiểm tra chất lượng hàng hóa, đặc biệt là những loại hàng liên quan trực tiếp tới sức khỏe người
tiêu dùng ở các cơ sở bán lẻ thay vì chỉ tập trung vào một số tháng cao điểm và nới lỏng trong suốt thời gian còn lại.
1.4 Hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng cho hoạt động phân phối bán lẻ Một cản trở lớn khiến các nhà đầu tư nước ngoài do dự khi đầu tư vào thị
trường bán lẻ Việt Nam hay các nhà bán lẻ trong nước ngại ngần khai thác các thị trường mới là do hệ thống cơ sở hạ tầng của nước ta hiện nay nói chung lạc hậu và
nhiều nơi xuống cấp trầm trọng. Vì vậy, để phát triển thị trường bán lẻ Việt Nam, Chính phủ cần gấp rút đầu tư cải tạo các tuyến đường huyết mạch, tuyến quốc lộ,
xây mới cũng như sửa chữa cầu đường. Nhà nước có thể hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước bằng cách cho thuê đất làm kho bãi với giá ưu đãi hay xây sẵn những
hệ thống nhà kho hiện đại, diện tích lớn cho các doanh nghiệp bán lẻ vừa và nhỏ thuê trong thời gian dài nhằm hỗ trợ doanh nghiệp trong việc dự trữ nguồn hàng.
Để giúp hoạt động của các doanh nghiệp bán lẻ được diễn ra thuận lợi, bên cạnh đầu tư vào hạ tầng đường xá, kho bãi, Nhà nước cần phải đảm bảo hệ thống
điện nước, viễn thông được triển khai rộng khắp. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc khuyến khích các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam mở rộng hoạt động
xuống các vùng nông thôn hay vùng miền núi xa xôi. Nó còn giải quyết được vấn đề phát triển khơng cân xứng giữa các vùng miền, tăng cơ hội tiếp cận với nguồn
hàng hóa đa dạng cho người dân nơng thôn và do vậy nâng cao cuộc sống người dân ở những vùng xa đơ thị.
Ngồi ra, Nhà nước cần tăng cường việc xây dựng các khu triển lãm, hội chợ với diện tích lớn, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam tiếp cận
người tiêu dùng, quảng bá thương hiệu của mình trên thị trường nội địa và tìm kiếm được cơ hội kinh doanh tiềm năng.
68 68
1.5 Hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước, hướng dẫn, khuyến khích người tiêu dùng hướng tới hàng sản xuất trong nước
Sau khi trở thành thành viên chính thức của tổ chức Thương mại Thế giới WTO, Việt Nam không được phép bảo hộ những ngành mà WTO quy định cho các
quốc gia thành viên phải mở cửa hoàn tồn. Vì vậy, Chính phủ Việt Nam khơng thể bảo hộ các doanh nghiệp bán lẻ trong nước hay phân biệt đối xử với các doanh
nghiệp đến từ các nước khác. Tuy nhiên Chính phủ vẫn có thể hỗ trợ các doanh nghiệp dưới nhiều hình thức khác nhau giúp doanh nghiệp nắm được những quy
định, bộ luật mới hay tiếp cận với các thị trường kinh doanh phát triển trên thế giới.
Để tăng cường hiểu biết pháp luật quốc tế của các doanh nghiệp bán lẻ trong nước, Chính phủ có thể mở các cuộc hội đàm, hội thảo hay các buổi nói
chuyện trong đó mời các chuyên gia đầu ngành làm chủ tọa về các vấn đề liên quan đến luật quốc tế hay những cam kết trong khuôn khổ WTO mà Việt Nam
đang và sẽ áp dụng. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng có thể xây dựng các cổng thông tin điện tử tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong cùng ngành trao đổi kinh
nghiệm, nâng cao hiểu biết về lĩnh vực mà họ đang kinh doanh cũng như giới thiệu những thay đổi về chính sách, luật pháp liên quan. Chính phủ cũng có thể khuyến
khích các doanh nghiệp bán lẻ mở rộng hoạt động về các vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa thông qua các ưu đãi về thuế.
Đối với người tiêu dùng, Chính phủ cũng có thể tác động khuyến khích họ sử dụng hàng hóa sản xuất tại Việt Nam cũng như đi mua sắm tại các siêu thị Việt
