1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Mục đích nghiên cứu Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu Business in Asia 2005, China in Major Change: Opens Retail, Distribution Ca, Hảo 2009, Sơi sục giá th mặt bằng bán lẻ, truy cập ngày 02032010 từ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (456.88 KB, 83 trang )


Xuất phát từ thực tế đó, em chọn đề tài: “Thực trạng thị trường bán lẻ châu Á và những kiến nghị đối với Việt Nam”.

2. Mục đích nghiên cứu


Thứ nhất, khái quát về mặt lý luận, phân tích những đặc điểm chính của thị trường châu Á hiện nay cũng như những xu thế phát triển mới trong tương lai. Một
số thị trường tiêu biểu cũng được phân tích nhằm rút ra những bài học cho những thị trường phát triển sau. Bên cạnh đó, khóa luận cũng đưa ra những đánh giá về
những tập đoàn bán lẻ lớn đến từ châu lục khác hay những tập đoàn bán lẻ mạnh nhất châu Á thơng qua việc tìm hiểu những yếu tố quyết định thành cơng của
những tập đồn này. Thứ hai, từ những phân tích đánh giá rút ra trên thị trường châu Á, rút ra
những kinh nghiệm cho sự phát triển của thị trường bán lẻ Việt Nam trong quá trình quy hoạch, phát triển thị trường theo hướng hiện đại hóa.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu


Đối tượng nghiên cứu của bài khóa luận là các hoạt động, xu hướng bán lẻ đang diễn ra trên thị trường châu Á nói chung và thị trường bán lẻ Việt Nam nói
riêng. Đặc biệt trên thị trường Việt Nam, các nghiên cứu dành sự chú ý cho những ảnh hưởng từ việc trở thành thành viên của WTO đến thị trường Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu tập trung nhiều vào thị trường Đông Á và Đông Nam Á, bao gồm 10 quốc gia ASEAN, Trung Quốc, Hồng Kơng, Đài Loan và Hàn
Quốc. Nghiên cứu của bài khóa luận không bao gồm Nhật Bản do thị trường bán lẻ ở quốc gia này đã phát triển khá lâu và hiện nay đã được xếp vào một trong
những thị trường có dấu hiệu bão hòa.

4. Phương pháp nghiên cứu


Đề tài khóa luận được nghiên cứu trên cơ sở kết hợp các phương pháp phân tích – tổng hợp, kết hợp lý luận với thực tiễn, phân tích, đánh giá nhằm rút ra
những bài học kinh nghiệm hợp lý.
2 2

5. Kết cấu khóa luận


Ngồi phần mở đầu, kết luận, danh mục thuật ngữ viết tắt và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn của em được chia làm ba phần:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về thị trường bán lẻ. Chương 2: Thực trạng thị trường bán lẻ châu Á.

Chương 3: Thị trường bán lẻ Việt Nam và những kiến nghị nhằm phát triển


thị trường trong tương lai.
Trong q trình hồn thành luận văn tốt nghiệp, em đã nhận được sự hướng
dẫn nhiệt tình cũng như những ý kiến đóng góp vơ cùng q giá của Thạc sỹ Nguyễn Thị Xuân Hường. Em xin gửi tới cô lời cảm ơn chân thành và sâu sắc
nhất. Luận văn của em không tránh khỏi những thiếu sót do đề tài tương đối rộng trong khi khn khổ của bài khóa luận lại hạn chế. Em rất mong nhận được sự
thơng cảm và góp ý từ phía các thày cô và các bạn.
3

CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ


I. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ PHÂN LOẠI THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ 1. Các khái niệm về bán lẻ
1.1 Thị trường bán lẻ

Thị trường bán lẻ: được hiểu là thị trường trên đó người bán cá nhân hay các cơng ty, gọi chung là nhà bán lẻ bán sản phẩm trực tiếp đến người mua người
tiêu dùng cuối cùng.

Dịch vụ bán lẻ: Theo tài liệu số MTN.GNSW120 được xây dựng trong vòng đàm phán Urugoay dựa trên hệ thống phân loại sản phẩm của Liên Hợp
Quốc thì bán lẻ là một trong bốn nhóm dịch vụ chính của dịch vụ phân phối. Dịch vụ phân phối được quy định bao gồm:

Dịch vụ đại lý hoa hồng

Dịch vụ bán buôn

Dịch vụ nhượng quyền thương mại

Dịch vụ bán lẻ 1.2 Nhà bán lẻ
1.2.1 Nhà bán lẻ: Nhà bán lẻ là người bán sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ đến khách
hàng. Khách hàng mua sản phẩm vì mục đích tiêu dùng của cá nhân hay gia đình mình. Bán lẻ là khâu kinh doanh cuối cùng trong chuỗi
phân phối hàng hóadịch vụ của nhà sản xuất đến người tiêu dùng. Nhà sản xuất tạo ra sản phẩm và phân phối đến cho các nhà bán buôn. Nhà
bán buôn lại phân phối sản phẩm nhận từ nhà sản xuất đến các nhà bán lẻ khác. Cuối cùng, nhà bán lẻ sẽ bán lại sản phẩm đến người tiêu
dùng. Trong chuỗi phân phối, nhà bán bn có thể đồng thời hoạt động như nhà bán lẻ và ngược lại.
4 4

1.2.2 Chức năng của nhà bán lẻ trên thị trường:



Tập hợp và cung cấp một chuỗi các loại hàng hóadịch vụ khác nhau Nhà bán lẻ sẽ gom sản phẩm từ các nhà bán buôn và bán lại cho người tiêu
dùng. Sản phẩm mang các nhãn hiệu khác nhau với số lượng, chủng loại, kích cỡ, màu sắc đa dạng. Tuy vậy, mỗi nhà bán lẻ thường tập trung vào một số lĩnh vực
nhất định.

Chia nhỏ sản phẩm Nhà bán buôn phân phối sản phẩm theo từng lô hàng hay kiện hàng với số
lượng lớn. Nhà bán lẻ có nhiệm vụ chia nhỏ những sản phẩm này phục vụ nhu cầu tiêu dùng cá nhân.

Lưu trữ hàng tồn kho Một chức năng quan trọng của nhà bán lẻ là lưu trữ hàng hóa phục vụ nhu
cầu người tiêu dùng. Thông qua chức năng này, nhà bán lẻ giúp người tiêu dùng giảm thiểu chi phí dự trữ hàng hóa. Khoản đầu tư cho việc dự trữ hàng hóa của
người tiêu dùng do đó có thể chuyển thành các khoản đầu tư khác mà người tiêu dùng có thể hưởng lãi suất như khoản tiền gửi tiết kiệm.

Cung cấp dịch vụ hỗ trợ Bên cạnh chức năng chính là bán hàng hóa, nhà bán lẻ còn cung cấp cho
khách hàng những dịch vụ khiến cho việc mua sắm của họ trở nên dễ dàng và thuận lợi hơn như việc trưng bày một số mẫu thử sản phẩm mới cho khách hàng
dùng miễn phí hay ở một tầm cao là cho khách hàng vay tiền để mua hàng của họ Với tất cả chức năng trên của mình, nhà bán lẻ đã thực hiện được nhiệm vụ
quan trọng nhất là làm gia tăng giá trị hàng hóa và dịch vụ mà khách hàng nhận được.
Từ những khía cạnh đã phân tích ở trên, chúng ta có thể định nghĩa hoạt động bán lẻ là hoạt động kinh doanh làm gia tăng giá trị đối với hàng hóa hay dịch
vụ bán cho người tiêu dùng vì mục đích sử dụng của cá nhân hay gia đình. Hoạt
5
động bán lẻ không chỉ diễn ra trong các cửa hàng mà còn bao gồm các hoạt động bán hàng qua điện thoại, qua mạng Internet, các dịch vụ chăm sóc, làm đẹp, v.v.
2. Những đặc điểm của thị trường bán lẻ Trên thị trường bán lẻ, hàng hóa được bán đến tay người tiêu dùng cuối
cùng. Người này mua hàng theo nhu cầu và sử dụng cho bản thân hay gia đình mà khơng bán lại nhằm mục đích kinh doanh hay bất cứ mục đích sinh lời nào khác.
Đây được coi là đặc điểm cơ bản phân biệt thị trường bán lẻ với các thị trường giao dịch hàng hóa khác.
Thị trường bán lẻ cung cấp hàng hóa với những chủng loại đa dạng, nhãn hiệu và có thể phục vụ mọi đối tượng khách hàng sinh sống ở các vùng địa lý khác
nhau. Hàng hóa trên thị trường bán lẻ có thể được phân thành hai loại:

Nhóm các sản phẩm lương thực, thực phẩm và các loại hàng hóa liên quan food sector, bao gồm: lương thực gạo, ngũ cốc, bột mì,…; thực phẩm
tươi sống hay đã qua chế biến; đồ uống rượu, bia, nước giải khát; .v.v.

Nhóm các sản phẩm phi thực phẩm non-food sector, bao gồm: đồ điện tử dân dụng hay gia dụng; hóa mỹ phẩm, sản phẩm chăm sóc sức khỏe hay sắc
đẹp; các sản phẩm thời trang: hàng dệt, may, da giày…; văn phòng phẩm; sách báo; đồ chơi; máy tính và các phần mềm máy tính; .v.v.
3. Phân loại các loại hình thức bán lẻ trên thị trường Cách phân chia cơ bản nhất và được sử dụng nhiều nhất khi phân tích hay
nghiên cứu thị trường bán lẻ là phân loại dựa vào mơ hình kinh doanh. Theo đó thị trường bán lẻ bao gồm hai hình thức kinh doanh chính:
3.1 Hệ thống bán lẻ truyền thống
Biểu đồ I.1: Phân loại hệ thống bán lẻ truyền thống
6 6
Trong các mơ hình bán lẻ truyền thống, chợ là hình thức bán lẻ sơ khai nhất, tồn tại từ khi loài người bắt đầu thoát khỏi thời kỳ tự cung tự cấp và bắt đầu
biết trao đổi những thứ mình sản xuất thừa, khơng dùng đến. Trong xã hội hiện đại ngày nay chợ vẫn tồn tại ở các quốc gia phát triển nhất tới các quốc gia kém phát
triển. 3.2 Hệ thống bán lẻ hiện đại
Theo công ty nghiên cứu thị trường thuộc tập đoàn IBM Hoa Kỳ năm 2007, Euromonitor và Nielsen 2008, hệ thống kinh doanh bán lẻ hiện
đại gồm những mơ hình chính sau:
3.2.1 Trung tâm mua sắm department store Trung tâm mua sắm là một tổ hợp thương mại lớn bao gồm các gian hàng
bán lẻ hàng hóa hay cung cấp dịch vụ. Tất cả những gian hàng này được bố trí dưới cùng một mái vòm, cung cấp đa dạng các chủng loại mặt hàng từ các mặt
hàng tiêu dùng thiết yếu tới các hàng hóa lâu bền, bao gồm: quần áo, sản phẩm dệt may, giày dép, đồ điện tử, đồ chơi, nội thất, phần mềm máy tính, trang sức, mỹ
phẩm, dụng cụ thể thao, v.v. Trung tâm mua sắm lớn nhất trên thế giới hiện nay là trung tâm Shinsegae Centum City của tập đoàn Shinsegae Hàn Quốc đặt tại
thành phố Busan. 3.2.2 Đại siêu thị hypermarket
Đại siêu thị là các mơ hình kinh doanh bán lẻ có quy mơ lớn nhất với tổng diện tích sàn vào khoảng 30.000 mét vuông. Số mặt hàng bày bán có thể lên tới
25.000. Các mặt hàng lương thực, thực phẩm chiếm từ một phần ba đến hai phần ba tổng số sản phẩm bày bán. Tại các đại siêu thị, người tiêu dùng có thể mua sắm
các mặt hàng khác khơng nằm trong nhóm lương thực, thực phẩm như mỹ phẩm, các sản phẩm chăm sóc sức khỏe.
3.2.3 Siêu thị supermarket Siêu thị được xây dựng trên mô hình người mua sắm tự phục vụ. Diện tích
sàn của các siêu thị nằm trong khoảng từ 5.000 đến 30.000 mét vuông. Số loại sản
7
phẩm bày bán vào khoảng 15.000. Khoảng hai phần ba các sản phẩm bày bán trong siêu thị là lương thực, thực phẩm. Thông thường các siêu thị còn cung cấp
thêm quầy đồ ăn sẵn và hiệu bánh mỳ. 3.2.4 Cửa hàng tiện ích convenience store
Các cửa hàng tiện ích là các mơ hình cửa hàng bán lẻ quy mơ nhỏ. Diện tích mỗi cửa hàng thường dưới 3000 mét vuông, số các mặt hàng bày bán dưới 5000
loại. Các cửa hàng này thường mở ở những nơi giao thông thuận lợi, tập trung dân số, giờ hoạt động thường muộn hơn các loại hình khác. Sản phẩm bày bán chủ yếu
là các mặt hàng tiêu dùng hàng ngày và giá cả thường cao hơn so với hàng hóa trong siêu thị.

3.2.5 Cửa hàng giảm giá discount store:


Là hệ thống các cửa hàng cho phép khách hàng tiếp cận với những chủng loại hàng hóa giá rẻ, ở vị trí khá thuận lợi về giao thơng. Đặc điểm của mơ hình
kinh doanh này là chi phí mặt bằng thấp, số lượng nhân lực giới hạn, tiết kiệm đầu tư vào marketing. Hàng hóa được trưng bày với số lượng khá đa dạng. Mỗi thời
điểm, cửa hàng sẽ giảm giá một số loại mặt hàng nhất định. Diện tích mỗi cửa hàng loại này thường từ 300 đến 1000 mét vng sản. Mơ hình kinh doanh này có
thể được tìm thấy ở những khu vực cho th diện tích sàn với giá rẻ hay tầng hầm của các trung tâm mua sắm lớn.
3.2.6 Cửa hàng mỹ phẩm, sản phẩm chăm sóc sức khỏe, sắc đẹp drugstore Là các cửa hàng bán lẻ chuyên bán các loại thuốc thường là thuốc bán
không cần kèm đơn thuốc và các sản phẩm chăm sóc sức khỏe như thực phẩm chức năng,.. Ngoài ra, ở các cửa hàng loại này, người tiêu dùng có thể tìm thấy các
loại hàng hóa mỹ phẩm như dầu gội, sữa tắm, mỹ phẩm hay các sản phẩm làm đẹp. Ở một số nơi, bánh kẹo và báo, tạp chí cũng được trưng bày để phục vụ
khách hàng.

Ngồi ra còn có một số cách phân loại khác, như:
Dựa vào cơ sở bán lẻ thì có hai hình thức bán lẻ là:
8 8
-
Bán lẻ có cửa hàng tại các siêu thị, chợ, cửa hàng tiện ích,…
-
Bán lẻ khơng có cửa hàng bán hàng qua điện thoại, catalog, internet, qua máy bán hàng tự động,.v.v
Dựa vào loại hình sở hữu có ba hình thức bán lẻ theo Retailing management – Levy:
-
Hình thức bán lẻ do tư nhân làm chủ
-
Hình thức bán lẻ do cơng ty làm chủ
-
Hình thức bán lẻ nhượng quyền II. VAI TRÒ CỦA THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ
1. Thị trường bán lẻ đóng vai trò là cầu nối giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng Hàng hóa sản xuất ra có thể được phân phối trực tiếp đến tay người tiêu
dùng hoặc thơng qua các kênh trung gian. Hình thức phân phối qua trung gian còn gọi là phân phối gián tiếp.
Trong nền sản xuất chun mơn hóa hiện nay, kênh phân phối trực tiếp ngày càng trở nên ít phổ biến do doanh nghiệp sản xuất phải dành một khoản đầu
tư tương đối lớn cho hoạt động phân phối. Hình thức này khơng thể phù hợp với các doanh nghiệp quy mơ vừa hoặc nhỏ. Trong khi đó, phương thức phân phối
hàng hóa gián tiếp lại thể hiện rõ ưu thế của mình. Bằng việc đưa hàng hóa do doanh nghiệp mình sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng thơng qua các
trung gian, doanh nghiệp có thể tiết kiệm được chi phí và thời gian. Nhà bán lẻ đóng vai trò là người trung gian cuối cùng trong khâu phân phối hàng hóa đến tay
người tiêu dùng. Tùy thuộc vào đặc điểm, tính chất của sản phẩm, quy mô của doanh nghiệp sản xuất, nhà bán lẻ có thể đóng vai trò là trung gian duy nhất hay là
một trong các trung gian trong quá trình phân phối hàng hóa từ khi xuất kho nhà sản xuất đến khi bán được cho người tiêu dùng cuối cùng.
2. Thị trường bán lẻ giúp cung cấp thông tin từ người tiêu dùng đến nhà sản xuất và ngược lại
9
Trên thị trường bán lẻ, người bán và người mua có mối quan hệ trực tiếp. Họ gặp gỡ và giao dịch với nhau. Nhờ đó, người bán lẻ thu được những thơng tin
sơ cấp về khách hàng của mình. Nhà bán lẻ có cơ hội tìm hiểu và nghiên cứu những nhu cầu của người tiêu dùng qua đó tìm cách đáp ứng được những nhu cầu
đó. Thơng qua việc bán hàng đến người tiêu dùng cuối cùng, nhà bán lẻ có thể thu thập được những phản hồi của khách hàng về chất lượng sản phẩm, mẫu mã, bao
bì đóng gói,… Từ đó họ có thể truyền tải đến người sản xuất Trong quá trình tiếp cận trực tiếp với người tiêu dùng cuối cùng, nhà bán lẻ
hoàn tồn có khả năng tìm hiểu những nhu cầu có thể xuất hiện trong tương lai và giúp nhà sản xuất bắt kịp được những xu hướng thị trường để lên chiến lược mở
rộng sản xuất. Ngược lại, nhà sản xuất cũng có thể thơng qua thị trường bán lẻ để nghiên
cứu thái độ của thị trường khi đón nhận một sản phẩm hay kế hoạch sản xuất mới trong tương lai.
Tóm lại, thơng tin chính là chìa khóa dẫn đến thành công cho bất cứ doanh nghiệp trong bất cứ ngành nào. Và nhờ vào những thông tin trên thị trường bán lẻ,
nhà sản xuất có thể điều chỉnh kế hoạch sản xuất, cải tiến sản phẩm theo hướng thỏa mãn tối đa thị hiếu người tiêu dùng. Người tiêu dùng, nhờ vào việc nghiên
cứu những biến động trên thị trường cũng có thể điều chỉnh hành vi mua sắm của mình theo hướng có lợi nhất với chi phí thấp nhất và tiết kiệm được thời gian.
3. Thị trường bán lẻ phản ánh tình hình sản xuất, kinh doanh và mức sống của người dân trong một quốc gia
Sự tồn tại của thị trường bán lẻ là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của các ngành sản xuất trong xã hội. Mục đích của bất cứ ngành sản xuất nào
là tạo ra sản phẩm và bán đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Do vậy, sự hoạt động của thị trường bán lẻ tạo điều kiện cho các ngành sản xuất, kinh doanh tồn tại và
hoạt động bình thường.
10 10
Thị trường bán lẻ không chỉ giải quyết đầu ra, tiêu thụ sản phẩm cho q trình sản xuất mà còn làm gia tăng GDP của quốc gia. Doanh thu bán lẻ trên mỗi
thị trường thể hiện sức khỏe của một nền kinh tế: quy mơ, tình hình phát triển hay những xu hướng trong nền kinh tế đất nước đó. Bên cạnh đó, những chuyển dịch
trên thị trường bán lẻ còn cho thấy sự thay đổi trong mức sống của người dân. Thị trường bán lẻ tăng trưởng tốt đồng nghĩa với thu nhập trung bình của người dân
quốc gia đó đang tăng lên, sức mua cải thiện, chất lượng đời sống nâng cao. Ngoài ra, bán lẻ cũng là khu vực thu hút lực lượng lao động lớn, góp phần tạo ra công ăn
việc làm cho một tỷ lệ lớn người lao động trên thế giới. 4. Thị trường bán lẻ đóng vai trò quan trọng trong q trình tái sản xuất xã hội
Bốn khâu trong quá trình tái sản xuất xã hội gồm: sản xuất – phân phối – trao đổi – tiêu dùng. Thị trường bán lẻ là khâu trung gian giữa sản xuất và tiêu
dùng. Do đó nó đảm bảo một khâu quan trọng của quá trình tái sản xuất trên. Khơng có các hoạt động của thị trường bán lẻ thì q trình tái sản xuất khơng thể
diễn ra được do đó khơng thể mở rộng phát triển nền kinh tế.
11

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ CHÂU Á


I. CÁC XU THẾ NỔI BẬT TRÊN THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ CHÂU Á HIỆN NAY 1. Hệ thống bán lẻ hiện đại dần thay thế các cửa hàng truyền thống
1.1 Thay đổi trong hành vi tiêu dùng của người dân châu Á Sự phát triển của hệ thống bán lẻ hiện đại xuất phát từ những thay đổi sâu
sắc trong xã hội các quốc gia châu Á. Thứ nhất, thu nhập trung bình của châu lục này đã tăng lên một cách đáng
kể kéo theo sự xuất hiện của tầng lớp trung lưu và thượng lưu với số lượng ngày càng lớn.
Thứ hai, và cũng là nguyên nhân quan trọng hơn cả chính là sự thay đổi về vai trò của người phụ nữ trong xã hội. Nếu những năm đầu của thế kỷ 20, tỷ lệ phụ
nữ tham gia vào lực lượng lao động trên cả châu Á chưa đến 20 thì trong thập kỷ đầu của thế kỷ 21, số lượng phụ nữ làm việc đã xấp xỉ số lượng nam giới. Ở một
số nước Đông Á như Hàn Quốc, Đài Loan, … trung bình tỷ lệ nữ giới trên nam giới trong lực lượng lao động là khoảng 91-93100. Chính vì sự thay đổi mang tính
cách mạng đó, xu hướng tiêu dùng trong xã hội châu Á cũng thay đổi mạnh mẽ. Khi ngày càng nhiều phụ nữ đi làm, họ có khuynh hướng tiết kiệm thời gian mua
sắm và nấu nướng của mình. Do vậy, những thực phẩm đã qua chế biến ngày càng trở nên phổ biến.
Bên cạnh đó, việc sử dụng rộng rãi của tủ lạnh và các dụng cụ điện tử hiện đại khác trong gia đình cho phép người dân có thể đi chợ hàng tuần, thay vì hàng
ngày như thời kỳ trước đây. Hơn nữa, do sự phát triển của các phương tiện cá nhân và hệ thống đường xá, cơ sở hạ tầng được xây dựng và nâng cấp đã tạo điều kiện
cho người tiêu dùng, đặc biệt là phụ nữ có thể lựa chọn mua sắm ở các khu vực xa trung tâm với số lượng hàng hóa mua sắm lớn hơn nhiều lần.
12 12
Theo các bản nghiên cứu thị trường của Nielsen được tiến hành vào năm 2008 và 2009, người dân ở hầu hết các đô thị lớn của các quốc gia châu Á thường
đi mua hàng ở các đại siêu thị trung bình hai đến ba lầntháng. Mục đích mua sắm của họ thường phục vụ cho việc dự trữ thực phẩm, mua lương thực sử dụng hàng
ngày hay các đồ dùng, sản phẩm chăm sóc sức khỏe. Theo Nielsen 2009, Hàn Quốc nơi 96 dân cư thành thị đến siêu thị mua sắm hàng tháng giữ tỷ lệ cao nhất
so với các quốc gia châu Á còn lại. Một nguyên nhân khác tạo nên sự thay đổi trong thói quen mua sắm của
người châu Á xuất phát từ chính sự điều chỉnh của các mơ hình bán lẻ hiện đại. Người châu Á, khác với người phương Tây, vốn có thói quen sử dụng những thực
phẩm tươi sống nên mơ hình bán lẻ truyền thống như chợ từ lâu đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của người dân ở đây. Nhận thức được điều
đó, các siêu thị và đại siêu thị đã dần dần giới thiệu và xây dựng các quầy bán hàng tươi sống như thịt gia súc, gia cầm, rau xanh để đáp ứng thị hiếu tiêu dùng ở
châu lục này. Hiện nay, cũng theo Nielsen, tỷ lệ người dân Trung Quốc mua thực phẩm tươi sống từ chuỗi các đại siêu thị đang đứng đầu tồn châu Á khi mơ hình
bán lẻ này được chọn là địa điểm mua sắm thường xuyên hàng tươi sống cho hơn 60 người dân Trung Quốc hiện đang sinh sống ở các đô thị Nielsen 2009.
1.2 Sự xuất hiện và phát triển của các mơ hình bán lẻ hiện đại

1.2.1 Lịch sử ra đời của các cửa hàng bán lẻ hiện đại


Tuy thói quen tiêu dùng của người châu Á chỉ thay đổi mạnh từ khoảng nửa sau thế kỷ 20 nhưng trên thực tế, mơ hình các cửa hàng mua sắm hiện đại đã xuất
hiện ở Trung Quốc từ đầu thế kỷ 20. Cửa hiệu mua sắm đầu tiên này được xây dựng theo ý tưởng của một thương nhân Trung Quốc sống ở Australia. Một số cửa
hàng mua sắm hiện đại như Wing On và Sincere ở Thượng Hải mở cửa từ trước năm 1949 vẫn duy trì hoạt động đến thời điểm này. Các trung tâm mua sắm hiện
đại bắt đầu được xây dựng với số lượng lớn trên khắp châu lục vào khoảng những năm 1980 và bùng nổ vào khoảng những năm 1990 của thế kỷ trước.
13
Số lượng các cửa hàng bán lẻ hiện đại xuất hiện ở châu Á ngày một tăng. Đặc biệt, cùng với q trình tồn cầu hóa và hội nhập, các nền kinh tế châu Á đã
và đang đón nhận những làn sóng đầu tư nước ngồi mạnh mẽ vào khu vực bán lẻ hiện đại. Trong ba mô hình kinh doanh bán lẻ hiện đại là đại siêu thị, siêu thị và
cửa hàng tiện ích thì mơ hình thứ ba được ghi nhận là tăng trưởng mạnh nhất trong những năm vừa qua và được dự đoán sẽ tiếp tục tăng trong tương lai gần.
1.2.2 Vị trí của hệ thống bán lẻ hiện đại trên thị trường hiện nay Hệ thống bán lẻ hiện đại ngày một thể hiện ưu thế vượt trội so với hệ thống
bán lẻ truyền thống. Tính đến thời điểm tháng 3 năm 2009, theo Nielsen 2009, số lượng các cửa hàng bán lẻ hàng tiêu dùng truyền thống trên khắp châu Á chỉ tăng
1 lên khoảng hơn 12.3 triệu. Số lượng các cửa hàng bán lẻ hiện đại tăng đến 16 trong năm 2009. Tốc độ tăng trưởng về số lượng chuỗi cửa hàng bán lẻ
truyền thống và hiện đại ở một số quốc gia được thể hiện trong bảng sau:
QUỐC GIA HỆ THỐNG
BÁN LẺ TRUYỀN
THỐNG HỆ THỐNG
BÁN LẺ HIỆN ĐẠI
Hàn Quốc -10
+7 Đài Loan
-9,5 Trung Quốc
-4 +13
Ấn Độ +5
+18 Singapore
-6 +1
Malaysia +3
+5
Bảng II.1: Tốc độ tăng trưởng số lượng các cửa hàng bán lẻ 2007 – 2008
Nguồn: Nielsen 2009
Thị phần hệ thống bán lẻ hiện đại giành được cũng không ngừng tăng lên. Tính đến hết năm 2007, hệ thống bán lẻ hiện đại đã giành thị phần lớn hơn các loại
hình bán lẻ truyền thống. Cụ thể ở một số nước châu Á: ở Hàn Quốc, thị phần của hệ thống bán lẻ truyền thống giảm xuống từ 15.9 trong năm 2008 xuống chỉ còn
13.9 năm 2009 trong khi đó ở Đài Loan, hệ thống này chỉ nắm giữ hơn 6 thị
14 14
phần. Biểu đồ sau cho thấy sự thay đổi về thị phần của hai mơ hình bán lẻ truyền thống và hiện đại trên khắp châu Á nói chung.
Biểu đồ II.1: Thị phần của hệ thống bán lẻ truyền thống và hiện đại ở Châu Á trừ Nhật Bản
Nguồn: Nielsen 2009 2. Sự hiện diện và tầm ảnh hưởng của các tập đoàn bán lẻ hàng đầu Âu Mỹ ngày
càng lớn

2.1 Tình hình mở rộng của các tập đoàn bán lẻ toàn cầu ra khắp châu Á


Châu Á vươn lên là khu vực phát triển nhanh nhất và năng động nhất thế giới. Khu vực này ngày càng thu hút được sự chú ý của các nhà đầu tư nước ngoài,
đặt biệt là các nền kinh tế được coi là những con rồng châu Á Hàn Quốc, Singapo, Đài Loan, Hồng Kông. Ngành công nghiệp bán lẻ châu Á trong những
năm gần đây luôn phát triển với tốc độ nhanh hơn tốc độ phát triển trung bình của ngành bán lẻ toàn cầu và thu hút lượng vốn đầu tư nước ngoài khổng lồ. Thị
trường châu Á thực sự chứng kiến sự đổ bộ của những nhà bán lẻ toàn cầu vào những năm 1980 khi tập đoàn bán lẻ lớn nhất của Pháp là Carrefour bắt đầu hiện
diện ở Đài Loan. Đặc biệt từ khi chính phủ Trung Quốc bắt đầu nới lỏng những quy định hạn chế đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực thương mại bán lẻ, thị trường
Châu Á liên tục đánh dấu sự có mặt của những đại gia bán lẻ hàng đầu thế giới. Tính đến thời điểm hiện tại, cả năm tập đồn bán lẻ hàng đầu thế giới xét về quy
mô doanh số là: Wal-mart Hoa Kỳ, Carrefour Pháp, Tesco Anh, Metro và Schwarz Đức đều đã hoạt động ở Châu Á.
Vào những năm 90 của thế kỷ 20 và những năm đầu của thế kỷ 21, các nước Đông Á bao gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore luôn là
những đích ngắm hấp dẫn nhất đối với các nhà bán lẻ thế giới. Sau sự xuất hiện
15
của Carrefour, Trung Quốc tiếp tục là điểm đến của Wal-mart và trở thành thị trường chính của tập đồn bán lẻ này ở châu Á.
Sang đến những năm đầu của thế kỷ 21, xu hướng đầu tư vào Trung Quốc vẫn tiếp tục duy trì và phát triển. Bên cạnh đó, các nhà bán lẻ toàn cầu đã bắt đầu
chuyển hướng sang một số thị trường mới nổi khác: các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất, Ấn Độ và các nước Đông Nam Á ASEAN. Các tiểu vương quốc Ả
Rập thống nhất với thu nhập quốc dân tính trên đầu người được xếp vào loại cao trên thế giới và các chính sách thương mại ngày càng được điều chỉnh theo hướng
mở cửa đã thu hút một số lượng không nhỏ các nhà bán lẻ phương Tây, đặc biệt là về lĩnh vực bán lẻ các mặt hàng tiêu dùng xa xỉ. Các tập đoàn bán lẻ từ châu Âu và
Bắc Mỹ cũng ngày càng chú trọng hơn đến thị trường Đông Nam Á đầy tiềm năng. Khu vực này được coi là một trong những khu vực năng động nhất trong
châu lục và nhanh chóng phục hồi sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008. Tập đoàn bán lẻ lớn nhất thế giới là Wal-mart hiện đã lên kế hoạch xâm nhập thị
trường này trong khoảng thời gian 5 năm tới.
2.2 Lợi thế của các tập đoàn lớn từ Âu, Mỹ

2.2.1 Tài chính


Các tập đồn bán lẻ lớn nhất của thế giới hiện diện trên thị trường châu Á đều có lợi thế vượt trội về vốn. Chỉ tính riêng 4 đại gia đứng đầu danh sách 250
nhà bán lẻ toàn cầu là Wal-mart, Carrefour, Metro và Tesco đã có tổng doanh thu vào khoảng gần 730 tỷ đô la trong năm 2008 với lợi nhuận thuần khoảng 20,6 tỷ
đơ. Chỉ riêng Wal-mart đã có doanh thu bán lẻ năm 2008 là hơn 407 tỷ đô la. Trong khi đó, tập đồn bán lẻ AS Watson của Hồng Kơng là tập đồn bán lẻ đứng
đầu châu Á xét về quy mô doanh số thu được từ hoạt động bán lẻ cũng chỉ đạt 15 tỷ đô la Deloitte 2010, tr.13. Bên cạnh lợi thế vượt trội về mặt tài chính, các tập
đồn bán lẻ tồn cầu này còn sở hữu hàng chục năm kinh nghiệm hoạt động trên thị trường quốc tế. Đây là điểm mà phần lớn nhà bán lẻ châu Á chưa có được.
16 16
Tài chính và kinh nghiệm là những lợi thế cạnh tranh ban đầu mà những đại gia bán lẻ trên thế giới sở hữu khi thâm nhập vào thị trường châu Á. Nguồn vốn
khổng lồ là điều kiện ban đầu giúp các tập đoàn bán lẻ này xây dựng các chiến lược thơn tính các thị trường châu Á. Tiềm lực tài chính hùng hậu cho phép những
tập đồn này có thể xác định thua lỗ từ 5 đến 7 năm, thậm chí là 10 năm khi bắt đầu hoạt động ở một thị trường mới. Bên cạnh đó, nguồn vốn khổng lồ giúp các
tập đồn này có thể đầu tư lớn vào các hoạt động marketing xúc tiến bán hàng, đầu tư cho nguồn nhân lực chất lượng cao do có khả năng chi trả những mức lương hết
sức cạnh tranh và xây dựng các chương trình chăm sóc khách hàng thực sự hấp dẫn. Nguồn lực tài chính còn cho phép các tập đoàn bán lẻ này ứng dụng những
công nghệ quản lý hàng đầu, tăng hiệu quả hoạt động. Cơng nghệ hiện đại chính là lợi thế vượt trội thứ hai giúp các tập đồn này thành cơng trên thị trường châu Á.
2.2.2 Công nghệ Công nghệ, cùng với kinh nghiệm quản lý tiên tiến chính là bí quyết dẫn
đến thành công của các nhà bán lẻ đến từ châu Âu và Bắc Mỹ khi mở rộng địa bàn hoạt động sang các quốc gia châu Á. Hầu hết các nhà bán lẻ, đặc biệt trong lĩnh
vực kinh doanh thời trang, đều tiến hành việc thu thập thông tin trực tiếp ngay từ điểm bán hàng. Thông tin này ngay sau đó sẽ được nhà bán lẻ tổng hợp và xử lý và
trao đổi với chính với những nhà cung cấp sản phẩm. Các kế hoạch sản xuất cũng như xử lý hàng tồn kho nhanh chóng được xây dựng. CPRF - một hệ thống tân tiến
được nhiều nhà bán lẻ phương Tây lựa chọn, trong đó có công ty thời trang Zara đến từ Tây Ban Nha cho phép nhà bán lẻ hợp tác với nhà cung ứng đưa ra những
dự báo và thử nghiệm tính khả thi trước khi áp dụng. Một công nghệ hiện đại khác được nhiều tập đoàn hàng đầu như Wal-mart
Mỹ hay Metro Đức sử dụng là RFID. Đây là một hệ thống nhận dạng tự động từ xa được tập đoàn bán lẻ lớn nhất thế giới này áp dụng từ năm 2006. Mọi kiện
17
hàng phân phối đến các trung tâm bán lẻ của Wal-mart trên khắp thế giới đều được gắn một con chip máy tính siêu nhỏ. Con chip này cho phép truyền tải mọi thông
tin về lô hàng và từng sản phẩm trong lô hàng đến với các máy tính chủ. Việc gắn chip này khơng tốn nhiều chi phí, tiết kiệm sức lao động và đặc biệt có thể chống
trộm cướp, phát hiện hàng bị hư hỏng hay những thiếu sót trong q trình vận chuyển.
Trong cơng tác quản lý khách hàng, rất nhiều nhà bán lẻ phương Tây đã áp dụng hệ thống CRM. Hệ thống hiện đại hỗ trợ hiệu quả cho các doanh nghiệp
trong việc đưa ra các chiến lược, chương trình hướng tới đội ngũ khách hàng thân thiết, một nguồn mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp trong bất cứ hoàn cảnh nào.
Ưu điểm của hệ thống này là nó thích hợp với mọi loại hình kinh doanh, từ các hàng bán đồ ăn nhanh bình dân tới các trung tâm thương mại xa xỉ.
Ngoài ra, các tập đoàn bán lẻ toàn cầu liên tục lắp đặt các thiết bị ngay trong các khu bán hàng của mình để hỗ trợ khách hàng và nhân viên. Ở một số địa
điểm bán hàng tại châu Á, Metro đã lắp đặt những máy scan tinh vi cho phép khách hàng thanh tốn khơng cần sự có mặt của nhân viên thu ngân và tiết kiệm
thời gian chờ đợi trong những thời điểm quá đông khách đến mua sắm. Sắp tới, tập đoàn bán lẻ lớn nhất của Đức này đang lên kế hoạch sẽ thử nghiệm hỗ trợ
khách hàng trong khi mua sắm bằng cách cung cấp cho họ một máy tính nhỏ giúp họ nhanh chóng tìm được mặt hàng cần mua và nơi đặt món hàng đó.
2.3 Sự hiện diện của một số tập đoàn bán lẻ Âu Mỹ lớn nhất tại châu Á
3.1.
Carrefour Người khổng lồ đến từ Pháp Carrefour là tập đoàn bán lẻ phương Tây đầu
tiên thâm nhập thị trường châu Á. Vào năm 1989, tập đoàn này đã bắt tay với một công ty cổ phần của Đài Loan là Uni President Enterprises Corporation. Sau khi
gặt hái được những kinh nghiệm từ các hoạt động kinh doanh ở thị trường Đài Loan, Carrefour nhanh chóng mở rộng phạm vi sang các quốc gia châu Á khác,
18 18
bao gồm các quốc gia tiểu vương quốc Ả Rập và một số nước Nam Á như Pakistan Wikipedia 2010.
Năm 2007 đánh dấu một cột mốc trong lịch sử phát triển của đại gia bán lẻ lớn thứ hai thế giới này ở châu Á khi tập đoàn cho ra đời 36 đại siêu thị ở châu lục
này. Tính riêng ở Trung Quốc con số đại siêu thị được xây dựng trong năm 2007 đã là 22. Đây là số lượng lớn chưa từng thấy trong một năm Wikipedia 2010.
Nhân tố dẫn đến thành công của nhà bán lẻ này khi mở rộng hoạt động sang các nước khác nói chung và châu Á nói riêng chính là ở cách quản lý linh hoạt và
đặc biệt là việc phân cấp quản lý theo đó cho phép người lãnh đạo trên mỗi thị trường được toàn quyền ra những quyết định liên quan tới việc điều chỉnh kế
hoạch kinh doanh sao cho phù hợp với tập quán và truyền thống của từng thị trường cụ thể. Vì vậy, thành cơng của Carrefour trên thị trường châu Á theo như
quản lý tập đoàn này tổng kết là do họ đã thích nghi được với tình hình đặc trưng của châu lục. Carrefour theo đuổi chiến lược kinh doanh với các mơ hình bán lẻ vô
cùng phong phú, từ các đại siêu thị đến các cửa hàng tiện ích. Bằng cách đa dạng hóa hệ thống cửa hàng bán lẻ của mình, Carrefour đã tận dụng được tính kinh tế
của chi phí bằng việc chia xẻ chi phí cho các hoạt động hậu cần, marketing, nghiên cứu,… giữa các mơ hình kinh doanh khác nhau.
3.2.
Wal-mart Tập đồn bán lẻ có trụ sở đặt tại bang Arkansas Hoa Kỳ này là nhà bán lẻ
lớn nhất thế giới với doanh thu hàng năm lên tới 400 tỷ đô la Mỹ. Số lượng lao động làm việc cho Wal-mart gần 2 triệu người tính đến hết năm 2008, trong đó
có đến 500.000 lao động ở các thị trường ngồi nước Mỹ. Thơng qua hơn 2500 cửa hàng của mình ở nước ngồi, Wal-mart phục vụ cho khoảng hơn 140 triệu
khách hàng mỗi tuần Wal-mart Corporate 2010. Trên thị trường châu Á, người khổng lồ này tập trung chính vào hai thị
trường là Nhật Bản và Trung Quốc. Wal-mart bắt đầu kinh doanh trên thị trường quốc gia đông dân nhất thế giới vào năm 1996. Liên tục sau đó, tập đồn này mở
19
thêm các cửa hàng bán lẻ của mình ở Hàn Quốc 1997 và Nhật Bản 2002. Và chỉ sau 10 năm, nhà bán lẻ này đã có hơn 50 trung tâm bán lẻ supercenter chỉ
tính trên thị trường Trung Quốc. Cùng trong năm 2006, Wal-mart đã thành cơng trong việc mua lại tập đồn bán lẻ lớn nhất ở Trung Quốc vào thời điểm đó là
Trust-Mart và trở thành nhà bán lẻ số một trên thị trường này. Các trung tâm bán lẻ của Wal-mart ở Trung Quốc trưng bày và bán hơn 20.000 chủng loại sản phẩm,
bao gồm cả đồ điện tử, thiết bị gia dụng bên cạnh các loại lương thực, thực phẩm khác Wal-mart Corporate 2010. Thành công của nhà bán lẻ trên thị trường có sức
mua lớn nhất tồn cầu này là đã biết kết hợp những ưu điểm của mơ hình kinh doanh siêu thị và các khu trung tâm mua sắm. Loại hình trung tâm bán lẻ của Wal-
mart ở Trung Quốc tạo cho khách hàng sự thuận lợi trong việc mua sắm hàng hóa tiêu dùng hàng ngày cũng như những thiết bị lâu bền sử dụng trong gia đình chỉ
với việc đi đến một địa điểm trong cùng một khoảng thời gian. Các trung tâm bán lẻ này còn giúp Wal-mart tiết kiệm được chi phí nhân cơng một cách đáng kể.
Thay vì phải thuê số lượng lao động tương ứng với một siêu thị và một trung tâm mua sắm, bằng việc thiết lập các trung tâm bán lẻ, số lượng nhân viên chỉ cần một
phần hai trong khi doanh số vẫn được duy trì ngang với việc mở cả hai loại hình kể trên.
Một trong những bí quyết thành cơng của Wal-mart khi mở rộng hoạt động ra tồn cầu chính là việc áp dụng cơng nghệ cao, đặt biệt là RFID như đã phân tích
ở trên. Nhà bán lẻ này đã chọn chính châu Á để thử nghiệm cho tính khả dụng của cơng nghệ này và ngay lập tức đã gặt hái được kết quả tốt đẹp. Bên cạnh đó, thành
cơng của Wal-mart ở châu Á đạt được còn là nhờ vào chiến lược xây dựng niềm tin từ các nhà sản xuất bằng việc thu hút họ vào các sáng kiến hoạt động quy mô
lớn. Nhà bán lẻ này bỏ rất nhiều công sức lựa chọn một chuỗi những nhà sản xuất và giữ quan hệ lâu bền và tốt đẹp với họ. Do đó, tập đồn này ln đảm bảo nguồn
hàng hóa giá rẻ nhất trên thị trường. Ở thị trường châu Á nơi đa số người dân còn quan tâm nhiều hơn đến giá cả hàng hóa, lợi thế về giá của Wal-mart gần như
khơng tập đồn nào có thể cạnh tranh được.
20 20
3.3.
Tesco Tesco là tập đoàn bán lẻ nằm trong top 5 nhà bán lẻ lớn nhất thế giới năm
2009 dựa trên doanh số bán lẻ đồng thời là nhà bán lẻ lớn nhất ở Anh Quốc. Tesco bắt đầu xâm nhập thị trường châu Á vào cuối những năm 1980, hiện
nay tập đoàn này đã trở thành một trong những nhà bán lẻ phương Tây lớn nhất trên thị trường châu lục này, là đối thủ cạnh tranh chính của Carrefour và Walmart.
Sự phát triển của Tesco ở châu Á có thể thấy qua một số biểu đồ sau:
Biểu đồ II.2: Số lượng các cơ sở bán lẻ và doanh thu của Tesco trên thị trường châu Á 2000-2008
Nguồn: Tesco 2008, tr.17-21 Có thể thấy qua hai biểu đồ trên, quy mô hoạt động kinh doanh của Tesco ở
châu Á không ngừng tăng lên. Tesco hiện đã giành được lợi thế cạnh tranh trên hai thị trường lớn nhất ở châu Á là Trung Quốc và Ấn Độ. Để có được thành cơng trên
thị trường châu Á, Tesco đã theo đuổi chiến lược kinh doanh linh hoạt. Tập đồn này khơng chỉ tập trung vào hình thức đại siêu thị như ở khu vực Tây Âu mà còn
đa dạng hóa các mơ hình kinh doanh khác, đặc biệt là các siêu thị, siêu thị nhỏ, cửa hàng tiện ích. Các hệ thống trung tâm bán lẻ của Tesco như Home plus hay
Homever đã trở nên phổ biến cả ở các thành phố, trung tâm mua sắm mới và về cả vùng nông thôn.
Đặc biệt, sự thành công của Tesco nằm ở chiến lược kinh doanh lấy khách hàng bản địa là trung tâm, đặc biệt chú ý việc đáp ứng những nhu cầu mới xuất
hiện của người dân châu Á. Điều khác biệt mà tập đoàn này đang cố gắng tạo dựng cho mình là trở thành nhà bán lẻ đầu tiên phát hiện và tìm cách thỏa mãn thị
hiếu khách hàng. Bên cạnh đó, nhà bán lẻ này cũng ngày một chú trọng hơn vào các hoạt động vì lợi ích cộng đồng, gây dựng được hình ảnh một cơng ty nước
ngồi kinh doanh có trách nhiệm trên mỗi thị trường mà Tesco có mặt. 3. Một số công ty bán lẻ gốc Châu Á không ngừng mở rộng phạm vi kinh doanh
vượt khỏi biên giới quốc gia, khu vực
21
Trong bảng xếp hạng những nhà bán lẻ lớn nhất thế giới hàng năm đều xuất hiện những tên tuổi của các nhà bán lẻ châu Á. Những nhà bán lẻ châu Á này
không những thành công trong việc giữ vững thị phần trên thị trường nội địa trước sự xâm nhập ngày càng mạnh mẽ của các tập đồn Âu Mỹ mà còn ngày càng mở
rộng sang các thị trường trong cùng khu vực, thậm chí sang cả những thị trường vốn là sân nhà của các tập đoàn hàng đầu thế giới. Một số tên tuổi tiêu biểu có thể
kể đến tập đồn Lotte, Shinsegae của Hàn Quốc; Dailian, Bailian, Gome Home Aplliance của Trung Quốc;… Trong khn khổ có hạn của một bài khóa luận, tơi
xin được đưa ra phân tích hai tập đồn bán lẻ của châu Á hiện đang rất thành công và liên tục có mặt trên những bảng xếp hạng những nhà bán lẻ lớn nhất thế giới:
AS Watson và Dairy Farm. 3.1 AS Watson
Chuỗi cửa hàng bán lẻ hàng mỹ phẩm và các sản phẩm chăm sóc sức khỏe Watson là một nhãn hiệu bán lẻ hàng đầu ở châu Á. Tiền thân của chuỗi cửa hàng
này là một cửa hiệu chuyên cung cấp thuốc cho người nghèo ở tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc từ năm 1828. Sau khi trải qua một số thay đổi về mơ hình hoạt động
và chủ doanh nghiệp, năm 1871, một loạt hiệu thuốc mang tên Watson ra đời. Hiện nay, chủ sỡ hữu của hệ thống các cửa hàng bán lẻ Watson là tập đồn Hutchinson
có trụ sở chính ở Hồng Kơng. Từ năm 2005 đến nay, tập đoàn này đã từng giữ vị trí số 1 trong lĩnh vực
bán lẻ thuốc, mỹ phẩm và các sản phẩm bảo vệ sức khỏe. Theo nghiên cứu của tập đoàn, mỗi tuần nhà bán lẻ này phục vụ hơn 25 triệu khách hàng trên khắp thế giới.
Hiện tập đoàn này đã hoạt động ở 34 quốc gia với hơn 87.000 lao động. 10 thị trường châu Á của tập đoàn này bao gồm: Trung Quốc, Ấn Độ, Hồng Kông, Đài
Loan, Macau, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philipin và Hàn Quốc. Chỉ tính riêng ở Hồng Kơng, tính đến hết năm 2009, Watson đã mở cửa 150 cửa hàng và thuê
đến 2000 nhân viên. Kế hoạch trong 2 năm tới 2010 và 2011, Watson dự định nâng số lượng cửa hàng của mình ở Trung Quốc lên 1000 và số lượng cửa hàng
bán lẻ toàn cầu lên 10000 AS Watson Group 2009.
22 22
Phương châm kinh doanh của Watson là mang đến cho khách hàng trên khắp thế giới những dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, những kinh nghiệm mua sắm
thú vị và cam kết đem đến cho khách hàng của mình giá trị lớn nhất mỗi ngày. Các sản phẩm bày bán trong chuỗi các cửa hàng Watson có mức độ cá biệt hóa cao với
chất lượng được chuẩn hóa và đảm bảo tối đa. Ngồi mặt hàng chính là thuốc và các sản phẩm chăm sóc sức khỏe, nhà bán lẻ khổng lồ Watson còn mở rộng kinh
doanh bằng việc mở một số siêu thị chuyên bán buôn và phân phối đồ uống: nước ngọt, rượu, bia và một số sản phẩm trà. Các cửa hàng trưng bày của Watson cũng
ln được chú trọng về tính thẩm mỹ, và góp phần quan trọng trong việc thu hút khách hàng.
3.2 Dairy Farm Dairy Farm là một công ty đa quốc gia, thành viên của tập đoàn Jardine
Matheson. Nhà bán lẻ này được xếp thứ 128 trên bảng xếp hạng 250 nhà bán lẻ toàn cầu. Lịch sử của Dairy Farm bắt đầu từ thế kỷ 19 tại Hồng Kơng. Khi mới ra
đời, lĩnh vực kinh doanh chính của Dairy Farm là các sản phẩm liên quan tới sữa. Cùng với thời gian, Dairy Farm đã mở rộng và trở thành một trong những tập đồn
bán lẻ uy tín và năng động nhất châu Á. Doanh thu bán lẻ 2008 của Dairy Farm đạt 6,7 tỷ đô la Mỹ và lợi nhuận gần 350 triệu đô Deloitte 2010, tr.16.
Thành cơng của Dairy Farm đạt được là vì tập đồn này đã biết cách đa dạng hóa các mơ hinh kinh doanh, bao gồm: siêu thị, đại siêu thị, cửa hàng chuyên
doanh các sản phẩm chăm sóc sức khỏe, cửa hàng tiện ích, nội thất và gần đây là cả các tiệm ăn cao cấp. Các thương hiệu quen thuộc trên các thị trường châu Á
như siêu thị Wellcome, ThreeSixty, Shop N Save, Hero; đại siêu thị Giant; chuỗi cửa hàng chăm sóc sắc đẹp Mannings, Guardian; hàng loạt cửa hàng tiện ích 7-
Eleven theo hợp đồng nhượng quyền của tập đồn 7-Elenven, Hoa Kỳ ở Hồng Kơng, Trung Quốc, Singapo hay nhãn hiệu Starmart; Cửa hàng nội thất IKEA;…
đều thuộc quyền sở hữu của Dairy Farm. Tập đoàn này còn nắm giữ 50 cổ phần của chuỗi hàng ăn uống cao cấp nhất Hồng Kông là Maxim’s.
23
Một chiến lược khá quan trọng trong việc xây dựng thương hiệu Dairy Farm trên thị trường châu Á là tập đoàn này rất quan tâm đến việc củng cố tên tuổi
của mình thơng qua các hoạt động vì cộng đồng. Hoạt động gần đây nhất của Dairy Farm đã hòa theo trào lưu “xanh” trên khắp thế giới. Đó là việc họ vận động
các chuỗi cửa hàng của mình cũng như khách hàng đến mua sắm không sử dụng túi nilon mà thay vào đó là các túi vải thân thiện với mơi trường. Tập đồn này
cũng thực hiện những kế hoạch thu nhỏ kích cỡ hóa đơn và nhãn giá hàng hóa nhằm tiết kiệm giấy cho Trái Đất. Bên cạnh đó, Dairy Farm cũng là một trong
những nhà bán lẻ châu Á hoạt động từ thiện mạnh mẽ nhất, như tham gia ủng hộ thường niên quỹ bệnh nhân bệnh tim, trẻ em nghèo, các quỹ vì sự phát triển của
thanh thiếu niên hay chung tay trong cuộc tái thiết tỉnh Tứ Xuyên sau vụ động đất lịch sử giữa năm 2009. Nhờ vào những hoạt động này, Dairy Farm đã gây dựng
được một hình ảnh hết sức thân thiện trong đời sống hàng ngày của người dân châu Á.
II. TIỀM NĂNG VÀ NHỮNG KHUYNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN TRONG TƯƠNG LAI
1. Tiềm năng 1.1 Thị trường bán lẻ châu Á vẫn đang ở giai đoạn trưởng thành trong khi các thị
trường ở Âu Mỹ đã rơi vào giai đoạn bão hòa Thị trường bán lẻ châu Á trong những năm gần đây luôn được đánh giá là
thị trường hấp dẫn nhất trên thế giới. Các nền kinh tế được gọi là những con rồng và những con hổ châu Á chứng kiến những bước tăng trưởng ấn tượng, đa số đều
ở mức trên 5năm và được dự đoán sẽ tiếp tục phát triển mạnh trong thời gian tới. Trong khi đó, thị trường bán lẻ Tây Âu và Bắc Mỹ hầu hết đều trải qua giai
đoạn tăng trưởng từ những năm cuối thế kỷ 20 và hiện nay một số thị trường lớn đã trở nên bão hòa.
Hậu quả từ cơn bão khủng hoảng tài chính 2008 đã đem lại cục diện mới cho nền kinh tế thế giới. Các nền kinh tế lớn nhất thế giới như Mỹ, Anh, Đức đều
24 24
cơng bố rơi vào suy thối. Doanh thu bán lẻ trên các thị trường phát triển nhất toàn cầu đều sụt giảm trầm trọng. Trong khi đó, thị trường bán lẻ châu Á vẫn tiếp tục
ghi nhận tăng trưởng mạnh, đặc biệt là doanh thu từ phân đoạn các mặt hàng tiêu dùng nhanh FMCG. Khối lượng sản phẩm bán ra ở hầu hết các quốc gia đều tăng
vào năm 2008, cá biệt ở một số quốc gia, tỷ lệ tăng trưởng còn đạt mức hai con số. Biểu đồ sau cho thấy tình hình tăng trưởng về khối lượng FMCG ở một số quốc
gia châu Á Nielsen 2009.
Biểu đồ II.3: Tỷ lệ tăng trưởng FMCG tính đến tháng 3 năm 2009
Nguồn: Nielsen 2009 Theo bảng xếp hạng “chỉ số phát triển bán lẻ toàn cầu” - GRDI của A.T
Kearney về những thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất thế giới, các quốc gia châu Á luôn giành được những thứ hạng cao trong tổng số 30 quốc gia được xếp hạng.
Những vị trí số 1 trong những năm gần đây đều thuộc về các nước châu Á cụ thể năm 2008, Việt Nam là thị trường hấp dẫn nhất; năm 2009: vị trí này thuộc về Ấn
Độ. Chúng ta có thể xem danh sách những quốc gia châu Á được lọt vào bảng xếp hạng này năm 2008 và 2009:
25
QUỐC GIA THỨ TỰ
TRÊN BẢNG XẾP HẠNG
2009 SỐ ĐIỂM
GRDI 2009 THỨ TỰ
XẾP HẠNG NĂM 2008
THAY ĐỔI VỀ
THỨ TỰ
Ấn Độ 01
68 02
+1 Trung Quốc
03 56
04 +1
Các tiểu vương quốc Ả Rập 04
56 20
+16 Ả Rập Xê Út
05 56
07 +2
Việt Nam 06
55 01
-5 Malaysia
10 51
13 +3
Indonesia 22
46 15
-7 Philipin
25 41
26 +1
Thái Lan 26
40 24
-2
Bảng II.2: Các quốc gia châu Á được xếp hạng 30 thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất thế giới
Nguồn: A.T Kearney2009, tr.5