Nam. Rút kinh nghiệm từ thành công của các chương trình “Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam”, Nhà Nước có thể thiết kế những kế hoạch mới nhằm hướng
người dân Việt Nam tới những cửa hàng bán lẻ do doanh nghiệp Việt Nam làm chủ.
2. Nhóm giải pháp từ phía các doanh nghiệp bán lẻ của Việt Nam 2.1 Tận dụng và phát huy lợi thế trên thị trường nội địa, hiểu biết rõ về thị trường
và người tiêu dùng trong nước
69
Không thể phủ nhận các doanh nghiệp nước ngoài khi xâm nhập vào thị trường bán lẻ Việt Nam sở hữu rất nhiều lợi thế cạnh tranh vượt trội như tiềm lực
tài chính, kinh nghiệm hoạt động quốc tế hay trang thiết bị công nghệ, quản lý tối tân, .v.v. Tuy nhiên khơng phải nhà bán lẻ tồn cầu nào cũng có thể chiến thắng
các nhà bán lẻ nội địa vì trên thực tế, nhà bán lẻ nội địa cũng có những ưu thế đáng kể trên sân nhà.
Các nhà bán lẻ Việt Nam có nguồn kiến thức khá vững vàng về khách hàng mục tiêu của mình. Họ hồn tồn có khả năng tìm hiểu và nghiên cứu về truyền
thống văn hóa cũng như những thị hiếu, phong cách tiêu dùng của người dân Việt Nam. Trong hoạt động kinh doanh, việc hiểu biết sâu sắc văn hóa của thị trường
mình đang đầu tư là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại. Nguyên nhân đại gia bán lẻ Wal-mart phải tuyên bố rút khỏi thị trường Hàn Quốc là vì tập đồn
này khơng thay đổi phương cách kinh doanh phù hợp với tập quán thị trường nội địa. Do đó, các doanh nghiệp Việt Nam cần giữ vững và khai thác triệt để lợi thế
này của mình. Trong quá trình hoạt động mở rộng thị trường, các doanh nghiệp cần chú ý xây dựng các chính sách sản phẩm hay tiếp cận khách hàng phù hợp với
truyền thống sinh hoạt, tập quán, tín ngưỡng của người dân Việt Nam. 2.2 Nhạy bén nắm bắt thông tin, điều chỉnh theo những biến động thị trường
Các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam đang xây dựng chiến lược kinh doanh của mình theo hướng tập trung vào các cửa hàng bán lẻ hiện đại, và trong tương lai
có thể mở rộng hoạt động sang các nước trong khu vực và trên thế giới. Vì vậy, khả năng nắm bắt thơng tin trên thị trường sẽ đóng vai trò là một trong những yếu
tố quan trọng quyết định sự thành cơng của doanh nghiệp. Trong tình hình thị trường bán lẻ trong nước cũng như trên thế giới liên tục
biến động, doanh nghiệp nào có được thơng tin nhanh nhất và chính xác nhất, doanh nghiệp đó sẽ vượt lên những doanh nghiệp khác và hội nhập được vào xu
thế chung. Ngược lại, những doanh nghiệp chậm trễ trong việc thu thập xử lý thông tin sẽ nhanh chóng trở nên lạc hậu và tụt lại trong cuộc chơi ngày càng khốc
liệt.
70 70
Để có được thơng tin hữu ích nhất phục vụ trực tiếp cho quá trình hoạt động kinh doanh của mình, đầu tiên doanh nghiệp bán lẻ phải khơn khéo tiếp cận
người tiêu dùng. Nhờ đó, họ có thể hiểu được nhu cầu đang hiện hữu trên thị trường đồng thời cũng có thể dự báo những nhu cầu chưa xuất hiện nhưng rất có
tiềm năng. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp bán lẻ cũng cần phải chú trọng nghiên cứu tình hình lao động cũng như thu nhập của đối tượng khách hàng mục tiêu để
ra những quyết định phân phối đúng đắn. Ngoài việc tiếp cận người tiêu dùng, các doanh nghiệp bán lẻ cũng cần liên
tục thu thập thông tin về các doanh nghiệp cùng hoạt động trong ngành để có thể nắm được những chiến lược mở rộng mới của đối thủ cạnh tranh, về dịch vụ cũng
như chủng loại sản phẩm mà đối thủ của mình đang cung cấp cho khách hàng. Thơng qua đó, doanh nghiệp có thể phân tích những điểm mạnh, điểm yếu và có