1.2 Châu lục đông dân nhất thế giới, dân số trẻ và sức mua tăng


Mặc dù diện tích châu Á chỉ chiếm chưa đến 30 diện tích lục địa song số dân châu Á hiện nay chiếm đến 60 dân số toàn cầu và hàng năm vẫn là châu lục
có tỷ lệ tăng dân số cao nhất thế giới. Bên cạnh Trung Quốc, khu vực Đơng Nam Á là khu vực có tỷ lệ tăng dân
số ở vào mức cao nhất trong châu lục và trên thế giới. Trong 5 năm vừa qua 2004- 2009 tỷ lệ này ở vào khoảng 1.2năm và được dự báo chỉ tăng trưởng chậm lại
trong vòng 15 đến 20 năm nữa vào khoảng 0.7năm trong khoảng 2025-2050. Khu vực Trung Đông các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất và Ả Rập Xê
Út tuy có quy mơ dân số tương đối nhỏ hơn nếu so với khu vực Đơng Nam Á song có đến 80 dân số là dân thành thị, tỷ lệ dân số trẻ dưới 25 tuổi cũng ở mức
khá cao, chiếm tới 60 dân số A.T Kearney 2009, tr.11.
26 26
Đây cũng là khu vực có dân số trẻ với nhu cầu tiêu dùng tăng mạnh trong những năm vừa qua. Lượng cầu nội địa ở châu Á đã giúp nền kinh tế châu lục này
chống chọi với khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 và đảm bảo cho tăng trưởng kinh tế ở khu vực vẫn duy trì ở mức cao. Hầu hết các nền kinh tế châu Á
vẫn đang trong giai đoạn chuyển đổi và một tỷ lệ lớn các quốc gia này đang dần điều chỉnh chính sách phát triển kinh tế tập trung vào khai thác, đẩy mạnh nhu cầu
tiêu dùng nội địa của người dân. Xã hội châu Á hiện đang xuất hiện một bộ phận không nhỏ người dân có nhu cầu và khả năng chi trả cho việc mua sắm, tiêu dùng
các mặt hàng xa xỉ, những nhãn hiệu thời trang toàn cầu ngay cả trong thời kỳ khủng hoảng. Vì vậy, mảng thị trường hàng xa xỉ trong thời gian tới được hứa hẹn
sẽ chứng kiến sự bùng nổ mạnh mẽ, là vùng đất đầy tiềm năng cho các nhãn hiệu thời trang, hàng tiêu dùng hàng đầu thế giới.
1.3 Chính phủ các quốc gia châu Á dần điều chỉnh các chính sách thương mại theo hướng mở cửa hoàn toàn thị trường bán lẻ
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ nổ ra từ Thái Lan năm 1997 và ảnh hưởng hầu hết đến các quốc gia châu Á khác đã khiến Chính phủ các quốc gia này
từng nghĩ đến việc đóng cửa các thị trường của mình nhằm hạn chế sự tiếp xúc với tồn cầu hóa. Tuy nhiên, quan niệm này đã nhanh chóng được loại bỏ khi họ dần
nhận thức được rằng khủng hoảng gây tác động xấu đến nền kinh tế do cơ cấu nền kinh tế của đất nước chưa hợp lý và hiệu quả. Đồng thời, những lợi ích to lớn mà
tồn cầu hóa đem lại là khơng thể phủ nhận. Vì vậy, sau khi khủng hoảng tài chính, các quốc gia châu Á lại theo đuổi các chính sách hội nhập sâu rộng và mở
cửa hầu hết các thị trường của mình, đặc biệt là thị trường bán lẻ. Trong khu vực châu Á, khu vực Đông Á là khu vực phát triển và năng động
nhất, bao gồm 10 quốc gia ASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Đài Loan. Cụ thể ở một số thị trường như sau: Indonesia nâng mức vốn đầu tư nước
ngoài vào khu vực bán lẻ từ 49 lên 100. Ở Hàn Quốc, tỷ lệ vốn tối thiểu các nhà bán lẻ nước ngoài có thể đầu tư từ 15-20 hiện đã tăng lên 100. Bên cạnh
đó, nước này còn sửa đổi Bộ Luật Đầu tư trực tiếp nước ngồi xóa bỏ mọi hạn chế
27
về việc sở hữu nước ngoài trong lĩnh vực đất đai, bất động sản. Malaysia hiện đã mở cửa hoàn tồn thị trường bán lẻ của mình World Bank 2000, tr.146-149.
Trung Quốc sau 3 năm gia nhập WTO, từ thời điểm tháng 12 năm 2004 đã thực hiện đầy đủ cam kết mở cửa thị trường bán lẻ, cho phép các cơng ty bán lẻ nước
ngồi được vào thị trường nội địa. Bên cạnh đó, nước này cũng đang dần nới lỏng những quy định yêu cầu những nhà bán lẻ nước ngoài khi vào nước này mở các
cửa hàng bán lẻ phải xin phép từ chính phủ Trung Ương Business in Asia 2005. Ở khu vực Nam Á, Ấn Độ trở thành thị trường hấp dẫn nhất. Thị trường Ấn
Độ được xếp hạng nhất trong các thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất thế giới năm 2009 A.T Kearney 2009, tr.5. Nước này đã cho phép nhà đầu tư được mở các cơ sở bán
sỉ “cash and carry” 100 vốn trực tiếp. 2. Khuynh hướng phát triển trên thị trường bán lẻ châu Á trong tương lai
2.1 Thương mại điện tử sẽ ngày càng phát triển mạnh mẽ Cơ quan thống kê số liệu liên quan đến Internet thế giới Internet world
stats cho biết số lượng người sử dụng Internet hàng ngày ở châu Á tính đến thời điểm cuối quý hai năm 2009 chiếm đến gần 43 tổng số người dùng Internet trên
toàn thế giới. Theo đó, châu Á có hơn 738,2 triệu người sử dụng Internet. Tính từ năm 2002 đến 2009, số lượng này đã tăng 545,9, tỷ lệ tăng nhanh nhất toàn thế
giới Internet World Stats 2009. Đặc biệt, số lượng người dùng Internet không chỉ tập trung ở thành thị, các thành phố lớn mà ngày càng mở rộng sang các vùng
nông thôn. Dự báo Internet ngày càng trở nên phổ biến trong xã hội châu Á. Trước cơ hội đầy hứa hẹn về một kênh bán lẻ hiện đại và mang đến những
ưu thế vượt trội như vậy, các nhà bán lẻ châu Á vẫn chưa khai thác triệt để. Thương mại điện tử hiện mới chỉ chiếm giữ một phần khá khiêm tốn trong hoạt
động của các doanh nghiệp bán lẻ đến từ châu Á. Theo báo cáo về bán lẻ tồn cầu năm 2009 mà Deloitte đưa ra thì doanh thu bán lẻ từ thương mại điện tử mới chỉ
chiếm khoảng 0.6 tổng doanh thu của bán lẻ của khu vực châu Á Deloitte 2010, tr.31. Vì vậy, chắc chắn trong thời gian tới, các doanh nghiệp bán lẻ trên thị
trường sẽ đầu tư nhiều hơn vào việc triển khai kênh bán hàng đầy tiềm năng này vì
28 28
đây là phương thức kinh doanh đem lại cho doanh nghiệp bán lẻ châu Á rất nhiều lợi ích:
Thứ nhất, trong tình hình giá thuê mặt bằng ở các nền kinh tế sôi động nhất châu Á như Trung Quốc, Singapore, Đài Loan, Việt Nam, .v.v. liên tục tăng và
nguồn cung còn hạn chế, việc bán hàng qua mạng giúp các doanh nghiệp bán lẻ không phải chú ý nhiều đến việc th mặt bằng trưng bày hàng hóa. Chi phí thuê
cửa hàng có thể được tiết kiệm đáng kể. Thứ hai, thương mại điện tử giúp các nhà bán lẻ có thể tiếp cận được với
nguồn khách hàng lớn hơn nhiều. Địa bàn hoạt động hồn tồn có thể mở rộng, không chỉ giới hạn ở một khu vực nhất định như việc bán hàng trực tiếp thông qua
các cửa hàng, khu mua sắm. Những nhà bán lẻ lựa chọn thêm kênh bán hàng này thậm chí có thể vươn tới những thị trường ở ngồi quốc gia mình với chi phí thấp
nhất. Ngồi ra, thời gian hoạt động khi bán hàng qua mạng cũng sẽ linh hoạt hơn rất nhiều, cho phép doanh nghiệp hoạt động đến 24 giờ mỗi ngày.
Thứ ba, thương mại điện tử giúp các doanh nghiệp bán lẻ nhỏ có thế cân bằng hơn với các doanh nghiệp lớn do quy mô các doanh nghiệp không phải là
nhân tố quyết định nhất đối với sự thành công của các doanh nghiệp bán lẻ thương mại điện tử. Thương mại điện tử sẽ là một trong những lựa chọn hàng đầu của các
doanh nghiệp bán lẻ mới nổi ở châu Á trong quá trình cạnh tranh với các đại gia bán lẻ phương Tây như Carrefour hay Wal-mart.
Một lợi ích rõ ràng mà hoạt động bán lẻ qua mạng có thể đem lại chính là nó giúp doanh nghiệp dễ dàng tiến hành các hoạt động nghiên cứu hành vi tiêu
dùng của khách hàng, tìm hiểu thị trường và các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong khi đó, người tiêu dùng cũng thu được rất nhiều lợi ích khi mua hàng qua các cửa hàng điện tử này. Người dân châu Á hiện nay, đặc biệt là người dân ở
các quốc gia công nghiệp mới phát triển hay đang phát triển đang có xu hướng tiết
29
kiệm tối đa thời gian mua sắm và lựa chọn hàng hóa của mình. Thương mại điện tử cung cấp cho họ những lựa chọn tối ưu nhất trong thời gian ngắn nhất.
2.2 Nhượng quyền thương mại trên thị trường bán lẻ sẽ ngày càng phổ biến
2.2.1 Khái niệm về nhượng quyền thương mại Nhượng quyền thương mại thuật ngữ Tiếng Anh: franchising có lịch
sử từ nước Mỹ. Đây là một ý tưởng kinh doanh được thực hiện giữa hai bên: phía chuyển giao quyền và phía mua quyền. Phía chuyển giao quyền có thể
là một tổ chức: cơng ty sản xuất hàng hóa hay dịch vụ. Phía mua quyền thường là những cá nhân hay cũng có thể gặp một số tổ chức kinh doanh
độc lập. Hợp đồng nhượng quyền được thiết lập trên cơ sở người mua quyền phải trả hai loại phí cho bên chuyển giao: tiền bản quyền thương hiệu và phí
để được thực hiện các hoạt động kinh doanh với tên và công nghệ của phía chuyển giao thường được tính trên doanh số hàng tháng hoặc hàng năm.
Đồng thời, bên mua cũng phải cam kết với bên nhượng quyền phải tổ chức kinh doanh theo đúng tiêu chuẩn và quy trình được quy định bởi phía
chuyển giao.