thể tiếp thu những nét tiến bộ từ doanh nghiệp khác hay học tập từ những thất bại trên thị trường.
2.3 Đầu tư vào thiết lập, củng cố thương hiệu riêng, không ngừng mở rộng danh mục sản phẩm với chất lượng đảm bảo, giá cả cạnh tranh
2.3.1 Củng cố thương hiệu Một thương hiệu mạnh sẽ là động lực thúc đẩy sự phát triển của mỗi doanh
nghiệp, góp phần tạo dựng lợi thế cạnh tranh bền vững trên thị trường và gia tăng giá trị về mặt tài chính cho bản thân doanh nghiệp. Thương hiệu của doanh nghiệp
sẽ thể hiện đầy đủ bản sắc của doanh nghiệp, tạo hình ảnh khác biệt của doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác. Thành công trong việc xây dựng thương hiệu
là yếu tố quyết định sự thành công của bất cứ doanh nghiệp nào. Các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và doanh nghiệp bán lẻ nói riêng trong thời gian gần đây đã
nhận thức rõ hơn về vị trí của thương hiệu trong hoạt động kinh doanh của mình. Tuy nhiên, đầu tư vào việc xây dựng và quảng bá thương hiệu của họ vẫn còn ở
mức khiêm tốn. Vì vậy, trong thời gian tới, các doanh nghiệp bán lẻ cần tăng cường sự hiểu biết về tầm quan trọng của thương hiệu. Đồng thời, họ cần phải có
71
những chiến lược bảo vệ thương hiệu của mình trong bối cảnh Luật Sở hữu trí tuệ ở Việt Nam vẫn chưa được thực thi đầy đủ và nghiêm khắc.
2.3.2 Mở rộng danh mục hàng hóa, khách hàng mục tiêu Bên cạnh việc đầu tư củng cố phát triển thương hiệu của mình, các doanh
nghiệp cũng cần liên tục đổi mới, đa dạng hóa danh mục sản phẩm. Các trung tâm bán lẻ nước ngồi ln vượt trội về chủng loại hàng hóa rất phong phú, tạo điều
kiện cho khách hàng thỏa sức lựa chọn. Doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam phải nghiên cứu thị hiếu khách hàng, đáp ứng kịp thời đầy đủ nhu cầu xuất hiện trên thị
trường bằng việc đem đến những mặt hàng mới nhất, phong phú về mẫu mã, đa dạng về giá cả. Đặc biệt, các doanh nghiệp có thể mở rộng danh mục hàng hóa
bằng việc đưa vào giới thiệu nhiều mặt hàng xa xỉ, giá cao, chất lượng thượng hạng đáp ứng nhu cầu của một bộ phận dân cư giàu có ngày càng tăng trong xã
hội. Ngồi ra, các doanh nghiệp cũng nên mở rộng đối tượng khách hàng mục tiêu thay vì chỉ tập trung vào một nhóm cụ thể. Các doanh nghiệp nên chú trọng hơn
tới tầng lớp khách hàng thanh thiếu niên độ tuổi dưới 20 vì phân đoạn này hiện đang xuất hiện phong cách tiêu dùng hiện đại, khối lượng tiêu dùng lớn và yêu cầu
thường không quá khắt khe. 2.3.3 Chú trọng đầu tư nghiên cứu đáp ứng kịp thời nhu cầu thị trường
Một điểm đáng chú ý là các doanh nghiệp bán lẻ cần nắm rõ tâm lý thích các chương trình khuyến mại, quảng cáo của khách hàng Việt Nam và liên tục đưa
ra các chương trình hấp dẫn. Chuỗi siêu thị Big C cứ mỗi 3 tuần lại đưa ra những tờ rơi quảng cáo rầm rộ cho hàng trăm mặt hàng giảm giá trong một thời điểm
nhất định. Giá cả của những mặt hàng này thậm chí còn thấp hơn những mặt hàng tương tự bán trong chợ truyền thống. Đây là một ví dụ điển hình mà các doanh
nghiệp Việt Nam nên tiếp thu. 2.4 Đào tạo đội ngũ nhân lực chuyên nghiệp, hiệu quả
Một trong những cách tốt nhất để tăng doanh thu từ hoạt động bán lẻ chính là thành cơng trong việc thiết lập các mối quan hệ bền chặt với khách hàng. Để có
72 72
thể giữ chân khách hàng, bên cạnh lợi thế cạnh tranh về giá cả và chất lượng, cung cách phục vụ của người bán hàng là yếu tố vơ cùng quan trọng. Tuy nhiên, dịch vụ
chăm sóc khách hàng của các doanh nghiệp Việt Nam như đã phân tích ở trên là một cản trở lớn giảm tính cạnh tranh của các doanh nghiệp này trong cuộc đua với