2.2.2 Hoạt động nhượng quyền trên thị trường bán lẻ châu Á


Hoạt động nhượng quyền diễn ra khá mạnh mẽ trên thị trường bán lẻ châu Á trong thời gian qua, đặc biệt là việc nhượng quyền các cửa hàng tiện ích
convenience store. 7-Eleven, chuỗi cửa hàng tiện ích bán lẻ lớn nhất thế giới có trụ sở chính đặt ở Dallas, Hoa Kỳ là thương hiệu có hoạt động chuyển nhượng
thành cơng nhất ở châu Á tính đến thời điểm này. 7-Eleven đã chuyển nhượng thành công gần 30,000 cửa hàng tiện ích ở 14 quốc gia, bao gồm các thị trường
chủ yếu ở châu Á như Nhật Bản, Hồng Kông, Đài Loan, Malaysia và Thái Lan. 7- Eleven hiện nay đang tiến hành hai mơ hình nhượng quyền ở thị trường châu Á:
mơ hình nhượng quyền truyền thống dành cho các cá nhân hay công ty bắt đầu hoạt động và chương trình chuyển đổi mơ hình kinh doanh cho các cá nhân, tổ
30 30
chức kinh doanh hiện hữu 7-Eleven 2010. Dairy Farm, một trong những nhà bán lẻ châu Á thành công nhất cũng đang đẩy mạnh các hoạt động chuyển nhượng của
mình trên các thị trường mới nổi của châu Á. Đây là doanh nghiệp đầu tiên và duy nhất ở châu Á thực hiện hoạt động nhượng quyền các cửa hàng chuyên kinh doanh
sản phẩm liên quan đến sữa. Trong thời gian tới, hoạt động nhượng quyền sẽ tiếp tục phát triển trên thị
trường bán lẻ châu Á, đặc biệt là việc nhượng quyền các mơ hình bán lẻ qua các cửa hàng tiện ích do những đặc thù của thị trường này.
Thứ nhất, các tập đoàn bán lẻ nước ngoài khi muốn đặt chân vào châu Á nhưng chưa đủ khả năng để nghiên cứu hay chưa thực sự nắm rõ về thị trường này
có thể phát triển mạng lưới mà khơng phải trực tiếp điều hành hoạt động của các cửa hàng. Hoạt động nhượng quyền cho phép họ bắt tay với các doanh nghiệpcá
nhân ở châu Á. Phía mua quyền này thường có hiểu biết nhất định về thị trường nội địa, dễ dàng tìm kiếm các nguồn cung hàng ổn định, giá hợp lý. Do vậy, phía
mua quyền sẽ giúp quảng bá nhãn hiệu được chuyển nhượng. Thứ hai, đối với các nhà bán lẻ châu Á, tiến hành mua nhượng quyền tỏ ra
khá phù hợp với những doanh nghiệp vừa và nhỏ hay các cá nhân. Do đặc thù của hoạt động nhượng quyền là chi phí bỏ ra không lớn bằng việc gây dựng thương
hiệu và cửa hàng kinh doanh hoàn toàn mới, việc mua nhượng quyền sẽ trở nên hấp dẫn hơn. Bên cạnh đó, hoạt động theo các hợp đồng nhượng quyền từ các nhà
bán lẻ lớn, có tên tuổi, bên mua quyền được tiếp thu nhiều về kinh nghiệm quản lý, tổ chức chuỗi cửa hàng. Thông thường, bên được nhượng quyền sẽ được bên
chuyển giao quyền hỗ trợ trong quá trình xây dựng, thiết kế gian hàng hay lựa chọn danh mục hàng hóa, và kể cả việc đào tạo nhân viên. Điều này có ý nghĩa rất
quan trọng đối với những tổ chức mới hoạt động, thiếu kinh nghiệm kinh doanh. 2.3 Xu hướng MA ngày một gia tăng
2.3.1 Khái niệm MA trên thị trường bán lẻ
31
- Mua lại Acquisition: là việc một doanh nghiệp bán lẻ có tiềm lực tài chính mua lại hoặc thơn tính một doanh nghiệp khác. Trong trường hợp này khơng
có pháp nhân mới nào ra đời và thơng thường doanh nghiệp bị thơn tính sẽ khơng còn tồn tại trên cơ sở pháp lý.
- Sáp nhập Merger: là việc hai hai nhiều doanh nghiệp bán lẻ kết hợp với nhau. Trường hợp này một pháp nhân mới sẽ ra đời và đi vào hoạt động. Pháp
nhân mới này sẽ có giá trị lớn hơn từng doanh nghiệp hoạt động đơn lẻ. 2.3.2 Xu hướng MA trên thị trường bán lẻ châu Á
Xu hướng MA trên thị trường bán lẻ châu Á hiện nay diễn ra sơi nổi nhất tập trung vào loại hình doanh nghiệp sau:
- Doanh nghiệp sở hữu các trung tâm mua sắm hay cửa hàng hạ giá: một trong những vụ MA lớn nhất diễn ra trong thời điểm 2008-2009 là việc công ty
bất động sản Simplex của Nhật Bản mua lại chuỗi trung tâm mua sắm Mitsukoshi- Ikebukuro với giá 705 triệu đô la KPMG 2009, tr.6.
- Doanh nghiệp bán hàng qua mạng hay qua catalog: vụ MA lớn nhất trong mảng này diễn ra khi Ebay mua lại công ty chuyên kinh doanh qua mạng của
Hàn Quốc là GMarket Inc với giá 1,2 tỷ đô la Mỹ KPMG 2009, tr.6. Trong năm 2008-2009, số các vụ MA trên lĩnh vực bán lẻ châu Á đều
giảm về cả số lượng lẫn giá trị do ảnh hưởng từ suy giảm kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, theo đánh giá của nhiều tổ chức kiểm toán, tư vấn hàng đầu trong lĩnh vực
MA, từ sau quý 1 năm 2010, thị trường bán lẻ châu Á sẽ chứng kiến số lượng các vụ MA sẽ lại tăng trở lại. Công ty KPMG đã đưa ra những dự báo về tình
hình MA trên lĩnh vực bán lẻ tồn cầu, trong đó châu Á giữ vị trí là thị trường mục tiêu số 2 trên thế giới, được xếp trên cả thị trường châu Mỹ.
Biểu đồ II.4: Giá trị các hợp đồng MA theo khu vực 62008-62009
Nguồn: KPMG 2009, tr.6
32 32
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này nằm ở hai lý do chính sau: Thứ nhất, cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính 2008 đã khiến nhiều doanh
nghiệp châu Á gặp nhiều rắc rối về kinh tế và giá trị công ty liên tục sụt giảm. Điều này sẽ tạo điều kiện cho nhiều nhà bán lẻ đến từ các quốc gia phát triển hay
chính trong cùng châu lục có kết quả kinh doanh tốt và nguồn lực tài chính ít bị sụt giảm có cơ hội tiến hành hoạt động mua lại.
Thứ hai, trước tình hình thị trường ngày càng xuất hiện nhiều tập đồn bán lẻ khổng lồ đến từ phương Tây, các nhà bán lẻ châu Á sẽ có xu hướng liên kết lại
với nhau. Nhận thức được những lợi ích từ MA như tiết kiệm chi phí nhân viên, tiếp thu cơng nghệ mới, đạt hiệu quả của quy mô hay giành được thị phần, tăng thế
cạnh tranh, các doanh nghiệp bán lẻ có thể đẩy mạnh các hoạt động MA để đứng vững trong cuộc chơi ngày càng khốc liệt này.
2.4 Hệ thống bán lẻ hiện đại sẽ tiếp tục chiếm ưu thế Trong bối cảnh hầu hết các quốc gia châu Á đều bị ảnh hưởng từ cuộc
khủng hoảng tài chính tồn cầu, thị trường bán lẻ của mỗi quốc gia được dự đốn sẽ có những thay đổi đáng kể. Theo dự đoán, trong tương lai, hệ thống bán lẻ hiện
đại với ba mơ hình kinh doanh: đại siêu thị, siêu thị và cửa hàng tiện ích sẽ vẫn giữ thế vượt trội nhưng sẽ xuất hiện thêm các mơ hình bán lẻ mới.
Cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra vào năm 2008 đã làm thay đổi thói quen tiêu dùng, mua sắm có một bộ phận khơng nhỏ người tiêu dùng châu Á. Họ đã trở
nên ngày càng quan tâm đến giá cả hàng hóa và các chương trình khuyến mại giảm giá mà các nhà bán lẻ đưa ra. Theo thống kê của công ty nghiên cứu thị trường
Nielsen năm 2009, có đến 70 dân châu Á chú ý nhiều đến giá cả hơn so với năm 2008 Nielsen 2009. Kết quả là họ chỉ mua những thứ thực sự cần thiết hơn là
những thứ bắt mắt và cố gắng giảm số lượng hàng hóa phải mua và ngày càng muốn tìm kiếm những sản phẩm giảm giá.
Trước tình hình đó, thị trường châu Á trong thời gian tới được dự báo sẽ chứng kiến sự bùng nổ của một loạt các cửa hàng giảm giá discount stores.
33
Các cửa hàng giá rẻ trong thời gian gần đây đã gây dựng cho mình một khối lượng khách hàng khá đơng đảo và một văn hóa mới mẻ. Rất nhiều người tiêu
dùng châu Á đã tạo ra hoặc chạy theo trào lưu “săn lùng hàng hạ giá” vào các thời điểm nghỉ lễ, hình thành một nét sinh hoạt mới mẻ trong xã hội châu Á.
Ngoài hệ thống cửa hàng hạ giá, thị trường bán lẻ châu Á trong thời gian tới, theo cơ quan nghiên cứu thị trường thuộc IBM IBM 2007, tr.44-50, sẽ chứng
kiến sự ra đời và bùng nổ của một số loại hình bán lẻ hiện đại sau:

Siêu thị nhỏ mini-mart Là mơ hình bán lẻ tự phục vụ quy mô nhỏ hơn siêu thị, thường được đặt ở
các khu dân cư. Số lượng sản phẩm được bán trong các siêu thị với các chủng loại chính là thực phẩm tươi sống, lương thực khơ và các sản phẩm phục vụ nhu cầu sử
dụng hàng ngày của các hộ gia đình. Khác với các cửa hàng tiện ích, các siêu thị nhỏ này khơng bán bánh kẹo cao cấp, thuốc lá hay báo, tạp chí. Diện tích mỗi siêu
thị khá nhỏ, chỉ từ 100 đến 300 mét vuông. Giá bán ở đây chỉ ngang bằng giá ở các chợ truyền thống nhưng hàng hóa được trình bày có tính thẩm mỹ cao và đảm
bảo về vệ sinh. Do ở nhiều thị trường ở các quốc gia châu Á, một tỷ lệ không nhỏ người
mua sắm thường đi bộ hay sử dụng các phương tiện giao thông công cộng nên các đại siêu thị ở xa khu trung tâm hay các siêu thị lớn nằm trong các khu mua sắm
sầm uất thường khơng phù hợp. Vì vậy, mơ hình nằm trong các khu dân cư này có tiềm năng phát triển mạnh trong tương lai.

Đại siêu thị cỡ nhỏ compact hypermarket Đây là loại hình đại siêu thị quy mô nhỏ, với số lượng, chủng loại hàng hóa
ít hơn đại siêu thị. Mơ hình kinh doanh này khắc phục được những khó khăn về mặt bằng kinh doanh cũng như những hạn chế về mặt pháp lý mà các đại siêu thị
thường gặp phải. Ngoài ra, do số lượng hàng hóa ít hơn, việc mua sắm ở mơ hình bán lẻ này sẽ thuận lợi và tiết kiệm đáng kể về thời gian so với mua sắm ở các đại
siêu thị. Bên cạnh đó, nó cũng thể hiện những đặc điểm vượt trội so với các siêu
34 34
thị như cho phép người mua sắm tiếp cận với các khu ẩm thực hay giải trí. Diện tích mỗi cửa hàng từ 2000 đến 6000 mét vuông và thường được xây dựng nhiều
tầng.

Cửa hàng bán sản phẩm chuyên dụng specialty store Mơ hình cửa hàng này mục đích phục vụ cho người có thu nhập cao trong
xã hội, sản phẩm được cá biệt hóa, thường là sản phẩm sạch, nguồn gốc thiên nhiên, sản phẩm chức năng, bổ dưỡng, chất lượng thượng hạng. Diện tích mỗi cửa
hàng từ khoảng 200 đến 500 mét vuông. Các cửa hàng này thường là các đại lý độc quyền trong một khu vực địa lý nhất định.

Cửa hàng tiện ích kiểu mới convenience plus Các cửa hàng này thường được đặt ở trung tâm, những phố mua sắm sầm
uất, hay các khu mua sắm trong các khu dân cư tập trung hay gần những trạm xăng, điểm dừng xe buýt. Hàng hóa được bán thường là lương thực, thực phẩm
khô và thực phẩm tươi sống, bánh mỳ, thuốc lá, bánh kẹo, báo, tạp chí và các hàng hóa thiết yếu khác. Giá hàng hóa đắt hơn siêu thị từ 10 đến 15. Diện tích mỗi
cửa hàng từ 200 đến 800 mét vng.
III. HAI THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ ĐIỂN HÌNH CỦA CHÂU Á GIAI ĐOẠN 2000 ĐẾN NAY
Như đã phân tích ở trên, hầu hết các quốc gia châu Á đều theo đuổi mơ hình kinh tế mở, tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài vào hoạt động trong lĩnh
vực bán lẻ. Tuy nhiên, mỗi quốc gia chọn cho mình một hướng đi riêng với lộ trình mở cửa đặc trưng. Ở một số quốc gia sau khi thị trường bán lẻ được mở cửa,
thị trường đã hoàn toàn bị chi phối bởi các tập đoàn bán lẻ phương Tây. Bên cạnh đó, cũng có những quốc gia với những chính sách thương mại khơn ngoan đã tạo
điều kiện cho doanh nghiệp nước mình đứng vững trong cuộc cạnh tranh với nhà đầu tư nước ngồi. Đến đây tơi xin đưa ra hai ví dụ điển hình về q trình mở cửa
thị trường bán lẻ ở Thái Lan và Hàn Quốc.
35
1. Thái Lan 1.1 Chính sách mở cửa thị trường một cách ồ ạt của Chính phủ Thái Lan
Thái Lan chính thức gia nhập WTO vào năm 1995. Tuy nhiên nước này lại không cam kết bất cứ điều khoản nào về thực hiện tự do hóa dịch vụ bán lẻ. Chỉ
khi cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 nổ ra, do thiếu vốn trầm trọng, Chính phủ Thái Lan đã tìm mọi cách thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường bán lẻ.
Cuối những năm 1980, nhà đầu tư nước ngoài chỉ được phép hoạt động trên thị trường bán lẻ dưới hình thức liên doanh với doanh nghiệp nội địa và nắm giữ
không quá 49 tổng số vốn. Tuy nhiên, sau khủng hoảng 1997, Chính phủ đã ngay lập tức cho phép các cơ sở bán lẻ 100 vốn nước ngoài được hoạt động nếu
nhà đầu tư bỏ vốn tối thiểu 2,5 triệu Euro. 1.2 Thất bại của các doanh nghiệp bán lẻ Thái Lan trên thị trường nội địa
Hệ quả của chính sách mở cửa khơng kiểm sốt của chính phủ Thái Lan đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới mảng bán lẻ truyền thống của quốc gia này. Hàng loạt
cửa hàng bán lẻ truyền thống ở thủ đô Băng Cốc và các tỉnh khác đã bị phá sản, đặc biệt là ở những vùng xuất hiện các cửa hàng tiện ích hoạt động dưới hình thức
nhượng quyền thương hiệu. Trong khi đó, những nhà bán lẻ nước ngoài bằng việc kinh doanh bán hàng qua các cửa hiệu giảm giá dần tạo vị trí độc quyền trên thị
trường nước này. Đến năm 2001, tức là chưa đầy 5 năm sau khi mở cửa thị trường, hệ thống bán lẻ qua các cơ sở giảm giá discount stores đã chiếm được 23 thị
phần. 97 chuỗi các cửa hàng giảm giá thuộc sở hữu của các nhà bán lẻ nước ngồi. Trong khi đó, thị phần của hệ thống bán lẻ truyền thống sau khi giảm gần
10.000 cửa hàng đã sụt giảm mạnh, từ 74 xuống còn 46 Macedo, Jorge và Chino, Tadao 2003, tr.31.
Tình hình còn xấu hơn khi chính những nhà cung cấp trong nước cũng bị ảnh hưởng rất nghiêm trọng. Sự ra đời của các cửa hàng giảm giá đã đẩy một số
lượng lớn nhà cung cấp Thái Lan vào thế bất lợi trong các vụ mặc cả giá bán hàng hóa.
36 36
Sự kiện này đã gây ảnh hưởng sâu sắc tới xã hội Thái Lan, tạo nên làn sóng phản đối tồn cầu hóa mạnh mẽ trong người dân nước này. Chính phủ Thái Lan
đối mặt với sức ép phải đóng cửa thị trường bán lẻ của mình. Trong tình trạng đó, một loạt các chính sách “chữa cháy” đã được Chính phủ đưa ra, chủ yếu là các
biện pháp về mặt quản lý. Có thể kể đến một số biện pháp như việc Chính phủ hỗ trợ cho việc thành lập các cửa hàng bán lẻ cộng đồng community retail shops,
đào tạo đội ngũ quản lý cho những cửa hàng bán lẻ nhỏ, thiết lập bộ phận tư vấn Retail Clinic,… Macedo, Jorge và Chino, Tadao 2003, tr. 32-33.
Vai trò của Chính phủ tập trung vào việc tháo gỡ khó khăn về mặt tài chính cho hệ thống các cửa hàng bán lẻ truyền thống hay các siêu thị bán lẻ quy mô nhỏ.
Tuy nhiên, những biện pháp này không phát huy được tối đa tác dụng do không được xây dựng và thực thi một cách hệ thống, tác động chỉ dừng ở mức tạm thời.
Bên cạnh đó, việc Chính phủ sửa đổi lại các bộ Luật đã làm cản trở q trình tự do hóa thương mại, cạnh tranh bình đẳng trên thị trường. Doanh nghiệp bán lẻ của
Thái Lan ngày càng mất tính cạnh tranh so với các doanh nghiệp nước ngồi. 2. Hàn Quốc
2.1 Chính sách của Chính phủ Hàn Quốc về thị trường bán lẻ Hàn Quốc bắt đầu mở cửa hoàn toàn thị trường bán lẻ của mình vào năm
1996. Nhờ đó, ngành cơng nghiệp nước này chứng kiến sự xuất hiện của nhiều mô hình kinh doanh mới cùng với sự lớn dần về mặt quy mô của các doanh nghiệp
bán lẻ cả trong nước lẫn nước ngồi. Để tăng tính hiệu quả của thị trường bán lẻ, Chính phủ Hàn Quốc đã thực
hiện từng bước q trình tự do hóa trên thị trường bán lẻ. Chính sách bán lẻ của nước này được chia làm ba giai đoạn:
Giai đoạn 1: bắt đầu diễn ra vào khoảng giữa năm 1989 đến giữa năm 1991. Vào giai đoạn này, Chính phủ Hàn Quốc thực hiện nới lỏng các quy định về việc
các công ty nước ngồi có thể thiết lập các chi nhánh hay thực hiện đầu tư trực tiếp vào đất nước.
37
Giai đoạn 2: tiếp nối giai đoạn 1, thực hiện trong khoảng giữa năm 1991 đến giữa năm 1993. Vào thời điểm này, các doanh nghiệp nước ngồi có thể mở
các cửa hàng ở Hàn Quốc. Tuy nhiên, Chính phủ quy định diện tích của mỗi cửa hàng khơng được q 1000 mét vng. Bên cạnh đó, số lượng cửa hàng mà mỗi
doanh nghiệp nước ngồi được mở cũng khơng được lớn hơn con số 10. Giai đoạn 3: thực hiện vào giữa năm 1993 đến năm 1995. Trong thời kỳ
này, những quy định về diện tích cũng như số lượng cửa hàng các nhà bán lẻ nước ngoài được phép mở quy định trong giai đoạn hai được nới rộng hơn. Doanh
nghiệp nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực bán lẻ trên thị trường Hàn Quốc có thể mở đến 20 cửa hàng với diện tích mỗi cửa hàng có thể là 3000 mét vng.