các tập đoàn bán lẻ khổng lồ dày dặn kinh nghiệm của thế giới. Chính vì vậy, tìm cách khắc phục điểm yếu này sẽ là chìa khóa giúp các doanh nghiệp Việt Nam cải
thiện được vị trí của mình trên thị trường. Thứ nhất, các doanh nghiệp Việt Nam nên xây dựng các chương trình tuyển
dụng lao động một cách khách quan, minh bạch nhằm tìm kiếm những người có năng lực thực sự, phù hợp với văn hóa doanh nghiệp, có tâm huyết với nghề và có
thể gắn bó lâu dài. Thứ hai, do hiện nay ở Việt Nam vẫn chưa có trường đại học hay cao đẳng
nào đào tạo chuyên nghiệp về nhân viên bán lẻ hay chăm sóc khách hàng nên sau tuyển dụng, việc cần thiết nhất là phải đầu tư cho quá trình đào tạo đội ngũ nhân
viên. Doanh nghiệp có thể mời những chuyên gia bán lẻ trong nước hay nước ngoài thiết kế các khóa học nâng cao kiến thức cơ bản cũng như chuyên sâu cho
nhân viên của mình tùy thuộc vào vị trí trong hệ thống bán lẻ. Điều quan trọng đầu tiên là phải hướng những nhân viên này thay đổi thái độ làm việc theo hướng lấy
khách hàng làm trung tâm. Những nhân viên có hiểu biết sâu rộng có khả năng giải đáp mọi thắc mắc khách hàng, trợ giúp khách hàng một cách nhiệt tình, niềm nở
trong q trình mua sắm sẽ đóng vai trò trực tiếp khuyến khích nhiều khách hàng tìm đến cửa hàng và mua sắm nhiều hơn.
Thứ ba, vì những nhân viên có kinh nghiệm sẽ trở thành tài sản vơ cùng có giá trị đối với bất cứ doanh nghiệp hoạt động trong mọi lĩnh vực nên việc giữ chân
họ cùng có ý nghĩa rất lớn. Đặc biệt trong hồn cảnh hiện nay, các cơng ty ln tìm cách thu hút những nhân viên có tài bằng những chế độ hết sức hấp dẫn, nhất là
các doanh nghiệp nước ngoài. Trước tình hình đó, các doanh nghiệp Việt Nam cần khơn khéo giữ chân nhân viên lâu năm của mình bằng mức lương, thưởng hấp dẫn
và các chương trình đãi ngộ hợp lý.
73
2.5 Đẩy mạnh đầu tư, áp dụng công nghệ cao để quản lý mọi khâu của hoạt động kinh doanh
Cơng nghệ có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh cho bất cứ doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực nào. Đặc biệt trong tình hình cạnh tranh với các tập đoàn bán lẻ
khổng lồ đang sử dụng những phần mềm quản lý bán hàng hiện đại nhất thế giới, các doanh nghiệp Việt Nam cần nhanh chóng đầu tư cải tiến cơng nghệ. Nhà bán lẻ
Việt Nam có thể nghiên cứu tính khả thi của việc áp dụng cơng nghệ RFID như đã phân tích ở chương II để chun nghiệp hóa các cơng đoạn phân phối, quản lý
bán hàng và khách hàng. Công nghệ này đã được hầu hết những tập đoàn bán lẻ lớn trên thế giới áp dụng và ngày càng chứng minh tính ưu việt của nó.
Doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam nên đa dạng hóa các kênh bán lẻ của mình và cần đẩy mạnh việc triển khai kênh bán hàng qua mạng. Số người Việt Nam sử
dụng Internet hiện đang tăng lên nhanh chóng, nhất là ở các vùng nơng thơn. Con số này tính đến thời điểm tháng 12 năm 2009 đã là 22,8 triệu người và được dự
tính sẽ lên tới gần 27 triệu trong vòng 2 năm tới Internet World Stats 2009. Như vậy tiềm năng để có thể triển khai kênh bán hàng này là rất lớn. Các
nhà bán lẻ Việt Nam cần chuẩn bị kiến thức, nguồn tài chính cũng như nhân lực cho mảng kinh doanh này.
Bên cạnh đó, các nhà bán lẻ Việt Nam cần mở rộng việc lắp đặt các máy POS phục vụ khách hàng thanh tốn trực tiếp tại quầy thơng qua các loại thẻ.
Ngoài ra, doanh nghiệp bán lẻ cũng nên chú trọng hợp tác với các ngân hàng để giới thiệu các gói tín dụng khuyến khích mua hàng như mua hàng trả góp, chiết
khấu cho chủ thẻ của các ngân hàng liên kết hay tăng cường hệ thống bảo mật khi khách hàng mua sắm qua mạng,...
2.6 Thực hiện các hoạt động liên kết với các doanh nghiệp bán lẻ khác và các nhà sản xuất
Trước cuộc đua ngày càng quyết liệt trên thị trường bán lẻ Việt Nam giữa các doanh nghiệp trong nước và các tập đoàn bán lẻ khổng lồ, doanh nghiệp Việt
74 74
Nam sẽ gặp rất nhiều thách thức để có thể đứng vững nếu họ không nhận ra được yêu cầu cấp bách là phải thực hiện các hoạt động liên kết, cả chiều ngang và chiều
dọc.
-
Liên kết theo chiều ngang là liên kết giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành, trực tiếp cạnh tranh với nhau và chia sẻ cùng dòng sản phẩm trên thị
trường. Cụ thể trong ngành bán lẻ liên kết chiều ngang là liên kết giữa các nhà bán lẻ cùng kinh doanh trên một thị trường cụ thể.
-
Liên kết theo chiều dọc là liên kết giữa các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng. Liên kết trong chiều dọc trong ngành bán lẻ có thể là giữa một hay
nhiều nhà bán lẻ với các công ty hoạt động trong lĩnh vực vận tải, kho bãi. Thực chất, ở hầu hết các nước phát triển, việc liên kết giữa các doanh nghiệp
cùng ngành luôn được chủ các doanh nghiệp chú trọng do những ưu thế vượt trội mà nó mang lại. Vì vậy, trong thời gian tới, các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam cần
tìm kiếm cơ hội liên kết với nhau để xây dựng những tổ chức vững mạnh có tính cạnh tranh cao. Mỗi doanh nghiệp, tùy thuộc vào thị trường mục tiêu, quy mô
doanh nghiệp và chiến lược phát triển trong tương lai có thể lựa chọn cho mình con đường liên kết phù hợp.
Gần đây, có một xu hướng được nhiều chuyên gia kinh tế đề xuất cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ.
Đó là việc thành lập các liên minh mua hàng. Các liên minh này thực tế đã ra đời và khá thành công trên các thị trường bán lẻ của các quốc gia phát triển. Tại đó,
các doanh nghiệp bán lẻ lớn thường chiếm lĩnh thị trường nhờ tính kinh tế của quy mơ. Do đó, các doanh nghiệp nhỏ, để sống sót trên thị trường cạnh tranh khốc liệt
đã liên minh lại với nhau để thành lập các liên minh mua hàng, nhằm giảm chi phí một cách tối đa. Bên cạnh chức năng cơ bản nhất là cung cấp cho các doanh
nghiệp thành viên những thông tin cập nhật về tình hình thị trường, biến động giá cả, những liên minh này cho phép các thành viên tập trung các đơn hàng cùng loại
thành một đơn hàng thống nhất với số lượng lớn. Nhờ đó, liên minh có thể được hưởng chiết khấu và kết quả là các doanh nghiệp tham gia có thể tiết kiệm chi phí
75
mua hàng. Bên cạnh đó, những liên minh này có thể đại diện cho các thành viên của mình để tham gia vào các cuộc đàm phán với nhà phân phối hay sản xuất
nhằm mục đích đạt được những điều khoản có lợi nhất. Các tổ chức liên kết giữa các nhà bán lẻ còn có khả năng hỗ trợ thành viên
nâng cao kinh nghiệm và kiến thức pháp luật, đặc biệt là khả năng khởi kiện. Trong tình hình đa số các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam còn là các doanh nghiệp
vừa và nhỏ, việc những doanh nghiệp này tập hợp lại thành một tổ chức lớn có thể tăng sức mạnh trong quá trình ký kết các hợp đồng mua bán hàng hóa. Trong
trường hợp có tranh chấp xảy ra, nhất là các tranh chấp có yếu tố nước ngồi, các liên kết này hồn tồn có khả năng thuê những luật sư nhiều kinh nghiệm và có uy
tín để bảo vệ quyền lợi tối đa cho các thành viên.
KẾT LUẬN
Có thể thấy rằng, thị trường bán lẻ châu Á đang dần trở thành thị trường hấp dẫn nhất thế giới, là điểm đến số một của các tập đoàn bán lẻ toàn cầu. Trong
thời gian tới, khu vực bán lẻ của châu lục này sẽ tiếp tục là một trong những khu vực diễn ra quá trình tồn cầu hóa mạnh mẽ nhất trên thế giới. Bên cạnh sự xuất