Ủy ban thương mại lành mạnh Hàn Quốc KFTC
Thành lập từ đầu những năm 1980, Ủy ban này có 4 nhiệm vụ chính là: khuyến khích cạnh tranh công bằng; củng cố quyền lợi khách hàng; thiết lập môi
trường cạnh tranh cho các doanh nghiệp nội địa vừa và nhỏ và hạn chế sự bành trướng, lạm dụng của các tập đoàn khổng lồ. Trong 4 chức năng này, Ủy ban đã
thực hiện mạnh mẽ nhất chức năng hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước, đặc biệt là sau khi Hàn Quốc thực hiện những cam kết của mình trong
khn khổ WTO. Ủy ban này đã đưa vào thi hành 9 bộ luật trong đó có “Những quy định về độc quyền Monopoly regulation và Luật về “Thương mại bình đẳng”
Fair Trade Act. Cụ thể trong lĩnh vực bán lẻ, nếu bất cứ doanh nghiệp nào đang chiếm được phần lớn thị trường lạm dụng vị trí của mình với mục đích cạnh tranh
khơng cơng bằng, KFTC sẽ ra lệnh cho doanh nghiệp phải giảm giá hàng loạt, ngay lập tức chấm dứt hành vi của mình. Đồng thời, KFTC sẽ cơng bố rộng rãi vi
phạm của doanh nghiệp đó hoặc sử dụng các biện pháp theo các bộ luật liên quan. Doanh nghiệp có thể chịu phạt lên tới 3 tổng doanh thu trong thời kỳ xảy ra vi
phạm. Chính những biện pháp này đã giúp Chính phủ tối thiểu hóa sự bành trướng của các tập đoàn bán lẻ khổng lồ và bảo vệ các nhà bán lẻ trong nước quy mô nhỏ
không bị phá sản khi thị trường được mở cửa hoàn tồn KFTC 2010.
38 38
2.2 Thành cơng của các doanh nghiệp bán lẻ Hàn Quốc trong việc giữ thị phần của mình trước sự xâm chiếm của các tập đồn quốc tế
Sự thành công của các nhà bán lẻ nội địa của Hàn Quốc được đánh dấu bằng sự kiện tập đoàn bán lẻ hàng đầu thế giới Wal-mart phải rút khỏi thị trường
này bằng việc bán lại 16 cửa hàng trên khắp Hàn Quốc cho Shinsegae với mức giá được cho rằng đã gây ra một khoản lỗ khổng lồ: 882 triệu đơ la Mỹ vào năm 2006.
Ngay trước đó, một tập đoàn bán lẻ khổng lồ khác, Carrefour cũng phải rút khỏi thị trường Hàn Quốc bằng việc bán lại 32 cửa hàng bán lẻ của mình cho một
doanh nghiệp nội địa là E-land theo một hợp đồng trị giá 1,85 tỷ đô la Mỹ Renee, Kim B 2006, tr3-7. Shinsegae là nhà bán lẻ lớn nhất Hàn Quốc, chiếm tới 30 thị
phần cả thị trường bán lẻ. Tập đoàn này được xếp hạng 85 trong top 250 nhà bán lẻ lớn nhất toàn cầu xét trên doanh số bán lẻ vào năm 2008. Doanh thu bán lẻ của
Shinsegae vào khoảng trên 10 tỷ đô Deloitte 2010, tr.13. Đây được coi là sự thành cơng khá bất ngờ vì trước đó hai đại gia này gần
như chưa khi nào gặp phải thất bại khi vươn ra các thị trường quốc tế. Thành công của những nhà bán lẻ hàng đầu Hàn Quốc có thể được giải thích bằng những lý do
sau: Thứ nhất, về địa điểm kinh doanh: trong khi các doanh nghiệp bán lẻ đến từ
phương Tây lựa chọn địa điểm xây dựng cửa hàng là những khu diện tích lớn, thường ở các vùng ngoại ơ, xa trung tâm thì các doanh nghiệp bán lẻ Hàn Quốc lại
lựa chọn cho mình những cửa hiệu ở các khu trung tâm. Người dân Hàn Quốc khác người dân phương Tây ở một điểm rất quan trọng là họ đi mua sắm thường
xuyên hơn. Vì vậy, mặc dù các cửa hàng của nhà bán lẻ trong nước diện tích nhỏ song có thuận lợi về giao thơng đã thu hút được số lượng khách nhiều hơn.
Thứ hai là về sản phẩm. Văn hóa Hàn Quốc rất ưa chuộng việc sử dụng các sản phẩm sản xuất trong nước. Nắm bắt được tâm lý này, các nhà bán lẻ Hàn Quốc
luôn tìm cách tối đa hóa danh mục sản phẩm của mình bằng những sản phẩm nội địa. Bên cạnh đó, người Hàn Quốc cũng rất quan trọng đến cách trưng bày sản
phẩm hay chính xác hơn chính là tính thẩm mỹ của mỗi gian hàng. Trong khi tập
39
đoàn bán lẻ từ phương Tây do quá chú trọng tới việc tận dụng từng khoảng không gian nhỏ để bày được nhiều hàng hóa đã quên mất việc đầu tư vào cách bài trí gian
hàng. Ngược lại, trong các cửa hàng bán lẻ của doanh nghiệp Hàn Quốc, hàng hóa được bày rất đẹp mắt, thuận tiện cho khách hàng có thể tự tay kiểm tra thay vì phải
nhờ tới sự trợ giúp của nhân viên phục vụ. Hàng hóa bán trong các cửa hiệu như E-mart hiếm khi bị gói kỹ trong hộp kín như hàng hóa bày bán trong chuỗi các
siêu thị của Wal-mart hay Carrefour. Ngoài ra, lựa chọn về chủng loại sản phẩm cũng được các tập đoàn bán lẻ Hàn Quốc sử dụng để cạnh tranh với các tập đoàn
châu Âu và Bắc Mỹ. Người dân Hàn Quốc thích mua những sản phẩm tươi sống thay vì sản phẩm qua chế biến. Do đó, trong mỗi siêu thị của Shinsegae hay Lotte,
người tiêu dùng có thể dễ dàng tìm kiếm thực phẩm theo nhu cầu của mình tại các quầy thực phẩm tươi sống trong khn viên siêu thị. Trong khi đó, Wal-mart hay
Carrefour lại tập trung trưng bày các sản phẩm đóng hộp, thực phẩm khô hay đồ điện tử gia dụng.
Lý do thứ ba chính là các chương trình khuyến khích mua hàng. Các cửa hàng của E-mart hay Lotte đã thành công bằng việc thuê những nhân viên sử dụng
các hệ thống loa cỡ lớn hay xếp hàng vào giờ mở cửa và chào đón khách hàng bằng những tràng vỗ tay lớn. Phong cách này đã thu hút được sự chú ý của một số
lượng lớn khách hàng. Lý do thứ tư khiến các doanh nghiệp bán lẻ Hàn Quốc giành được ưu thế là
ở chỗ họ đã biết xây dựng mối quan hệ mật thiết với những nhà sản xuất, cung cấp hàng hóa nội địa. Wal-mart hay Carrefour ln tìm cách hạ thấp giá mua hàng để
đạt được lợi thế về giá sản phẩm bán ra bằng những cách tác động lên nhà sản xuất, phân phối sản phẩm. Nhiều trường hợp, những tập đoàn lớn này đã tận dụng
ưu thế về mặt tài chính của mình để gây sức ép với nhà cung cấp, khiến một số lượng lớn tỏ ra hết sức bất bình. Khi xuất hiện trên thị trường Hàn Quốc, các nhà
bán lẻ phương Tây này đã gặp phải nhiều vụ khởi kiện từ nhà sản xuất, ảnh hưởng đến uy tín của mình. Nhà sản xuất nội địa do đó khá e dè trong việc bắt tay với
những nhà bán lẻ này. Trong khi đó, những nhà bán lẻ hàng đầu Hàn Quốc đã tận
40 40
dụng cơ hội để củng cố mối quan hệ của mình với những nhà cung cấp truyền thống. Vì vậy, họ luôn đảm bảo được nguồn hàng dồi dào, giá cả ổn định cung cấp
cho khách hàng. Bài học rút ra được từ thành công của những nhà bán lẻ Hàn Quốc là họ đã
nắm rõ tâm lý, hiểu được văn hóa, truyền thống, thói quen mua sắm của người tiêu dùng nội địa. Từ đó, họ có thể điều chỉnh những chiến lược phù hợp với những
biến động trên thị trường.
CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ NHẰM PHÁT
TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRONG TƯƠNG LAI
I. THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM 1. Khái quát về thị trường bán lẻ Việt Nam
1.1 Các loại hình kinh doanh bán lẻ khá phong phú đa dạng 1.1.1 Hệ thống bán lẻ truyền thống vẫn chiếm ưu thế
Thị trường bán lẻ Việt Nam nhìn chung là thị trường phân tán và quy mơ còn khá khiêm tốn nếu xét trên quy mô dân số. Chợ và các cửa hàng theo kiểu hộ
41
gia đình vẫn chi phối cả thị trường. Mặc dù quy định mới về việc cấm bán hàng rong tại một số quận nội thành ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã được ban
hành từ tháng 22008, loại hình này vẫn giữ vai trò đáng kể trong thói quen mua sắm của người Việt Nam.
Đặc biệt ở khu vực nông thơn nơi có hơn 70 dân số Việt Nam đang sinh sống, hệ thống bán lẻ truyền thống chiếm vị trí gần như áp đảo.
Theo thống kê của RNCOS, trong thời kỳ từ 2006 đến nay, doanh thu từ hệ thống bán lẻ truyền thống đang giữ khoảng 90 tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa
trên thị trường. Riêng tại thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh, nơi xuất hiện ngày càng nhiều các mơ hình bán lẻ hiện đại, thị phần của hệ thống bán lẻ truyền thống
vào khoảng 75-80 RNCOS 2008, tr.62. 1.1.2 Các loại hình kinh doanh bán lẻ hiện đại khá phong phú, đa dạng
Hệ thống bán lẻ hiện đại hiện đang tồn tại ở Việt Nam dưới rất nhiều hình thức khác nhau: trung tâm mua sắm, trung tâm thương mại, đại siêu thị, siêu thị,
siêu thị nhỏ, cửa hàng tiện ích, cửa hàng chuyên doanh,… Thành phố Hồ Chí Minh là nơi siêu thị đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam.
Tháng 10 năm 1993, siêu thị đầu tiên được mở là một siêu thị thuộc sở hữu nhà nước. Tính từ thời điểm đó tới nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, sự gia
tăng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI và sự tăng trưởng mạnh mẽ của ngành du lịch nội địa đã thúc đẩy các mô hình bán lẻ hiện đại nở rộ ở Việt Nam.
Sự tăng lên về số lượng các cửa hàng bán lẻ hiện đại ở 6 thành phố lớn là Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ và Hồ Chí Minh có thể được thể hiện
trong bảng sau trong tương quan với số lượng các cửa hàng thuộc kênh bán lẻ truyền thống.
KÊNH BÁN LẺ 2006
2007 2008
42 42
SỐ LƯỢNG
TỶ LỆ TĂNG
SO VỚI 2006
SỐ LƯỢNG
TỶ LỆ TĂNG
SO VỚI 2007
Hiện đại các loại hình siêu thị và cửa
hàng tiện ích 230
368 60
425 15,5
Truyền thống 88.035
96.957 10
99.687 2,8
Bảng III.1: Số lượng cửa hàng bán lẻ theo loại hình tại 6 thành phố lớn nhất Việt Nam
Nguồn: Global Agriculture Information Network – GAIN 2010, tr.3-11
Hệ thống bán lẻ hiện đại của Việt Nam ngồi việc phân chia dựa trên mơ hình kinh doanh còn có thể phân loại dựa trên hình thức sở hữu. Theo đó, các cửa
hàng bán lẻ hiện đại có thể được phân thành ba loại với những đặc trưng sau:

Thuộc sở hữu nhà nước: mặc dù siêu thị bán lẻ hiện đại đầu tiên của Việt Nam là của nhà nước song các cửa hàng bán lẻ loại này đang ngày càng
mất dần thị phần trên thị trường bán lẻ. Tốc độ tăng trưởng của mơ hình kinh doanh bán lẻ thuộc sở hữu nhà nước cũng thấp nhất, chỉ đạt khoảng
12năm trong giai đoạn từ 2002-2008 RNCOS 2008, tr.56.

Thuộc sở hữu tư nhân hay các doanh nghiệp trong nước: loại hình này đang dẫn đầu về số lượng các cửa hàng, chiếm vị trí áp đảo trên thị trường bán
lẻ. Tốc độ tăng trưởng hàng năm đều trên 20 RNCOS 2008, tr.56.
Sài Gòn Co.op Mart – Nhà bán lẻ hàng đầu Việt Nam
Ví dụ thành cơng nhất về nhà bán lẻ Việt Nam không thuộc sở hữu nhà nước là chuỗi siêu thị Co.opMart. Từ khi siêu thị đầu tiên ra đời Co.pMart Cống Quỳnh
năm 1996, Saigon-Co.op đã không ngừng phát triển và trở thành hệ thống siêu thị bán lẻ lớn nhất Việt Nam với hơn 40 siêu thị. Hệ thống siêu thị Co.opMart là một
43
trong những hệ thống siêu thị lớn trong nước với sự đầu tư hiện đại, công nghệ quản lý chuyên nghiệp. Thành cơng của chuỗi siêu thị Sài Gòn Co.op Mart có
được là do những người lãnh đạo ngay từ thời kỳ đầu đổi mới đã nhanh chóng thay đổi tư duy, học hỏi kinh nghiệm bán lẻ từ các thị trường phát triển trong khu
vực và trên thế giới, sớm phát triển mơ hình kinh doanh theo hướng hiện đại, phù hợp với xu thế phát triển chung của thị trường.
Thành cơng của Sài Gòn Co.op Mart đáng kể nhất là doanh nghiệp bán lẻ duy nhất của Việt Nam được bầu chọn trong top 500 nhà bán lẻ hàng đầu châu Á trong
sáu năm liên tiếp 2004-2009

Thuộc sở hữu nước ngồi: mặc dù các mơ hình kinh doanh này mới chỉ giữ thị phần nhỏ trên thị trường nhưng tăng trưởng khá mạnh, gần 20năm và
dự đoán sau khi thị trường được hồn tồn mở cửa thì sẽ đạt mức tăng lớn hơn đáng kể RNCOS 2008, tr.58.
Trên thị trường bán lẻ Việt Nam, Big C và Metro là hai tập đồn bán lẻ đến từ nước ngồi có hoạt động rộng khắp nhất. Hai tập đoàn này sẽ được trình bày trong
phần kế tiếp khi phân tích về sự phát triển của các tập đoàn bán lẻ toàn cầu. 1.2 Các tập đoàn bán lẻ nước ngoài ngày càng mở rộng phạm vi hoạt động và
chiếm lĩnh thị trường Mặc dù phải đến thời điểm 112009, thị trường bán lẻ Việt Nam mới mở
cửa cho các doanh nghiệp 100 vốn nước ngoài hoạt động theo những cam kết trong khuôn khổ WTO, trên thực tế, các cơ sở bán lẻ 100 vốn đầu tư nước ngồi
đã có mặt ở Việt Nam từ cuối những năm 1990. Các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài lớn hiện đang hoạt động trên thị
trường Việt Nam gồm có chuỗi siêu thị Big C của tập đoàn Casino Pháp, các đại siêu thị bán bn của Metro Cash Carry Đức, tập đồn Parkson của Malaysia,
Dairy Farm của Hồng Kông, Lotte của Hàn Quốc,.v.v. Trong phần này em xin được phân tích mơ hình kinh doanh bán lẻ của một số tập đoàn nước ngoài tại Việt
Nam.
44 44
Big C
Big C thuộc quyền sở hữu của tập đoàn Casino. Đây là một trong những tập đoàn bán lẻ hàng đầu châu Âu với hơn 9.000 cửa hàng tại hàng chục các quốc gia
châu Âu và châu Á. Số lượng nhân viên của tập đoàn này lên tới 190.000. Big C xuất hiện ở Việt Nam bằng việc mở siêu thị ở Đồng Nai vào năm
1998. Hiện nay, Big C đã mở rộng hoạt động của mình sang hầu hết các thành phố lớn của Việt Nam, bao gồm: thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà
Nẵng, Biên Hòa, với tổng số 10 đại siêu thị và siêu thị bán lẻ. Big C ở Hà Nội Bourbon Thăng Long là đại siêu thị lớn nhất trong chuỗi 10 trung tâm. Mỗi trung
tâm mua sắm của Big C phục vụ trên 50.000 mặt hàng với chủng loại vô cùng phong phú. Ở các siêu thị của Big C, khách hàng có thể lựa chọn thực phẩm tươi
sống, hàng tạp hóa, quần áo, đồ trang trí nội thất, cũng như các mặt hàng điện máy như đồ gia dụng và thiết bị nghe nhìn. Giá của các mặt hàng trong chuỗi các siêu
thị Big C đều có giá cả cạnh tranh và một số lượng lớn được bán với giá thấp hơn giá bán tại các chợ truyền thống.
Metro Cash Carry
Trung tâm Metro đầu tiên khai trương ở Việt Nam vào tháng 3 năm 2002 tại thành phố Hồ Chí Minh. Tính đến thời điểm cuối năm 2009, tập đồn Metro đã có
9 đại siêu thị hoạt động ở Việt Nam: 3 trung tâm tại thành phố Hồ Chí Minh, 1 trung tâm tại thành phố Biên Hòa, 2 trung tâm ở thủ đơ Hà Nội, và ở thành phố
khác là Cần Thơ, Đà Nẵng và Hải Phòng. Theo kế hoạch, trong năm 2010, 4 trung tâm mua sắm của Metro sẽ tiếp tục ra đời trên thị trường bán lẻ Việt Nam.
Cash and Carry là trả tiền mặt và vận chuyển. Phương thức kinh doanh này còn khá mới mẻ trên thị trường Việt Nam nhưng đã khá phổ biển và gặt hái được
thành cơng trên các thị trường phát triển. Nhóm khách hàng mục tiêu là các khách hàng chuyên nghiệp, thường xuyên mua sắm với khối lượng lớn. Nhóm khách
hàng này bao gồm các nhà bán buôn, nhà phân phối, các đại lý, chủ các cửa hiệu
45
tạp hóa, nhà hàng, khách sạn,… Metro chỉ phục vụ cho những khách hàng có thẻ hội viên.
Parkson
Parkson thuộc sở hữu của công ty Malaysia hiện đang quản lý hơn 70 trung tâm ở Malaysia và Trung Quốc.
Tại Việt Nam, Parkson bắt đầu mở trung tâm mua sắm đầu tiên ở thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2005 và đến nay đã có tất cả 6 trung tâm mua sắm Parkson
ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng. Mơ hình kinh doanh của Parkson là chuỗi các trung tâm mua sắm tập trung những nhãn hiệu thời trang, mỹ phẩm và
các sản phẩm thời thượng nhất trên thế giới nhằm vào đối tượng khách hàng mục tiêu là tầng lớp trung lưu và thượng lưu trong xã hội. Phương châm kinh doanh
của Parkson là đem đến cho khách hàng những trải nghiệm mua sắm thú vị và độc đáo bằng việc thiết kế những gian hàng có tính thẩm mỹ cao, một bộ sưu tập vô
cùng đa dạng những nhãn hàng nổi tiếng nhất trên thế giới. Parkson luôn đưa ra những chương trình khuyến mại giảm giá lớn vào mỗi dịp lễ, tết đặc trưng trên
mỗi thị trường.
Best Carings
Best carings là chuỗi siêu thị chuyên kinh doanh hàng điện tử gia dụng. Chuỗi cửa hàng này ra đời là kết quả của hợp đồng nhượng quyền thương mại
giữa công ty Tiếp thị Bến Thành và tập đoàn bán lẻ điện tử của Nhật bản là Best Denki.
Từ năm 1999, công ty Tiếp thị Bến Thành đã kinh doanh sản phẩm điện tử gia dụng và liên tục giữ vị trí doanh nghiệp bán buôn sản phẩm điện máy lớn nhất
Việt Nam. Doanh thu từ hoạt động kinh doanh của công ty luôn tăng trưởng ở mức trên 50 suốt từ năm 2006.
Tập đoàn bán lẻ điện tử Nhật Bản Best Denki bắt đầu hoạt động trên thị trường quốc tế từ năm 1985. Tính đến thời điểm hết năm 2009, tập đồn này đã có
40 cửa hàng trên khắp châu Á.
46 46
Phương châm kinh doanh của Best Carings Việt Nam là kết hợp giữa thế mạnh của sự hiểu biết về nhu cầu người tiêu dùng trong nước của Carings và
phương pháp tiếp cận khách hàng của doanh nghiệp Nhật Bản. Siêu thị Best Carings đi vào hoạt động đầu tiên vào năm 2008 ở Hà Nội. Đây là siêu thị điện
máy đạt tiêu chuẩn quốc tế đầu tiên ở thành phố này với công nghệ quản lý, phong cách trưng bày và dịch vụ khách hàng đều theo tiêu chuẩn Nhật Bản. Hiện nay
chuỗi siêu thị của Best Carings ở Việt Nam đã mở được 3 siêu thị ở 3 thành phố lớn là Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ. Kế hoạch kinh doanh của Best
Carings là đến hết năm sẽ có 11 cửa hàng trên khắp Việt Nam và trở thành nhà bán lẻ điện máy lớn nhất, hoạt động chuyên nghiệp nhất ở Việt Nam.
1.3 Các doanh nghiệp bán lẻ trong nước còn yếu kém

1.3.1 Quy mơ nhỏ


Doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam nói chung đều gặp khó khăn về vốn. Có thể lấy một ví dụ rất điển hình. Một siêu thị bán lẻ do một doanh nghiệp Việt Nam mở
thường chỉ được đầu tư số vốn chưa đến 10 tỷ trong khi đó nhà bán lẻ nước ngồi có thể đầu tư gấp 13 lần, lên đến 130 tỷ. Một hệ quả khá rõ ràng là doanh thu bình
quân của một siêu thị Việt Nam chỉ bằng 35 một siêu thị của nước ngoài Hồng, Văn 2009.
Nguồn vốn hạn chế là một trong những thách thức lớn nhất mà doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt trong cuộc đua với những tập đoàn bán lẻ nước
ngoài. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực phân phối bán lẻ nhưng còn mở rộng quy mô kinh doanh sang một số lĩnh vực khác như xuất nhập
khẩu nên vốn dành cho hoạt động bán lẻ lại càng bị hạn chế. Do thiếu vốn, các nhà bán lẻ Việt Nam không thể đầu tư cho nghiệp vụ hậu
cần: bến bãi, kho hàng hay phương tiện chuyên chở. Điều này khiến cho các nhà bán lẻ Việt Nam ngày càng tụt lại trong cuộc đua với những nhà bán lẻ nước ngồi
chun nghiệp. Vì đầu tư vào kho bãi rất nhỏ bé, họ không thể dự trữ số lượng hàng lớn do vậy không thể nhanh nhạy đáp ứng nhu cầu thị trường như các nhà
47
bán lẻ nước ngồi. Bên cạnh đó, phần lớn kho hàng của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam đều rơi vào tình trạng khá lạc hậu, khơng được trang bị đầy đủ hệ thống
làm mát. Điều này ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng hàng hóa bán ra. Hạn chế về phương tiện chuyên chở cũng làm giảm tính cạnh tranh của các
doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam. Nếu trên các thị trường phát triển và trong các chuỗi siêu thị bán lẻ của các nhà đầu tư nước ngoài, xe chuyên chở hạng nặng, lên
tới trên 30 tấn và xe container hay pallet xuất hiện ngày càng nhiều, các hệ thống siêu thị của nhà bán lẻ Việt Nam vẫn sử dụng hệ thống xe hạng nhẹ dưới 7 tấn.
Năng lực chuyên chở hạn chế khiến các doanh nghiệp Việt Nam tốn nhiều thời gian hơn và không thể đưa đến khách hàng những dịch vụ nhanh nhất, chất lượng
nhất. 1.3.2 Trình độ quản lý lạc hậu
Do lĩnh vực bán lẻ hiện đại của Việt Nam chỉ thực sự bắt đầu vào khoảng những năm 1990 nên kinh nghiệm các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam có được khá
hạn chế. Đội ngũ quản lý thiếu cơ hội tiếp cận với những mơ hình bán lẻ đã thành công trên thế giới. Tỷ lệ những nhà quản lý có kinh nghiệm trên thị trường quốc tế
còn ở mức rất nhỏ. Mơ hình quản lý ở hầu hết các cơ sở bán lẻ của Việt Nam đều khá cứng nhắc, kém linh hoạt.
Bên cạnh đó, nguồn nhân lực làm quản lý cũng rất thiếu hụt. Trên thị trường lao động nói chung, lượng cầu về những vị trí quản lý quan trọng từ
trưởng phòng trở lên ln vượt q lượng cung. Do vậy, các công ty trên thị trường ln phải tìm mọi cách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao bằng việc
đưa ra các ưu đãi về lương và các hình thức hỗ trợ khác. Các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam vì tiềm lực tài chính hạn chế, khơng có kinh nghiệm trong việc xây dựng
các chương trình đãi ngộ cơng nhân viên nên thường tỏ ra yếu thế trong việc tuyển dụng những vị trí hàng đầu có khả năng chỉ đạo hoạt động kinh doanh, vạch chiến
lược dài hạn cho công ty. Đây là một cản trở rất lớn cho sự thành công của các doanh nghiệp nước nhà.
48 48
1.3.3 Chất lượng nguồn nhân lực nói chung còn thấp Nguồn lao động làm việc trong ngành bán lẻ hiện nay phần lớn đều không
được đào tạo bài bản. Nguyên nhân chính là do ở Việt Nam hiện chưa có một chương trình đào tạo chính quy nào về ngành bán lẻ. Nhân viên làm việc trong các
siêu thị hầu hết chỉ tốt nghiệp phổ thơng. Bên cạnh đó, bản thân các doanh nghiệp cũng khơng tỏ ra thực sự hiệu quả
trong q trình đào tạo nhân viên của mình. Tình trạng thường thấy ở các siêu thị, cửa hàng tiện ích do doanh nghiệp Việt Nam làm chủ là hiểu biết của nhân viên về
các loại hàng hóa thường rất hạn chế. Số lượng nhân viên có đủ kiến thức để giải đáp mọi thắc mắc của khách hàng chỉ là một tỷ lệ rất nhỏ. Một hạn chế nữa của
đội ngũ nhân viên làm việc cho các nhà bán lẻ Việt Nam là trình độ ngoại ngữ tiếng Anh rất yếu kém. Phần lớn không đủ khả năng giao tiếp với khách hàng
ngoại quốc. Điều này dẫn đến tình trạng là ngày càng nhiều khách hàng nước ngoài e dè khi đi mua sắm trong các siêu thị của Việt Nam. Đây là một điều rất
đáng tiếc vì đối tượng này thường là những khách hàng khá tiềm năng, sức mua trung bình lớn hơn khách hàng Việt Nam và do vậy có thể đem lại khoản doanh
thu đáng kể. 1.3.4 Hoạt động liên kết hạn chế
Các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam vào thời điểm hiện nay vẫn chưa nhận thức được đầy đủ tầm quan trọng của việc liên kết. Trên cả nước hiện mới chỉ ghi
nhận hai tổ chức của các nhà bán lẻ trong nước. Đó là Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam AVR và công ty cổ phần cổ phần Đầu tư và phát triển hệ thống phân phối
Việt Nam VDA.
Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam – AVR.
AVR được thành lập vào tháng 7 năm 2007 sau khi Việt Nam trở thành thành viên WTO. Trước tình hình các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài xâm nhập
vào Việt Nam với tốc độ ngày càng tăng, 100 doanh nghiệp hoạt động trong ngành bán lẻ và các lĩnh vực liên quan đến bán lẻ đã tập hợp nhằm cùng nhau phát triển
49
trong bối cảnh thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn. Vào thời điểm thành lập, hiệp hội có 100 thành viên. Hiện nay số lượng thành viên đã lên hơn 150.
Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển hệ thống phân phối Việt Nam
Theo sáng kiến của 4 doanh nghiệp phân phối hàng đầu Việt Nam là Tổng công ty Thương mại Hà Nội Hapro, Tổng công ty Thương mại Sài Gòn Satra,
Liên hiệp Hợp tác xã thương mại thành phố Hồ Chí Minh Saigon Co.op và Cơng ty Cổ phần Tập đoàn Phú Thái Phu Thai Group, VDA được thành lập ra vào ngày
01 tháng 02 năm 2007. Số vốn ban đầu là 1.500 tỷ đồng để xây dựng cơ sở hạ tầng thương mại, trong đó có hệ thống tổng kho với các trang thiết bị hiện đại. Mục tiêu
của cơng ty là trở thành tập đồn phân phối số 1 Việt Nam Kiều, Hương 2007. Lợi ích của liên kết để cạnh tranh với các công ty nước ngoài là khá rõ
ràng. Tuy nhiên, trên thị trường bán lẻ Việt Nam hiện nay, ngồi hai liên kết nói trên thì gần như chưa xuất hiện liên minh đáng chú ý nào giữa các doanh nghiệp
nội địa hoạt động trong lĩnh vực bán lẻ. Nguyên nhân dẫn đến tình hình trên có thể kể tới đầu tiên là do phần lớn các doanh nghiệp chưa nhận thức được sức mạnh
đến từ việc liên kết. Rất nhiều doanh nghiệp lo sợ bí quyết kinh doanh của họ có thể bị doanh nghiệp khác đánh cắp.
Do chưa hiểu rõ được vai trò của liên kết, và những liên kết trên thị trường mới chỉ hạn chế ở mục đích hỗ trợ thành viên về vốn hay xây dựng thương hiệu,
các tổ chức liên kết của các nhà bán lẻ Việt Nam chưa phát huy được ý nghĩa to lớn của mình.
2. Tác động của việc gia nhập WTO đối với hoạt động thị trường bán lẻ Cam kết của Việt Nam trong khn khổ WTO:

Những dịch vụ phân phối Việt Nam cam kết mở cửa khi gia nhập WTO, bao gồm dịch vụ đại lý hoa hồng, dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán lẻ kể cả
hoạt động bán hàng đa cấp và dịch vụ nhượng quyền thương mại.

Những loại hàng hóa nhà đầu tư nước ngồi được phép phân phối tại Việt Nam:
50 50
Từ ngày 1112010, khơng có bất cứ sự hạn chế nào về hàng hóa nhà đầu tư nước ngoài được phép phân phối tại Việt Nam, miễn là hàng hóa đó được sản xuất
tại Việt Nam hoặc được nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam.

Các hình thức nhà đầu tư nước ngồi có thể thực hiện hoạt động phân phối ở Việt Nam:

Lập liên doanh với đối tác Việt Nam: từ ngày 112008 khơng còn bất cứ hạn chế nào về tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài.

Lập doanh nghiệp 100 vốn đầu tư nước ngoài thực hiện từ sau 112009 Hạn chế chung cho cả hai hình thức này là họ chỉ được phép cung cấp dịch
vụ bán lẻ thông qua các cơ sở bán lẻ siêu thị, cửa hàng tiện ích,…. Tuy nhiên, các doanh nghiệp bán lẻ có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được tự động mở một cơ sở
bán lẻ. Việc mở thêm cơ sở bán lẻ ngoài cơ sở thứ nhất phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.
Như vậy, kể từ thời điểm 112009, thị trường bán lẻ Việt Nam đã mở cửa cho phép các doanh nghiệp 100 vốn nước ngoài hoạt động. Quá trình thực hiện
theo đúng cam kết của WTO này đã có tác động trực tiếp và mạnh mẽ lên những chủ thể chính trên thị trường bán lẻ Việt Nam.
2.1 Tác động tích cực 2.1.1 Đối với thị trường bán lẻ Việt Nam nói chung
Kể từ thời điểm 112009, hầu như mọi rào cản trên thị trường bán lẻ Việt Nam đều được dỡ bỏ. Việc này đồng nghĩa với việc đầu tư của doanh nghiệp bán
lẻ nước ngồi sẽ khơng ngừng tăng lên. Trên thị trường bán lẻ Việt Nam, cạnh tranh sẽ trở nên sôi động hơn. Bên cạnh đó, hình thức các loại doanh nghiệp cũng
trở nên đa dạng hơn, tình hình liên kết giữa các doanh nghiệp nước ngoài và các doanh nghiệp nội địa cũng như giữa các doanh nghiệp nội địa với nhau càng trở
nên phổ biến. Kết quả là nhiều hình thức sở hữu mới ra đời làm cho thị trường bán
51
lẻ của nước ta càng trở nên phong phú. Thị trường sẽ ngày càng hướng tới các mơ hình kinh doanh tiên tiến trên thế giới.
Khi thị trường bán lẻ Việt Nam được mở cửa hoàn toàn, hàng loạt các trung tâm mua sắm, đại siêu thị, siêu thị, cửa hàng tiện ích,… sẽ ra đời. Điều này chắc
chắn sẽ dẫn đến nhu cầu tìm kiếm một số lượng lao động khổng lồ. Ngành bán lẻ hiện nay vẫn dẫn đầu là ngành sử dụng lao động nhiều nhất trong nền kinh tế toàn
cầu. Việc mở cửa thị trường bán lẻ Việt Nam còn tạo điều kiện cho lao động Việt Nam được làm việc trong mơi trường có tính quốc tế cao, được đào tạo bài bản và
tiếp cận với khoa học kỹ thuật hiện đại của thế giới. 2.1.2 Đối với các chủ thể trên thị trường bán lẻ trong nước

Đối với doanh nghiệp bán lẻ nội địa
Sau khi thị trường bán lẻ được mở cửa hoàn toàn, một số lượng lớn các nhà bán lẻ toàn cầu sẽ đến Việt Nam, mang theo công nghệ mới, phong cách quản lý
hiện đại, chuyên nghiệp. Doanh nghiệp Việt Nam nhờ đó có cơ hội học hỏi kinh nghiệm, tiếp thu những nét tiên tiến mà các doanh nghiệp nước ngồi mang lại.
Thơng qua cách thức làm việc chun nghiệp mà những nhà bán lẻ lớn trên thế giới đem lại, doanh nghiệp Việt Nam có thể tiếp thu để không chỉ áp dụng trên thị
trường nội địa mà vươn ra quốc tế. Do cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt hơn, các doanh nghiệp trong
nước muốn tồn tại phải không ngừng cải thiện, loại bỏ những phong cách làm việc quan liêu, bao cấp do ảnh hưởng từ thời kỳ kinh tế kế hoạch tập trung. Họ sẽ quan
tâm hơn nhiều đến việc đổi mới mình nhằm giữ thị phần trước sự đe dọa của các tập đoàn dày dặn kinh nghiệm đến từ các nước phát triển.

Đối với nhà sản xuất trong nước
Các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào thị trường Việt Nam chắc chắn sẽ giúp mở rộng thị trường đầu ra cho hàng ngàn sản phẩm của các nhà sản xuất
trong nước. Mỗi hệ thống mua sắm hiện đại là nơi trưng bày và bán hàng loạt các chủng loại sản phẩm khác nhau. Cơ hội cho nhà sản xuất trong nước hợp tác với
52 52
các nhà bán lẻ nước ngoài nhằm giới thiệu sản phẩm của mình qua các tên tuổi hàng đầu thế giới là rất lớn.
Bên cạnh đó, nếu các nhà sản xuất trong nước khẳng định được tên tuổi của mình bằng các sản phẩm chất lượng đạt tiêu chuẩn quốc tế, giá cạnh tranh, cơ hội
trở thành nhà phân phối độc quyền cho các nhà bán lẻ lớn nhất thế giới hồn tồn có thể. Trong trường hợp đó, sản phẩm của họ chắc chắn sẽ có cơ hội xuất hiện tại
những thị trường phát triển nhất trên thế giới.

Đối với người tiêu dùng
Lợi ích đầu tiên và rõ ràng nhất là người tiêu dùng sẽ có nhiều cơ hội lựa chọn hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của bản thân và gia đình. Các doanh
nghiệp nước ngoài vào Việt Nam chắc chắn sẽ giới thiệu một số lượng lớn các mặt hàng mới, hiện đại và tiện ích hơn. Do đó, người tiêu dùng có thể chọn được
những mặt hàng chất lượng tốt nhất và giá cả cạnh tranh. Việc các tập đoàn bán lẻ lớn trên thế giới đặt chân vào Việt Nam sau khi
Chính phủ mở cửa hoàn toàn thị trường bán lẻ giúp người tiêu dùng dần tiếp cận với các phương thức kinh doanh hiện đại và thay đổi thói quen mua sắm của người
dân Việt Nam. Mặc dù trong thời gian gần đây, hệ thống bán lẻ hiện đại đã giành được thị phần không nhỏ song kênh bán lẻ truyền thống vẫn chiếm ưu thế. Vì vậy,
cùng với việc mở cửa hoàn toàn thị trường bán lẻ từ đầu năm 2009, số lượng các cửa hàng, trung tâm bán lẻ hiện đại tăng lên sẽ đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa
phong cách mua sắm của đa số người dân, kể cả người dân có mức sống trung bình hay một bộ phận lớn người dân sống sống ở vùng nơng thơn.
Bên cạnh đó, cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường bán lẻ Việt Nam sẽ khiến các doanh nghiệp không ngừng đổi mới để tạo được lợi thế về giá cũng
như chất lượng sản phẩm hay dịch vụ khách hàng. 2.2 Tác động tiêu cực

Các cửa hàng bán lẻ truyền thống
53
Trong khi hệ thống bán lẻ truyền thống chợ và các cửa hàng tạp hóa, cửa hàng tư nhân vẫn đang chiếm tỷ trọng áp đảo trên thị trường bán lẻ Việt Nam, sự
xâm nhập thị trường của các tập đoàn bán lẻ lớn trên thế giới chắc chắn sẽ đe dọa vị trí của loại hình bán lẻ này. Hệ thống bán lẻ truyền thống vẫn tồn tại và phát
triển cho đến ngày nay chính là nhờ lợi thế về giá. Tuy nhiên, khi các nhà bán lẻ nước ngồi có tiềm lực tài chính mạnh, họ hồn tồn có khả năng chi phối nguồn
cung đảm bảo hàng hóa của họ có giá bằng hoặc thấp hơn ngồi chợ. Thêm vào đó, hàng hóa ở các trung tâm bán lẻ hiện đại thường ít biến động hơn về giá cả sẽ
thu hút một lượng lớn khách hàng. Như vậy, công việc kinh doanh của một tỷ lệ lớn các tiểu thương Việt Nam có nguy cơ bị phá sản.

Đối với doanh nghiệp bán lẻ
Cuộc cạnh tranh của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam với các đại gia bán lẻ tồn cầu có thể là cuộc cạnh tranh một mất một còn và phần thắng có nhiều khả
năng sẽ thuộc về những tập đoàn đa quốc gia với tài chính khổng lồ và kinh nghiệm dạn dày.
Nhiều nhà bán lẻ nước ngồi như Wal-mart, Metro có lợi thế về giá vì họ nắm được thế chủ động trước các nhà sản xuất, phân phối dựa vào sức mạnh tài
chính của mình nên kiểm sốt được nguồn hàng và đảm giá thấp hơn đối thủ cạnh tranh. Đây có thể là nguyên nhân khiến khách hàng từ bỏ các cửa hàng mua sắm
quen thuộc để đến với các trung tâm bán lẻ hiện đại.

Đối với nhà sản xuất nội địa
Cơ hội cho nhà sản xuất nội địa là rất lớn tuy nhiên thách thức cũng không hề nhỏ.
Thứ nhất, để được trở thành nhà cung cấp sản phẩm cho các tập đoàn bán lẻ hàng đầu thế giới, nhà sản xuất Việt Nam sẽ phải điều chỉnh hàng loạt các kế
hoạch sản xuất của mình để có thể cho ra những sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Những tiêu chuẩn này chắc chắn sẽ khắt khe hơn những tiêu chuẩn mà
trong nước đang áp dụng.
54 54
Thứ hai, các nhà bán lẻ nước ngoài khi vào Việt Nam có thể sẽ mang theo hàng hóa từ các nhà cung cấp độc quyền và lâu năm của họ từ nước ngồi. Những
hàng hóa này chưa tính đến khả năng được bán với giá thấp hơn sản phẩm cùng loại sản xuất trong nước thì hồn tồn có thể vượt trội về chất lượng, mẫu mã, bao
bì. Do đó, sản phẩm xuất xứ nội địa sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh khá gay gắt và có thể sẽ đánh mất thị phần.
Thứ ba, nếu các nhà sản xuất nội địa có thể trở thành nhà cung cấp cho các chuỗi cửa hàng bán lẻ hiện đại thuộc sở hữu của các doanh nghiệp nước ngoài,
nguy cơ bị các doanh nghiệp này chèn ép không thể không tính đến. Các tập đồn bán lẻ ln mong muốn hàng hóa bán trong chuỗi các cửa hàng của mình có giá cả
cạnh tranh nhất. Vì vậy, họ sẽ tận dụng tối đa ưu thế và tiềm lực tài chính của mình để gây sức ép lên nhà cung cấp bằng việc ký kết các hợp đồng dài hạn với
giá cả thường bị cố định, khó thay đổi. Bên cạnh đó, nhà sản xuất Việt Nam nói chung đều thiếu kinh nghiệm trên thị trường quốc tế và năng lực khởi kiện khá hạn
chế. Do đó họ khó có thể bảo vệ quyền lợi của mình trên thị trường trước các nhà bán lẻ hùng mạnh.

Đối với người tiêu dùng
Mặc dù cơ hội tiếp cận với nguồn hàng phong phú hơn, giá cả cạnh tranh và ổn định hơn là không thể phủ nhận, nguy cơ từ việc mở cửa là hồn tồn có thể
xảy ra. Người Việt Nam từ trước đến nay vẫn coi trọng những giá trị truyền thống phương Đơng. Trong khi đó, các tập đồn bán lẻ toàn cầu đang lên kế hoạch xâm
nhập thị trường Việt Nam chủ yếu đến từ Bắc Mỹ và Tây Âu. Khi hoạt động ở Việt Nam họ sẽ liên tục giới thiệu những mặt hàng mới, kể cả những mặt hàng chỉ phù
hợp với lối sống phương Tây nên khó tránh khỏi ảnh hưởng đến xã hội Việt Nam, tác động tiêu cực và làm mờ đi những giá trị truyền thống hàng ngàn năm của
người Việt. 3. Thuận lợi và khó khăn trong tương lai
3.1 Thuận lợi
55
3.1.1 Tốc độ tăng dân số cao, cơ cấu dân số trẻ, sức mua lớn

Tốc độ tăng dân số
Việt Nam là quốc gia có số dân đơng thứ ba trong khu vực ASEAN và đứng thứ 13 thế giới. Dân số Việt Nam theo thống kê vào tháng 4 năm 2009 đã ở mức
trên 85,7 triệu người. Trong thời kỳ 10 năm từ 1999 đến 2002 dân số Việt Nam tăng trung bình 1,2năm. Dù trong thời gian gần đây dân số Việt Nam đã có
những dấu hiệu tăng trưởng chậm lại so với 50 năm cuối thế kỷ 20 song vẫn cao hơn tỷ lệ tăng dân số thế giới 1,16 hàng năm Tổng cục thống kê 2009.
Cùng với việc dân số tăng lên hàng năm, tốc độ đô thị hóa cũng đang diễn ra ở Việt Nam khá mạnh mẽ, tốc độ trung bình năm 2007 và 2008 đều ở mức trên
2,5. Chúng ta có thể thấy rõ hiện tượng gia tăng dân cư thành thị qua biểu đồ sau:
Biểu đồ III.1: số lượng dân cư sống ở các đô thị lớn ở Việt Nam 2004-2009
Nguồn: Tổng cục thống kê 2009

Cơ cấu dân số
Theo số liệu từ Tổng cục thống kê, Việt Nam vẫn là một nước có dân số trẻ: dân số trong độ tuổi lao động cả nước là 55 triệu người. Vì vậy, so với một số
quốc gia khác trong cùng châu lục như Singapo hay Nhật Bản, sức mua của dân số Việt Nam được đánh giá cao hơn và đầy tiềm năng. Bên cạnh đó, tỷ lệ dân số Việt
Nam biết chữ thuộc vào khoảng 98, đây là một trong những tỷ lệ cao nhất thế giới. Điều này khá thuận lợi cho các doanh nghiệp bán lẻ hoạt động trên thị trường
Việt Nam trong việc thực hiện các chiến lược marketing, quảng cáo, xúc tiến mua hàng.

Sức mua hàng hóa
Thu nhập khả dụng của người dân Việt Nam liên tục tăng với tốc độ trung bình 7năm trong những năm gần đây và được ước tính sẽ tiếp tục tăng trong
56 56
những năm tới. Sự tăng trưởng của thu nhập khả dụng tính theo đầu người của người Việt Nam đã khiến sức mua của người dân nói chung tăng.
Bên cạnh đó, thu nhập khả dụng tăng cũng kéo theo chi tiêu của người dân vào các loại hàng hóa bán lẻ cũng tăng mạnh, tạo đà tăng cho thị trường bán lẻ.
Theo dự báo, chi tiêu của người Việt Nam từ nay đến năm 2012 sẽ tăng khoảng gần 15năm. Sự gia tăng về thu nhập khả dụng tính trên đầu người và chi tiêu
của người dân Việt Nam nói chung giai đoạn 2002-2012 sẽ được biểu hiện rõ qua biểu đồ sau:
Biểu đồ III.2
: Thu nhập khả dụngđầu người và chi tiêu người dân Việt Nam 2002-2012
Nguồn: RNCOS 2008, tr.12-13 3.1.2 Kinh tế tăng trưởng nhanh bậc nhất khu vực và trên thế giới
Việt Nam liên tục dẫn đầu châu Á và trên thế giới về tốc độ tăng trưởng kinh tế. Dự báo trong thời gian tới, GDP của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trưởng trên
5. Việt Nam cũng là một trong số các nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế
2008 sớm nhất. Theo bảng xếp hạng các thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất của A.T.Kearney dựa vào GRDI, trong suốt khoảng thời gian 5 năm trở lại đây, Việt
Nam ln có mặt trong top 30. Đặc biệt năm 2008, thị trường bán lẻ Việt Nam được đánh giá số 1. Mặc dù năm 2009, thứ tự về trong bảng xếp hạng của thị
trường Việt Nam bị giảm xuống vị trí thứ 6 song các nhà đầu tư thế giới vẫn đánh giá rất cao về thị trường bán lẻ của Việt Nam. Ngoài những nguyên nhân như lòng
tin của người tiêu dùng, mức độ mở cửa của thị trường thì mức độ tăng trưởng và tính ổn định của nền kinh tế khiến các nhà đầu tư giữ được niềm tin khi quyết định
xâm nhập thị trường Việt Nam. Doanh thu bán lẻ hàng hóa dịch vụ của Việt Nam cũng không ngừng tăng
lên trong thời gian qua. Trong đó doanh thu từ ngành bán lẻ thực phẩm tăng mạnh
57
nhất, khoảng 12năm trong khoảng thời gian từ 2003-2008. Doanh thu từ thị trường bán lẻ của Việt Nam năm 2008 tương đương hơn 40 GDP danh nghĩa của
cả nước RNCOS 2008, tr.27 và tỷ lệ này được xếp vào loại cao trong khu vực châu Á, cao hơn cả Trung Quốc và Thái Lan, hai quốc gia có thị trường bán lẻ
tương đối phát triển. Các tổ chức kinh tế tồn cầu và các cơng ty phân tích thị trường lớn nhất trên thế giới đều đưa ra những dự báo đầy lạc quan về thị trường
bán lẻ Việt Nam. Công ty RNCOS cho rằng doanh thu bán lẻ của Việt Nam có thể đạt mức 85 tỷ đơ la Mỹ vào năm 2012 còn phòng Thương mại của Liên minh châu
Âu Eurocham cũng dự báo thị trường bán lẻ Việt Nam sẽ tăng trên 50 trong khoảng 4-5 năm nữa.
3.1.3 Tập quán tiêu dùng thay đổi theo hướng hiện đại Người tiêu dùng Việt Nam nói chung vẫn giữ những thói quen tiêu dùng
truyền thống. Đối với mặt hàng lương thực, thực phẩm, họ thích đi chợ hàng ngày để mua thực phẩm cho gia đình mình. Một tỷ lệ khá lớn người Việt Nam vẫn thích
mua sắm ở các chợ hay cửa tạp hóa nhỏ do sự thuận lợi về giao thông, tiết kiệm thời gian hoặc do mối quan hệ với người bán hàng. Trên thị trường Việt Nam, các
thực phẩm tươi sống được ưa thích hơn thực phẩm đã qua chế biến do quan niệm về hàm lượng dinh dưỡng, độ “tươi” và đảm bảo của thực phẩm. Một nguyên nhân
nữa khiến nhiều người Việt Nam vẫn giữ thói quen mua thực phẩm tươi hàng ngày là tỷ lệ các hộ gia đình có điều kiện sử dụng tủ lạnh và lò vi sóng còn khá khiêm
tốn: chỉ khoảng 13 hộ gia đình sống ở các đơ thị có lò vi sóng GAIN 2010, tr3- 11.
Đối với mặt hàng phi thực phẩm, người Việt Nam vẫn giữ thói quen mua sắm tại các cửa hàng tư nhân nhỏ nằm trên các khu phố mua sắm ở các đô thị lớn.
Nguyên nhân cũng ở sự thuận lợi về giao thông và đặc biệt là ưu thế về giá cả so với hàng hóa bán ở các trung tâm mua sắm lớn.
Tuy nhiên, những năm gần đây, xu hướng tiêu dùng của người Việt Nam ở thành thị đã xuất hiện những thay đổi theo hướng tiếp nhận phong cách mua sắm
hiện đại xuất phát từ những nguyên nhân sau:
58 58
Thứ nhất, mặc dù thu nhập trung bình của quốc gia vẫn ở mức thấp song thu nhập khả dụng của người dân, đặc biệt là dân cư sống ở các thành phố lớn tăng
lên đáng kể. Điều này khiến họ không chỉ đặt mục tiêu giá cả lên đầu mà ngày càng quan tâm đến chất lượng hàng hóa và dịch vụ khi đi mua sắm.
Thứ hai, lo ngại về vệ sinh an toàn thực phẩm ngày càng gia tăng sau một loạt những phát hiện của cơ quan nhà nước có chức năng về các loại hàng hóa bán
ở các chợ hay cửa hàng tư nhân. Bên cạnh đó, nạn hàng giả, kém chất lượng cũng ảnh hưởng đến một tỷ lệ không nhỏ người tiêu dùng khiến họ ngày càng nhận thức
được những lợi thế của việc mua sắm trong các khu bán lẻ hiện đại Thứ ba, cũng giống như các xã hội châu Á nói chung, người tiêu dùng ở
Việt Nam ngày càng có xu hướng giảm bớt thời gian mua sắm. Vì vậy, việc có thể mua được hàng loạt hàng hóa khác nhau ở cùng một địa điểm thu hút ngày càng
nhiều khách hàng. Thứ tư, người tiêu dùng Việt Nam đang có xu hướng mua sắm kết hợp giải
trí cùng gia đình. Các khu thương mại với các tiện ích khác kèm theo như khu đồ ăn nhanh, khu vui chơi cho trẻ em, hay thậm chí là các nhà hàng sang trọng là sự
lựa chọn của một số lượng ngày càng tăng người Việt Nam mỗi dịp cuối tuần. Thứ năm, quyết định mua sắm của người Việt Nam bị chi phối nhiều bởi
các chương trình quảng cáo hay khuyến mại, đặc biệt là đối tượng khách hàng thanh thiếu niên. Về khía cạnh này, các cửa hàng mua sắm hiện đại luôn đi trước
các cửa hiệu truyền thống nên đã giành được thị phần tăng đáng kể. 3.2 Khó khăn