hiện của các nhà bán lẻ khổng lồ đến từ châu Âu và Bắc Mỹ, châu Á sẽ chứng kiến sự lớn mạnh khơng ngừng của chính những nhà bán lẻ nội địa. Một số lượng lớn
76 76
các tập đồn bán lẻ đến từ châu Á sẽ khơng ngừng phát triển để cạnh tranh với các tập đoàn Âu Mỹ trên sân nhà đồng thời nhanh chóng vươn ra cả những thị trường
khác khắp toàn cầu. Trong bối cảnh tự do hóa thương mại và hội nhập sâu rộng đang diễn ra
trên thế giới và trong khu vực, thị trường bán lẻ Việt Nam dù phát triển muộn hơn song đang tích cực đón nhận và tiếp thu những xu thế chung. Sau khi trở thành
thành viên chính thức của WTO, Việt Nam đang dần từng bước thực hiện quá trình mở cửa thị trường bán lẻ, thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhằm đưa thị trường phát
triển theo hướng hiện đại hóa. Tuy nhiên, trong thời gian tới, thị trường bán lẻ Việt Nam vẫn tồn tại nhiều vấn đề phải giải quyết dứt điểm. Một trong những nhiệm vụ
hàng đầu hiện nay là việc các cơ quan nhà nước phải đẩy nhanh q trình hồn thiện định hướng phát triển phù hợp, rõ ràng cho hệ thống bán lẻ hiện đại cùng với
việc quy hoạch cụ thể hệ thống truyền thống. Cùng với việc thực hiện những cam kết mở cửa trong khuôn khổ WTO, Đảng và Chính phủ cần nghiên cứu và áp dụng
những biện pháp khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tồn tại và phát triển được trong tình hình mới.
77
78 78
HỆ THỐNG CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
TỪ VIẾT TẮT THUẬT NGỮ ĐẦY ĐỦ
NGHĨA TIẾNG VIỆT
CPFR Collaborative Planning,
Forecasting and Replenishment
Hoạch định, dự báo và bổ sung theo mơ hình cộng tác
CRM Customer Relationship Management
Quản lý quan hệ với khách hàng
ENT Economic Needs Test
Kiểm tra nhu cầu kinh tế
FMCG Fast moving consumer goods
Hàng hóa tiêu dùng nhanh
GATS
General Agreement on Trade in Services
Hiệp định chung về thương mại dịch vụ
GRDI Global Retail Development Index
Chỉ số phát triển bán lẻ toàn cầu
KFTC Korean Fair Trade Commission
Ủy ban thương mại lành mạnh Hàn Quốc
MA Merger and Acquisition
Mua lại và sáp nhập
RFID Radio-Frequency Identification
Hệ thống nhận dạng tự động từ xa
WTO World Trade Organization
Tổ chức Thương mại Thế giới
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. A.T.Kearney 2009, 2009 Global Retail Development Index, USA 2. AS Watson Group 2009, A.S Watson Group Announces Acceleration of
Global Expansion Plan, truy cập ngày 2822010 từ trang web: http:www.aswatson.comengnews_Nov24_2009.htm

3. Business in Asia 2005, China in Major Change: Opens Retail, Distribution


Sectors to Foreign Businesses truy cập ngày 2132010 từ trang web http:www.business-in-asia.comchina_retail.html

4. Ca, Hảo 2009, Sôi sục giá thuê mặt bằng bán lẻ, truy cập ngày 02032010 từ


trang web: http:vietnamnet.vnkinhtethitruong200910Soi-suc-gia-thue-mat-
bang-ban-le-873948 .

5. CB Richard Ellis CBRE Việt Nam 2008, Thị trường bất động sản bán lẻ Việt


Nam, Hà Nội.

6. Dawson, John và các cộng sự 2003, The internalization of retailing in Asia,


RoutledgeCurzon, Japan.

7. Dawson, John và Lee, Jung-Hee 2004, International retailing plans and


strategies in Asia, International Business Press, NY, USA, tr. 1-5 và 121-132.
8. Deloitte 2010, Global Powers of retailing 2010, London. 9. Dennis, Charles; Fenech, Tino; và Merriless Bill 2004, E-retailing,
Routledge Business, USA.

10. Global Agriculture Information Network – GAIN 2010, Vietnam retail


food sector 2010, thành phố Hồ Chí Minh, tr. 3-11

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (83 trang)

×