3.2.1 Thị trường thiếu quản lý


Quá trình quản lý của Nhà nước về thị trường bán lẻ nói chung vẫn tồn tại nhiều thiết sót và bất cập.
Đối với hệ thống bán lẻ truyền thống, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tỏ ra khá yếu kém trong việc quản lý cũng như quy hoạch. Chất lượng hàng hóa
bán trong những khu chợ hay cửa hàng tư nhân, tiệm tạp hóa vẫn đang bị thả nổi.
59
Chế tài xử phạt các hành vi vi phạm quyền lợi người tiêu dùng vẫn chưa đủ mạnh, phần lớn chỉ mang tính răn đe nên khơng thể phát huy hiệu quả trong việc điều
chỉnh thị trường. Tình trạng thiếu những quy hoạch cụ thể về hệ thống bán lẻ truyền thống đã khiến hình thức này phát triển khá lộn xộn, các cơ sở kinh doanh
tồn tại tự phát, ảnh hưởng đến giao thông và kiến trúc đô thị. Về các loại hình tổ chức thương mại hiện đại,
Quy chế siêu thị, trung tâm
thương mại kèm theo Quyết định số 13712004QĐ-BTM của Bộ trưởng Bộ
Thương mại nay là Bộ Công thương về trung tâm thương mại và siêu thị mặc dù đã được ban hành từ năm 2004 song những quy định chủ yếu vẫn mang tính
hình thức và khơng sát thực tế. Bên cạnh đó, do tính đặc thù của một quy chế nên khơng có bất cứ chế tài xử phạt nào đối với doanh nghiệp có hành vi vi phạm.
Trong tình hình tốc độ phát triển của thị trường Việt Nam theo hướng hiện đại hóa ngày càng tăng với sự xuất hiện của ngày càng nhiều mơ hình bán lẻ mới như cửa
hàng giảm giá, cửa hàng tiện ích, đại siêu thị, Quy chế đang tỏ ra lạc hậu, không theo kịp thực tế.
Về việc mở cửa cơ sở thứ hai của các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài, Việt Nam đã quy định các doanh nghiệp phải chịu sự chi phối của ENT Kiểm tra nhu
cầu kinh tế. ENT được hiểu là việc cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào tình hình thực tế để xem xét việc cấp phép cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi.
Trong khn khổ WTO, theo GATS, ENT được xây dựng dựa trên 3 tiêu chí: số lượng các nhà bán lẻ trên một khu vực địa lý cụ thể; sự ổn định của thị trường; quy
mô địa lý của khu vực dân cư. Tuy vậy, đến thời điểm này, sau ngày 112009 hơn một năm, Việt Nam vẫn
chưa có hướng dẫn cụ thể nào về ENT và cũng khơng đưa ra các tiêu chí cụ thể để áp dụng ENT trong các văn bản pháp quy. Bên cạnh đó, một số khái niệm như
điểm bán lẻ, phân định rõ ENT và phân vùng địa lý hay đơn vị bán lẻ, người tiêu dùng cuối cùng cũng chưa được xác định cụ thể. Vì vậy, các doanh nghiệp khi
muốn hoạt động ở Việt Nam phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, phức tạp do
60 60
khơng biết dựa vào những tiêu chí nào. Bản thân các cơ quan có thẩm quyền cũng rất lúng túng trong cơng tác quản lý, hoạch địch chính sách.
Ngồi ra, trên thị trường bán lẻ Việt Nam, các hoạt động MA hay nhượng quyền thương mại đang diễn ra rất sôi động nhưng rất hiếm hoặc gần như khơng
có những luật, quy định cụ thể, chặt chẽ. Việc này đã tạo điều kiện khiến nhiều doanh nghiệp dễ dàng lợi dụng kẽ hở để thực hiện các hành vi nhằm giành thị
phần một cách thiếu minh bạch, cạnh tranh không công bằng. 3.2.2 Lạm phát
Một trong những vấn đề đáng lo ngại trên thị trường Việt Nam chính là tình trạng lạm phát bất thường. Việt Nam là một trong những nước trên thế giới thoát
khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế 2008 sớm nhất. Tuy nhiên, rất nhiều nhà kinh tế dự báo nguy cơ lạm phát quay trở lại. Điều này càng thể hiện rõ ràng sau khi những
con số về tỷ lệ tăng CPI được công bố. Năm 2009, CPI của Việt Nam tăng 6.88 so với năm 2008. Quý 1 năm 2010, chỉ số này đã tăng tới 4,12 Tổng cục Thống
kê 2010. Chỉ số giá tiêu dùng CPI liên tục tăng trong năm 2009 đã khiến khơng ít
nhà đầu tư do dự khi tiến hành hoạt động kinh doanh tại thị trường Việt Nam. Nguyên nhân khiến giá cả leo thang không thể không kể đến sự yếu kém của các
cơ quan có thẩm quyền trong việc điều hành giá cả. Tình trạng này dẫn đến việc những nhà cung cấp tự ý nâng giá sản phẩm đầu ra trong khi giá cả trên thế giới
hay giá nguyên vật liệu đầu vào tương đối ổn định là một tình trạng khá phổ biến trên thị trường bán lẻ Việt Nam, đặc biệt đối với các loại hàng hóa tiêu dùng hàng
ngày của người dân. Đáng lo ngại hơn, khi giá cả biến động, không chỉ hàng hóa bán trong các khu chợ truyền thống hay cửa hàng tư nhân nhanh chóng tăng theo
mà cả hàng hóa bán trong siêu thị của Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế chung.
Nguy cơ lạm phát tăng cao gây nhiều bất lợi trong việc thu hút nhà đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực bán lẻ. Các nhà bán lẻ lớn từ nước ngoài thường theo
61
đuổi chiến lược cạnh tranh về giá. Họ luôn cam kết đưa đến cho khách hàng của mình lượng hàng hóa với giá cả ổn định trong một khoảng thời gian dài. Vì vậy, ở
thị trường mà giá cả liên tục thay đổi theo chiều hướng tăng lên, họ không thể ngay lập tức điều chỉnh giá bán của mình vì hành động đó sẽ ảnh hưởng tới uy tín
kinh doanh của các cơ sở bán lẻ. Do đó, doanh thu của những nhà bán lẻ này có nhiều khả năng sẽ bị sụt giảm. Đây là lý do các nhà bán lẻ thường ưu tiên những
thị trường có nguồn cung dồi dào, giá cả ổn định để ít xảy ra việc phải liên tục thay đổi chiến lược kinh doanh ảnh hưởng tới lợi nhuận của mình.
3.2.3 Mặt bằng bán lẻ: giá thuê cao, nguồn cung chưa dồi dào Vấn đề mặt bằng bán lẻ luôn là vấn đề được quan tâm nhiều nhất đối với
bất cứ nhà bán lẻ nào, cả nước ngồi lẫn trong nước khi có dự định thâm nhập thị trường bán lẻ ở bất cứ quốc gia nào. Để bắt đầu cơng việc kinh doanh của mình,
tính tốn đầu tiên của một doanh nghiệp sẽ dành cho việc tìm kiếm vị trí đặt cơ sở phù hợp với mức kinh phí đã định sẵn. Đặc biệt ở Việt Nam, nơi mật độ dân số ở
các thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là khoảng trên 2000- 3000 ngườikm vuông, gấp đến 100 lần mật độ chuẩn trên thế giới thì vấn đề tìm
mặt bằng kinh doanh luôn là vấn đề số một với bất cứ doanh nghiệp nào. Tổng diện tích mặt bằng bán lẻ của thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội tính
đến nay khoảng 400.000m
2
, trong đó thành phố Hồ Chí Minh chiếm hơn 230.000m
2
với 18 trung tâm thương mại. Tuy nhiên, con số này chưa đáp ứng đủ nhu cầu Ca, Hảo 2009. Nguồn cung chưa đáp ứng đủ cầu là nguyên nhân đẩy giá
cho thuê ở các trung tâm thương mại, đặc biệt là ở những khu trung tâm thành phố lên cao. Biểu đồ sau so sánh mức giá th trung bìnhmét vng và giá thuê cao
nhấtmét vuông ở các trung tâm thương mại ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh với một số thành phố khác trong khu vực.
62 62
Biểu đồ III.3: Mức giá thuê trung bìnhm2tháng và mức giá thuê cao nhấtm2tháng mặt bằng bán lẻ tại các trung tâm thương mại ở một số
thành phố châu Á.
Nguồn: CBRE Việt Nam 2008, tr.18 Có thể thấy giá thuê trung bình ở hai thành phố lớn nhất Việt Nam còn cao
hơn ba thành phố trong khu vực ASEAN là Bangkok Thái Lan, Manila Philipin và Jakarta Indonesia. Mức thuê trung bình ở hai thành phố chính là Hà Nội và
thành phố Hồ Chí Minh đều nằm trên mức 60m2tháng trong khi một số siêu thị trên địa bàn hai thành phố này thì với mức giá trên 25m2tháng họ đã khó kinh
doanh có lãi Ca, Hảo 2009. Theo những thống kê của công ty CBRE, một trong những công ty hàng
đầu về tư vấn, quản lý bất động sản trên thế giới, thị trường Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh hiện đang xuất hiện tình trạng dư cung mặt bằng bán lẻ hạng A trong
khi lại thiếu trầm trọng mặt bằng hạng B và C. Cũng theo công ty này, phải đến năm 2013-2014 thì cung và cầu về bất động sản dành cho bán lẻ mới có thể đạt
mức cân bằng và giá thuê mới có hy vọng sẽ giảm xuống. Điều đó có nghĩa là nhiều khu vực trung tâm thương mại hạng nhất, sang trọng sẽ tiếp tục được xây
dựng và bỏ không trong khi các doanh nghiệp bán lẻ vẫn gặp khó khăn trong việc tìm cơ sở đặt các cửa hàng bán lẻ của mình.
Mặc dù giá thuê cao, các trung tâm thương mại ở nước ta thường không đạt đủ những tiêu chuẩn quốc tế về chỗ đỗ phương tiện, tỷ lệ tối thiểu diện tích cây
xanhtổng diện tích sàn, thiết bị chống cháy, nhà vệ sinh. Có thể lấy ví dụ như khu trung tâm thương mại Vincom và Diamond Plaza, hai khu này được coi là hai
trung tâm lớn và hiện đại nhất thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, diện tích dành cho bãi đỗ xe ở hai khu này khá hạn chế. Vào những đợt đông khách đến
mua sắm, bãi đỗ xe thường ở vào tình trạng quá tải và nhiều khách bị từ chối giữ xe. Đây sẽ là lý do khiến nhiều tập đồn bán lẻ nước ngồi sẽ phải trì hỗn kế
hoạch xâm nhập thị trường bán lẻ của Việt Nam vì khơng thể tìm được địa điểm kinh doanh phù hợp với quy mơ thương hiệu của mình.
63
Ngồi ra, việc xin giấy phép xây dựng cũng gặp nhiều khúc mắc. Quy trình giải phóng mặt bằng ở Việt Nam nói chung còn nhiều bất cập. Q trình xin cấp
đất, cấp phép xây dựng thường khá phức tạp, tốn kém thời gian, cơng sức cho nhà đầu tư.
II. NHĨM KIẾN NGHỊ NHẰM PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM
Mặc dù quá trình mở cửa thị trường bán lẻ sẽ gây một số tác động tiêu cực lên các chủ thể trên thị trường song những lợi ích từ một thị
trường tự do đem lại lớn hơn nhiều lần. Tự do hóa thương mại trong đó bao gồm việc tạo điều kiện cho những nhà bán lẻ nước ngoài thực
hiện các hoạt động đầu tư không bị hạn chế là một xu thế tất yếu của tất cả các nền kinh tế phát triển trên thế giới. Đó cũng là cơ hội cho
nhà bán lẻ trong nước có cơ hội cạnh tranh trên một sân chơi rộng lớn và bình đẳng hơn. Để có thể tận dụng tối đa những ảnh hưởng tích cực
đồng thời giảm thiểu mặt hạn chế từ quá trình mở cửa thị trường bán lẻ, Nhà nước cần phát huy vai trò tối quan trọng của mình. Một mặt,
Nhà nước cần thực hiện đầy đủ những cam kết mở cửa theo đúng lộ trình gia nhập WTO và hội nhập vào xu thế phát triển chung của nền
thương mại toàn cầu. Tuy nhiên quá trình mở cửa phải thực hiện từng bước, khơng nên nóng vội dễ dẫn đến những thất bại như trường hợp
của Thái Lan. Mặt khác, Nhà nước cũng cần thể hiện rõ vai trò tích cực trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước khắc phục những
điểm yếu còn tồn tại nhằm đứng vững trong tình hình mới. Những giải pháp mang tính vĩ mơ từ Chính phủ và Nhà nước sẽ khơng thể có tác
dụng nếu thiếu sự đồng thuận và hành động quyết liệt từ phía các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam. Bản thân các doanh nghiệp này phải
không ngừng nâng cao khả năng phân tích nắm vững tình hình và nhanh chóng có thực hiện những thay đổi về mặt cơ cấu, tổ chức cũng
64 64
như chiến lược kinh doanh nhằm thích nghi với thị trường đổi mới. Tôi xin đưa ra nhóm giải pháp cho Nhà nước và các doanh nghiệp như sau:
1. Nhóm giải pháp từ phía Nhà nước 1.1 Giữ ổn định về kinh tế, chính trị
Nền kinh tế Việt Nam vẫn được đánh giá là một trong những nền kinh tế ổn định nhất thế giới. Đây là một trong những yếu tố được nhà đầu tư nước ngồi
quan tâm nhất khi quyết định rót vốn đầu tư vào bất cứ thị trường nào. Do vậy trong thời gian tới, Nhà nước cần tiếp tục giữ vững ổn định nền chính trị để giữ
được niềm tin của nhà đầu tư. Bên cạnh đó, Nhà Nước cần điều chỉnh vai trò của mình trong việc điều tiết
nền kinh tế. Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Một trong những ưu điểm là Nhà nước có thể tham gia quản lý kinh tế. Tuy
nhiên, nhược điểm là nền kinh tế thường chậm trễ đón nhận những xu hướng chung trên thế giới. Vì vậy trong thời gian tới, Chính phủ cần thể hiện vai trò của
mình trong việc nhanh chóng phản ứng trước biến động tình hình kinh tế thế giới. Qua đó, Chính phủ có thể ban hành những chính sách tài khóa-tiền tệ phù hợp, tạo
điều kiện cho nền kinh tế vận hành theo những quy luật của thị trường đồng thời vẫn có thể duy trì sự ổn định của toàn nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.
1.2 Hoàn thiện khung pháp lý về thương mại Trước khi ra quyết định đầu tư vào bất cứ lĩnh vực nào, nhà đầu tư nước
ngoài hay trong nước đều phải dành thời gian và công sức nghiên cứu những luật, quy định, thủ tục liên quan. Vì vậy, nếu Việt Nam có những bộ luật hồn chỉnh,
minh bạch, cơng khai sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư tìm đến với thị trường hơn. Hiện nay, Nhà nước đang cố gắng đơn giản hóa thủ tục hành chính, nhiều cấp, Bộ,
ngành đã thực thi quy chế một cửa nhằm tạo thuận lợi tối đa cho các doanh nghiệp trong quá trình hồn thiện các thủ tục hành chính trước cũng như trong suốt quá
trình kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, có thể nói rằng các cơ quan hành chính của Việt Nam vẫn làm việc chưa thực sự hiệu quả, gây khó khăn cho
65
doanh nghiệp trong và ngồi nước. Vì vậy, trong thời gian tới, Nhà nước cần đẩy mạnh quá trình cải cách về mặt hành chính, rút ngắn thời gian cũng như thủ tục
giấy tờ cấp phép đầu tư, kinh doanh. Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền cần nhanh chóng ban hành những
quy chế, quy định mới về thị trường bán lẻ, những mơ hình kinh doanh hiện đại thay thế cho quy chế cũ đang ngày càng tỏ ra khơng còn phù hợp. Sau khi thị
trường bán lẻ được mở cửa theo đúng cam kết của Việt Nam trong WTO, trên thị trường chắc chắn sẽ xuất hiện những hệ thống bán lẻ mới ngoài trung tâm mua
sắm và hệ thống siêu thị. Những luật, quy định mới không chỉ hỗ trợ cho Nhà nước trong việc quản lý thị trường mà còn góp phần bảo vệ doanh nghiệp trong
nước. Về vấn đề bảo vệ người tiêu dùng, hiện ở Việt Nam chưa có bộ luật thống
nhất nào quy định về quyền của người tiêu dùng. Điều này là hết sức bất lợi trong tình hình thị trường có nhiều diễn biến phức tạp. Chính phủ cần nhanh chóng xây
dựng và đưa vào thực thi những Luật, quy định phù hợp nhằm đảm bảo quyền lợi tối đa cho người tiêu dùng Việt Nam.
Ngồi ra, Chính phủ cũng cần liên tục sửa đổi các bộ luật liên quan như Luật Doanh nghiệp, Luật Cạnh tranh, Luật Sở hữu trí tuệ cho phù hợp với tình
hình, giảm thiểu tình trạng nhiều bộ luật chồng chéo, điều chỉnh khác nhau cho cùng một vấn đề gây khơng ít hiểu lầm cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Chính phủ
cũng cần khẩn trương soạn thảo những quy định điều chỉnh các hình thức kinh doanh mới trên thị trường bán lẻ hiện đại như nhượng quyền, mua lại và sáp nhập,
… Nhằm giải quyết những khó khăn về mặt bằng, Chính phủ cần hồn thiện
Luật Đất đai và minh bạch hóa những dự án quy hoạch theo địa phương, vùng miền nhằm rút ngắn thời gian giải phóng mặt bằng, tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp bán lẻ tìm được những địa điểm kinh doanh phù hợp.
66 66
Về vấn đề ENT, Chính phủ cần thúc giục cũng như hỗ trợ các địa phương trong việc hoàn thiện những quy định liên quan theo tinh thần phù hợp với những
cam kết với WTO. Mục đích là giúp các địa phương khơng gặp khó khăn hay chậm trễ trong quá trình cấp phép cho nhà đầu tư nước ngoài trong việc mở các cơ
sở bán lẻ sau cơ sở thứ nhất. Việc này đòi hỏi Chính phủ cùng các địa phương phải rà soát những đặc điểm kinh tế của từng vùng miền để đảm bảo đưa ra những tiêu
chí phù hợp với sự phát triển của thị trường bán lẻ, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các nhà bán lẻ và hỗ trợ được nhà bán lẻ nội địa.
1.3 Thực hiện các biện pháp điều hành, giám sát thị trường bán lẻ, hoàn thiện các chế tài xử phạt các hành vi cạnh tranh khơng lành mạnh và xâm phạm lợi ích
người tiêu dùng Nhà nước cần đẩy mạnh công tác giám sát, quản lý thị trường nhằm đảm
bảo các hoạt động kinh doanh diễn ra trong mơi trường cạnh tranh bình đẳng, hiện đại. Gần đây trên thị trường luôn xuất hiện các hành vi cạnh tranh thiếu lành mạnh
hay các chương trình khuyến mại, quảng cáo khơng phù hợp với thuần phong mỹ tục, truyền thống lâu đời của người Việt Nam. Nhà nước cần chặt chẽ kiểm tra
nhằm ngăn chặn mọi hành vi có thể gây ảnh hưởng xấu tới xã hội, đặc biệt là hành động tuyên truyền, kích động việc sử dụng những sản phẩm làm lệch hướng phát
triển của tầng lớp thanh thiếu niên. Hiện nay ngày càng xuất hiện những chiêu thức kinh doanh trục lợi của một
số doanh nghiệp bán lẻ gây phương hại đến người tiêu dùng như bán hàng nhái các thương hiệu nổi tiếng, mập mờ trong việc đính nhãn mác, thời hạn sử dụng sản
phẩm,.. Nhà nước cần thể hiện vai trò của mình trong việc loại bỏ những hành vi này nhằm đảm bảo người tiêu dùng được tiếp cận với các loại hàng hóa chất lượng
tốt, an tồn cho sức khỏe. Một trong những mối quan tâm nhất hiện nay của người dân là chất lượng các sản phẩm thực phẩm bày bán ở các chợ hay kể cả trong các
siêu thị lớn. Các Bộ, Ban, ngành liên quan cần đặt ra những tiêu chuẩn thống nhất trên cả nước về thực phẩm sạch. Đồng thời, Nhà nước cũng cần mạnh tay xử lý
những cơ sở vi phạm bằng những chế tài rõ ràng, hợp lý. Bên cạnh đó, các cơ quan
67
chức năng của nhà nước hay từng địa phương phải liên tục thanh kiểm tra chất lượng hàng hóa, đặc biệt là những loại hàng liên quan trực tiếp tới sức khỏe người
tiêu dùng ở các cơ sở bán lẻ thay vì chỉ tập trung vào một số tháng cao điểm và nới lỏng trong suốt thời gian còn lại.
1.4 Hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng cho hoạt động phân phối bán lẻ Một cản trở lớn khiến các nhà đầu tư nước ngoài do dự khi đầu tư vào thị
trường bán lẻ Việt Nam hay các nhà bán lẻ trong nước ngại ngần khai thác các thị trường mới là do hệ thống cơ sở hạ tầng của nước ta hiện nay nói chung lạc hậu và
nhiều nơi xuống cấp trầm trọng. Vì vậy, để phát triển thị trường bán lẻ Việt Nam, Chính phủ cần gấp rút đầu tư cải tạo các tuyến đường huyết mạch, tuyến quốc lộ,
xây mới cũng như sửa chữa cầu đường. Nhà nước có thể hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước bằng cách cho thuê đất làm kho bãi với giá ưu đãi hay xây sẵn những
hệ thống nhà kho hiện đại, diện tích lớn cho các doanh nghiệp bán lẻ vừa và nhỏ thuê trong thời gian dài nhằm hỗ trợ doanh nghiệp trong việc dự trữ nguồn hàng.
Để giúp hoạt động của các doanh nghiệp bán lẻ được diễn ra thuận lợi, bên cạnh đầu tư vào hạ tầng đường xá, kho bãi, Nhà nước cần phải đảm bảo hệ thống
điện nước, viễn thông được triển khai rộng khắp. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc khuyến khích các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam mở rộng hoạt động
xuống các vùng nông thôn hay vùng miền núi xa xơi. Nó còn giải quyết được vấn đề phát triển không cân xứng giữa các vùng miền, tăng cơ hội tiếp cận với nguồn
hàng hóa đa dạng cho người dân nông thôn và do vậy nâng cao cuộc sống người dân ở những vùng xa đô thị.
Ngoài ra, Nhà nước cần tăng cường việc xây dựng các khu triển lãm, hội chợ với diện tích lớn, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam tiếp cận
người tiêu dùng, quảng bá thương hiệu của mình trên thị trường nội địa và tìm kiếm được cơ hội kinh doanh tiềm năng.
68 68
1.5 Hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước, hướng dẫn, khuyến khích người tiêu dùng hướng tới hàng sản xuất trong nước
Sau khi trở thành thành viên chính thức của tổ chức Thương mại Thế giới WTO, Việt Nam không được phép bảo hộ những ngành mà WTO quy định cho các
quốc gia thành viên phải mở cửa hồn tồn. Vì vậy, Chính phủ Việt Nam không thể bảo hộ các doanh nghiệp bán lẻ trong nước hay phân biệt đối xử với các doanh
nghiệp đến từ các nước khác. Tuy nhiên Chính phủ vẫn có thể hỗ trợ các doanh nghiệp dưới nhiều hình thức khác nhau giúp doanh nghiệp nắm được những quy
định, bộ luật mới hay tiếp cận với các thị trường kinh doanh phát triển trên thế giới.
Để tăng cường hiểu biết pháp luật quốc tế của các doanh nghiệp bán lẻ trong nước, Chính phủ có thể mở các cuộc hội đàm, hội thảo hay các buổi nói
chuyện trong đó mời các chuyên gia đầu ngành làm chủ tọa về các vấn đề liên quan đến luật quốc tế hay những cam kết trong khuôn khổ WTO mà Việt Nam
đang và sẽ áp dụng. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng có thể xây dựng các cổng thơng tin điện tử tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong cùng ngành trao đổi kinh
nghiệm, nâng cao hiểu biết về lĩnh vực mà họ đang kinh doanh cũng như giới thiệu những thay đổi về chính sách, luật pháp liên quan. Chính phủ cũng có thể khuyến
khích các doanh nghiệp bán lẻ mở rộng hoạt động về các vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa thông qua các ưu đãi về thuế.
Đối với người tiêu dùng, Chính phủ cũng có thể tác động khuyến khích họ sử dụng hàng hóa sản xuất tại Việt Nam cũng như đi mua sắm tại các siêu thị Việt
Nam. Rút kinh nghiệm từ thành cơng của các chương trình “Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam”, Nhà Nước có thể thiết kế những kế hoạch mới nhằm hướng
người dân Việt Nam tới những cửa hàng bán lẻ do doanh nghiệp Việt Nam làm chủ.
2. Nhóm giải pháp từ phía các doanh nghiệp bán lẻ của Việt Nam 2.1 Tận dụng và phát huy lợi thế trên thị trường nội địa, hiểu biết rõ về thị trường
và người tiêu dùng trong nước
69
Không thể phủ nhận các doanh nghiệp nước ngoài khi xâm nhập vào thị trường bán lẻ Việt Nam sở hữu rất nhiều lợi thế cạnh tranh vượt trội như tiềm lực
tài chính, kinh nghiệm hoạt động quốc tế hay trang thiết bị công nghệ, quản lý tối tân, .v.v. Tuy nhiên không phải nhà bán lẻ tồn cầu nào cũng có thể chiến thắng
các nhà bán lẻ nội địa vì trên thực tế, nhà bán lẻ nội địa cũng có những ưu thế đáng kể trên sân nhà.
Các nhà bán lẻ Việt Nam có nguồn kiến thức khá vững vàng về khách hàng mục tiêu của mình. Họ hồn tồn có khả năng tìm hiểu và nghiên cứu về truyền
thống văn hóa cũng như những thị hiếu, phong cách tiêu dùng của người dân Việt Nam. Trong hoạt động kinh doanh, việc hiểu biết sâu sắc văn hóa của thị trường
mình đang đầu tư là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại. Nguyên nhân đại gia bán lẻ Wal-mart phải tuyên bố rút khỏi thị trường Hàn Quốc là vì tập đồn
này khơng thay đổi phương cách kinh doanh phù hợp với tập quán thị trường nội địa. Do đó, các doanh nghiệp Việt Nam cần giữ vững và khai thác triệt để lợi thế
này của mình. Trong quá trình hoạt động mở rộng thị trường, các doanh nghiệp cần chú ý xây dựng các chính sách sản phẩm hay tiếp cận khách hàng phù hợp với
truyền thống sinh hoạt, tập quán, tín ngưỡng của người dân Việt Nam. 2.2 Nhạy bén nắm bắt thông tin, điều chỉnh theo những biến động thị trường
Các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam đang xây dựng chiến lược kinh doanh của mình theo hướng tập trung vào các cửa hàng bán lẻ hiện đại, và trong tương lai
có thể mở rộng hoạt động sang các nước trong khu vực và trên thế giới. Vì vậy, khả năng nắm bắt thơng tin trên thị trường sẽ đóng vai trò là một trong những yếu
tố quan trọng quyết định sự thành công của doanh nghiệp. Trong tình hình thị trường bán lẻ trong nước cũng như trên thế giới liên tục
biến động, doanh nghiệp nào có được thơng tin nhanh nhất và chính xác nhất, doanh nghiệp đó sẽ vượt lên những doanh nghiệp khác và hội nhập được vào xu
thế chung. Ngược lại, những doanh nghiệp chậm trễ trong việc thu thập xử lý thơng tin sẽ nhanh chóng trở nên lạc hậu và tụt lại trong cuộc chơi ngày càng khốc
liệt.
70 70
Để có được thơng tin hữu ích nhất phục vụ trực tiếp cho quá trình hoạt động kinh doanh của mình, đầu tiên doanh nghiệp bán lẻ phải khôn khéo tiếp cận
người tiêu dùng. Nhờ đó, họ có thể hiểu được nhu cầu đang hiện hữu trên thị trường đồng thời cũng có thể dự báo những nhu cầu chưa xuất hiện nhưng rất có
tiềm năng. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp bán lẻ cũng cần phải chú trọng nghiên cứu tình hình lao động cũng như thu nhập của đối tượng khách hàng mục tiêu để
ra những quyết định phân phối đúng đắn. Ngoài việc tiếp cận người tiêu dùng, các doanh nghiệp bán lẻ cũng cần liên
tục thu thập thông tin về các doanh nghiệp cùng hoạt động trong ngành để có thể nắm được những chiến lược mở rộng mới của đối thủ cạnh tranh, về dịch vụ cũng
như chủng loại sản phẩm mà đối thủ của mình đang cung cấp cho khách hàng. Thơng qua đó, doanh nghiệp có thể phân tích những điểm mạnh, điểm yếu và có
thể tiếp thu những nét tiến bộ từ doanh nghiệp khác hay học tập từ những thất bại trên thị trường.
2.3 Đầu tư vào thiết lập, củng cố thương hiệu riêng, không ngừng mở rộng danh mục sản phẩm với chất lượng đảm bảo, giá cả cạnh tranh
2.3.1 Củng cố thương hiệu Một thương hiệu mạnh sẽ là động lực thúc đẩy sự phát triển của mỗi doanh
nghiệp, góp phần tạo dựng lợi thế cạnh tranh bền vững trên thị trường và gia tăng giá trị về mặt tài chính cho bản thân doanh nghiệp. Thương hiệu của doanh nghiệp
sẽ thể hiện đầy đủ bản sắc của doanh nghiệp, tạo hình ảnh khác biệt của doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác. Thành công trong việc xây dựng thương hiệu
là yếu tố quyết định sự thành công của bất cứ doanh nghiệp nào. Các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và doanh nghiệp bán lẻ nói riêng trong thời gian gần đây đã
nhận thức rõ hơn về vị trí của thương hiệu trong hoạt động kinh doanh của mình. Tuy nhiên, đầu tư vào việc xây dựng và quảng bá thương hiệu của họ vẫn còn ở
mức khiêm tốn. Vì vậy, trong thời gian tới, các doanh nghiệp bán lẻ cần tăng cường sự hiểu biết về tầm quan trọng của thương hiệu. Đồng thời, họ cần phải có
71
những chiến lược bảo vệ thương hiệu của mình trong bối cảnh Luật Sở hữu trí tuệ ở Việt Nam vẫn chưa được thực thi đầy đủ và nghiêm khắc.
2.3.2 Mở rộng danh mục hàng hóa, khách hàng mục tiêu Bên cạnh việc đầu tư củng cố phát triển thương hiệu của mình, các doanh
nghiệp cũng cần liên tục đổi mới, đa dạng hóa danh mục sản phẩm. Các trung tâm bán lẻ nước ngồi ln vượt trội về chủng loại hàng hóa rất phong phú, tạo điều
kiện cho khách hàng thỏa sức lựa chọn. Doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam phải nghiên cứu thị hiếu khách hàng, đáp ứng kịp thời đầy đủ nhu cầu xuất hiện trên thị
trường bằng việc đem đến những mặt hàng mới nhất, phong phú về mẫu mã, đa dạng về giá cả. Đặc biệt, các doanh nghiệp có thể mở rộng danh mục hàng hóa
bằng việc đưa vào giới thiệu nhiều mặt hàng xa xỉ, giá cao, chất lượng thượng hạng đáp ứng nhu cầu của một bộ phận dân cư giàu có ngày càng tăng trong xã
hội. Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng nên mở rộng đối tượng khách hàng mục tiêu thay vì chỉ tập trung vào một nhóm cụ thể. Các doanh nghiệp nên chú trọng hơn
tới tầng lớp khách hàng thanh thiếu niên độ tuổi dưới 20 vì phân đoạn này hiện đang xuất hiện phong cách tiêu dùng hiện đại, khối lượng tiêu dùng lớn và yêu cầu
thường không quá khắt khe. 2.3.3 Chú trọng đầu tư nghiên cứu đáp ứng kịp thời nhu cầu thị trường
Một điểm đáng chú ý là các doanh nghiệp bán lẻ cần nắm rõ tâm lý thích các chương trình khuyến mại, quảng cáo của khách hàng Việt Nam và liên tục đưa
ra các chương trình hấp dẫn. Chuỗi siêu thị Big C cứ mỗi 3 tuần lại đưa ra những tờ rơi quảng cáo rầm rộ cho hàng trăm mặt hàng giảm giá trong một thời điểm
nhất định. Giá cả của những mặt hàng này thậm chí còn thấp hơn những mặt hàng tương tự bán trong chợ truyền thống. Đây là một ví dụ điển hình mà các doanh
nghiệp Việt Nam nên tiếp thu. 2.4 Đào tạo đội ngũ nhân lực chuyên nghiệp, hiệu quả
Một trong những cách tốt nhất để tăng doanh thu từ hoạt động bán lẻ chính là thành công trong việc thiết lập các mối quan hệ bền chặt với khách hàng. Để có
72 72
thể giữ chân khách hàng, bên cạnh lợi thế cạnh tranh về giá cả và chất lượng, cung cách phục vụ của người bán hàng là yếu tố vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, dịch vụ
chăm sóc khách hàng của các doanh nghiệp Việt Nam như đã phân tích ở trên là một cản trở lớn giảm tính cạnh tranh của các doanh nghiệp này trong cuộc đua với
các tập đoàn bán lẻ khổng lồ dày dặn kinh nghiệm của thế giới. Chính vì vậy, tìm cách khắc phục điểm yếu này sẽ là chìa khóa giúp các doanh nghiệp Việt Nam cải
thiện được vị trí của mình trên thị trường. Thứ nhất, các doanh nghiệp Việt Nam nên xây dựng các chương trình tuyển
dụng lao động một cách khách quan, minh bạch nhằm tìm kiếm những người có năng lực thực sự, phù hợp với văn hóa doanh nghiệp, có tâm huyết với nghề và có
thể gắn bó lâu dài. Thứ hai, do hiện nay ở Việt Nam vẫn chưa có trường đại học hay cao đẳng
nào đào tạo chuyên nghiệp về nhân viên bán lẻ hay chăm sóc khách hàng nên sau tuyển dụng, việc cần thiết nhất là phải đầu tư cho quá trình đào tạo đội ngũ nhân
viên. Doanh nghiệp có thể mời những chuyên gia bán lẻ trong nước hay nước ngồi thiết kế các khóa học nâng cao kiến thức cơ bản cũng như chuyên sâu cho
nhân viên của mình tùy thuộc vào vị trí trong hệ thống bán lẻ. Điều quan trọng đầu tiên là phải hướng những nhân viên này thay đổi thái độ làm việc theo hướng lấy
khách hàng làm trung tâm. Những nhân viên có hiểu biết sâu rộng có khả năng giải đáp mọi thắc mắc khách hàng, trợ giúp khách hàng một cách nhiệt tình, niềm nở
trong quá trình mua sắm sẽ đóng vai trò trực tiếp khuyến khích nhiều khách hàng tìm đến cửa hàng và mua sắm nhiều hơn.
Thứ ba, vì những nhân viên có kinh nghiệm sẽ trở thành tài sản vơ cùng có giá trị đối với bất cứ doanh nghiệp hoạt động trong mọi lĩnh vực nên việc giữ chân
họ cùng có ý nghĩa rất lớn. Đặc biệt trong hồn cảnh hiện nay, các cơng ty ln tìm cách thu hút những nhân viên có tài bằng những chế độ hết sức hấp dẫn, nhất là
các doanh nghiệp nước ngồi. Trước tình hình đó, các doanh nghiệp Việt Nam cần khôn khéo giữ chân nhân viên lâu năm của mình bằng mức lương, thưởng hấp dẫn
và các chương trình đãi ngộ hợp lý.
73
2.5 Đẩy mạnh đầu tư, áp dụng công nghệ cao để quản lý mọi khâu của hoạt động kinh doanh
Cơng nghệ có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh cho bất cứ doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực nào. Đặc biệt trong tình hình cạnh tranh với các tập đồn bán lẻ
khổng lồ đang sử dụng những phần mềm quản lý bán hàng hiện đại nhất thế giới, các doanh nghiệp Việt Nam cần nhanh chóng đầu tư cải tiến cơng nghệ. Nhà bán lẻ
Việt Nam có thể nghiên cứu tính khả thi của việc áp dụng công nghệ RFID như đã phân tích ở chương II để chun nghiệp hóa các cơng đoạn phân phối, quản lý
bán hàng và khách hàng. Công nghệ này đã được hầu hết những tập đoàn bán lẻ lớn trên thế giới áp dụng và ngày càng chứng minh tính ưu việt của nó.
Doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam nên đa dạng hóa các kênh bán lẻ của mình và cần đẩy mạnh việc triển khai kênh bán hàng qua mạng. Số người Việt Nam sử
dụng Internet hiện đang tăng lên nhanh chóng, nhất là ở các vùng nơng thơn. Con số này tính đến thời điểm tháng 12 năm 2009 đã là 22,8 triệu người và được dự
tính sẽ lên tới gần 27 triệu trong vòng 2 năm tới Internet World Stats 2009. Như vậy tiềm năng để có thể triển khai kênh bán hàng này là rất lớn. Các
nhà bán lẻ Việt Nam cần chuẩn bị kiến thức, nguồn tài chính cũng như nhân lực cho mảng kinh doanh này.
Bên cạnh đó, các nhà bán lẻ Việt Nam cần mở rộng việc lắp đặt các máy POS phục vụ khách hàng thanh toán trực tiếp tại quầy thơng qua các loại thẻ.
Ngồi ra, doanh nghiệp bán lẻ cũng nên chú trọng hợp tác với các ngân hàng để giới thiệu các gói tín dụng khuyến khích mua hàng như mua hàng trả góp, chiết
khấu cho chủ thẻ của các ngân hàng liên kết hay tăng cường hệ thống bảo mật khi khách hàng mua sắm qua mạng,...
2.6 Thực hiện các hoạt động liên kết với các doanh nghiệp bán lẻ khác và các nhà sản xuất
Trước cuộc đua ngày càng quyết liệt trên thị trường bán lẻ Việt Nam giữa các doanh nghiệp trong nước và các tập đoàn bán lẻ khổng lồ, doanh nghiệp Việt
74 74
Nam sẽ gặp rất nhiều thách thức để có thể đứng vững nếu họ khơng nhận ra được yêu cầu cấp bách là phải thực hiện các hoạt động liên kết, cả chiều ngang và chiều
dọc.
-
Liên kết theo chiều ngang là liên kết giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành, trực tiếp cạnh tranh với nhau và chia sẻ cùng dòng sản phẩm trên thị
trường. Cụ thể trong ngành bán lẻ liên kết chiều ngang là liên kết giữa các nhà bán lẻ cùng kinh doanh trên một thị trường cụ thể.
-
Liên kết theo chiều dọc là liên kết giữa các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng. Liên kết trong chiều dọc trong ngành bán lẻ có thể là giữa một hay
nhiều nhà bán lẻ với các công ty hoạt động trong lĩnh vực vận tải, kho bãi. Thực chất, ở hầu hết các nước phát triển, việc liên kết giữa các doanh nghiệp
cùng ngành luôn được chủ các doanh nghiệp chú trọng do những ưu thế vượt trội mà nó mang lại. Vì vậy, trong thời gian tới, các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam cần
tìm kiếm cơ hội liên kết với nhau để xây dựng những tổ chức vững mạnh có tính cạnh tranh cao. Mỗi doanh nghiệp, tùy thuộc vào thị trường mục tiêu, quy mô
doanh nghiệp và chiến lược phát triển trong tương lai có thể lựa chọn cho mình con đường liên kết phù hợp.
Gần đây, có một xu hướng được nhiều chuyên gia kinh tế đề xuất cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp quy mơ vừa và nhỏ.
Đó là việc thành lập các liên minh mua hàng. Các liên minh này thực tế đã ra đời và khá thành công trên các thị trường bán lẻ của các quốc gia phát triển. Tại đó,
các doanh nghiệp bán lẻ lớn thường chiếm lĩnh thị trường nhờ tính kinh tế của quy mơ. Do đó, các doanh nghiệp nhỏ, để sống sót trên thị trường cạnh tranh khốc liệt
đã liên minh lại với nhau để thành lập các liên minh mua hàng, nhằm giảm chi phí một cách tối đa. Bên cạnh chức năng cơ bản nhất là cung cấp cho các doanh
nghiệp thành viên những thơng tin cập nhật về tình hình thị trường, biến động giá cả, những liên minh này cho phép các thành viên tập trung các đơn hàng cùng loại
thành một đơn hàng thống nhất với số lượng lớn. Nhờ đó, liên minh có thể được hưởng chiết khấu và kết quả là các doanh nghiệp tham gia có thể tiết kiệm chi phí
75
mua hàng. Bên cạnh đó, những liên minh này có thể đại diện cho các thành viên của mình để tham gia vào các cuộc đàm phán với nhà phân phối hay sản xuất
nhằm mục đích đạt được những điều khoản có lợi nhất. Các tổ chức liên kết giữa các nhà bán lẻ còn có khả năng hỗ trợ thành viên
nâng cao kinh nghiệm và kiến thức pháp luật, đặc biệt là khả năng khởi kiện. Trong tình hình đa số các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam còn là các doanh nghiệp
vừa và nhỏ, việc những doanh nghiệp này tập hợp lại thành một tổ chức lớn có thể tăng sức mạnh trong quá trình ký kết các hợp đồng mua bán hàng hóa. Trong
trường hợp có tranh chấp xảy ra, nhất là các tranh chấp có yếu tố nước ngồi, các liên kết này hồn tồn có khả năng th những luật sư nhiều kinh nghiệm và có uy
tín để bảo vệ quyền lợi tối đa cho các thành viên.
KẾT LUẬN
Có thể thấy rằng, thị trường bán lẻ châu Á đang dần trở thành thị trường hấp dẫn nhất thế giới, là điểm đến số một của các tập đoàn bán lẻ toàn cầu. Trong
thời gian tới, khu vực bán lẻ của châu lục này sẽ tiếp tục là một trong những khu vực diễn ra q trình tồn cầu hóa mạnh mẽ nhất trên thế giới. Bên cạnh sự xuất
hiện của các nhà bán lẻ khổng lồ đến từ châu Âu và Bắc Mỹ, châu Á sẽ chứng kiến sự lớn mạnh khơng ngừng của chính những nhà bán lẻ nội địa. Một số lượng lớn
76 76
các tập đoàn bán lẻ đến từ châu Á sẽ không ngừng phát triển để cạnh tranh với các tập đoàn Âu Mỹ trên sân nhà đồng thời nhanh chóng vươn ra cả những thị trường
khác khắp tồn cầu. Trong bối cảnh tự do hóa thương mại và hội nhập sâu rộng đang diễn ra
trên thế giới và trong khu vực, thị trường bán lẻ Việt Nam dù phát triển muộn hơn song đang tích cực đón nhận và tiếp thu những xu thế chung. Sau khi trở thành
thành viên chính thức của WTO, Việt Nam đang dần từng bước thực hiện quá trình mở cửa thị trường bán lẻ, thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhằm đưa thị trường phát
triển theo hướng hiện đại hóa. Tuy nhiên, trong thời gian tới, thị trường bán lẻ Việt Nam vẫn tồn tại nhiều vấn đề phải giải quyết dứt điểm. Một trong những nhiệm vụ
hàng đầu hiện nay là việc các cơ quan nhà nước phải đẩy nhanh q trình hồn thiện định hướng phát triển phù hợp, rõ ràng cho hệ thống bán lẻ hiện đại cùng với
việc quy hoạch cụ thể hệ thống truyền thống. Cùng với việc thực hiện những cam kết mở cửa trong khn khổ WTO, Đảng và Chính phủ cần nghiên cứu và áp dụng
những biện pháp khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tồn tại và phát triển được trong tình hình mới.
77
78 78
HỆ THỐNG CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
TỪ VIẾT TẮT THUẬT NGỮ ĐẦY ĐỦ
NGHĨA TIẾNG VIỆT
CPFR Collaborative Planning,
Forecasting and Replenishment
Hoạch định, dự báo và bổ sung theo mơ hình cộng tác
CRM Customer Relationship Management
Quản lý quan hệ với khách hàng
ENT Economic Needs Test
Kiểm tra nhu cầu kinh tế
FMCG Fast moving consumer goods
Hàng hóa tiêu dùng nhanh
GATS
General Agreement on Trade in Services
Hiệp định chung về thương mại dịch vụ
GRDI Global Retail Development Index
Chỉ số phát triển bán lẻ toàn cầu
KFTC Korean Fair Trade Commission
Ủy ban thương mại lành mạnh Hàn Quốc
MA Merger and Acquisition
Mua lại và sáp nhập
RFID Radio-Frequency Identification
Hệ thống nhận dạng tự động từ xa
WTO World Trade Organization
Tổ chức Thương mại Thế giới
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. A.T.Kearney 2009, 2009 Global Retail Development Index, USA 2. AS Watson Group 2009, A.S Watson Group Announces Acceleration of
Global Expansion Plan, truy cập ngày 2822010 từ trang web: http:www.aswatson.comengnews_Nov24_2009.htm

3. Business in Asia 2005, China in Major Change: Opens Retail, Distribution


Sectors to Foreign Businesses truy cập ngày 2132010 từ trang web http:www.business-in-asia.comchina_retail.html

4. Ca, Hảo 2009, Sôi sục giá thuê mặt bằng bán lẻ, truy cập ngày 02032010 từ


trang web: http:vietnamnet.vnkinhtethitruong200910Soi-suc-gia-thue-mat-
bang-ban-le-873948 .

5. CB Richard Ellis CBRE Việt Nam 2008, Thị trường bất động sản bán lẻ Việt


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (83 trang)

×