Tải bản đầy đủ - 56 (trang)
Giải quyết các tranh chấp

Giải quyết các tranh chấp

Tải bản đầy đủ - 56trang

Theo hợp đồng số As per Sales Contract No.: Ngày ký hợp đồng dated:
Số lượng Quantity: Tính chất bao bì Nature of packing:
Phương thức vận chuyển Means of transport: Tên phương tiện vận chuyển Name of conveyance:
Ngày khởi hành Sailing on: Vận đơn số BL No:
Từ From: Chuyển tải:
Đến To: Chuyển tải Transhipment:
Trị giá bảo hiểm Insured Value: Tổng số tiền bảo hiểm Total Insured Amount:
Điều kiện bảo hiểm Insurance conditions: Bồi thường tại Claims, if any, payable inat::
………………., ngày ……tháng ......năm 2008
Chứng từ kèm theo: The Applicant
Enclosed documents Người yêu cầu bảo hiểm

Vận tải đơn – BL

Hóa đơn – Invoice

Phiếu đóng gói – PL

Hợp đồng mua bán – Sale contract Tín dụng thư – LC

IV. Giải quyết các tranh chấp


1. Đưa ra tình huống tranh chấp giả định
TRANH CHẤP VỀ VIỆC CHUYỂN NGHĨA VỤ TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN GẠO
Các bên:
Nguyên đơn : Người bán Việt Nam
Bị đơn : Người mua Mỹ
Các vấn đề được đề cập:

Thực hiện nghĩa vụ thông qua người thứ ba hay
chuyển nghĩa vụ

Tiền lãi của số tiền chậm trả
Tóm tắt vụ việc:
Bị đơn công ty Mỹ ký hợp đồng mua của Nguyên đơn Công ty Việt nam 5000MT gạo trắng loại 5 tấm với giá 340USDMT FOB
cảng Sài Gòn , thanh tốn bằng LC khơng huỷ ngang, giao hàng trong vòng 25 ngày kể từ ngày bên bán nhận được thông báo LC. Bị
đơn uỷ thác cho Nguyên đơn thuê tàu chở hàng và tiền cước thanh tốn bằng TTR.
Một cơng ty Canada người mua lại lơ hàng đó của Bị đơn do Bị đơn chỉ định đã thay Bị đơn mở LC tại Ngân hàng thương mại
Canada cho Nguyên đơn hưởng lợi. Sau khi nhận được thông báo LC, Nguyên đơn đã thuê tàu và ngày 20 tháng 8 năm 1995 đã giao
xong 5000 MT gạo trị giá 1.700.000 USD.
Hàng đã được dỡ và lưu kho cảng, nhưng một phần hàng đã bị ẩm từ trong hầm tàu và bị hư hỏng. Người mua Canada không chấp
nhận bộ chứng từ để đi nhận hàng với lý do bộ chứng từ không hợp lệ.
Ngày 25 tháng 10 năm 1995 Bị đơn thông báo cho Nguyên đơn rằng người mua lại lô gạo người thứ ba sẽ chấp nhận bộ chứng từ
dù khơng hợp lệ và thanh tốn trước cho Nguyên đơn 1.200.000 USD để lấy bộ chứng từ đi nhận hàng và khiếu nại công ty bảo hiểm
bồi thường tổn thất. Nếu cơng ty Canada đòi được tiền bảo hiểm thì sẽ thanh tốn tiếp cho Ngun đơn, nếu số tiền bảo hiểm thực trả ít
hơn 500.000 USD thì cơng ty Canada sẽ thương lượng với Ngun đơn để giải quyết. Bị đơn cho rằng nếu vì Nguyên đơn không đồng ý
với phương án giải quyết này mà hàng để lâu trong kho cảng tiếp tục bị tổn thất thì Nguyên đơn phải chịu trách nhiệm cho những tổn thất
đó.
Ngun đơn thơng báo bằng fax cho Bị đơn đồng ý nhận thanh toán trước 1.200.000 USD, nhưng yêu cầu rằng phần tiền hàng còn
lại 500.000 USD phải được thanh tốn trong vòng 10 ngày sau lần thanh toán thứ nhất.
Trên thực tế, Nguyên đơn đã nhận được 1.200.000USD, sau đó tiếp tục đòi người mua lại cơng ty Canada trả tiếp 500.000USD,
nhưng không được giải quyết, Nguyên đơn quay lại đòi Bị đơn người ký hợp đồng mua bán với Nguyên đơn.
Bị đơn cho rằng Nguyên đơn đã chấp nhận LC mở theo yêu cầu của cơng ty Canada người thứ ba thì cũng có nghĩa là Nguyên
đơn đã chấp nhận việc chuyển nghĩa vụ trả tiền từ Bị đơn sang người thứ ba cho nên Bị đơn không chịu trách nhiệm về việc người
thứ ba trả thiếu tiền hàng cho Nguyên đơn. Ngoài ra, Nguyên đơn đã đồng ý nhận 1.200.000USD trả trước theo đề xuất của người thứ ba,
vì vậy số tiền còn lại Nguyên đơn phải đòi người thứ ba trả tiếp, nếu đòi khơng được thì đi kiện người thứ ba chứ khơng thể đòi Bị đơn;
một khi nghĩa vụ của Bị đơn đã chuyển hoàn toàn sang cho người thứ ba thì Bị đơn khơng phải chịu trách nhiệm về việc trả tiền hàng
theo Hợp đồng.
Nguyên đơn sau đó vẫn tiếp tục đòi cả Bị đơn lẫn công ty Canada phần tiền hàng còn lại nhưng khơng đạt kết quả. Do đó,
Nguyên đơn đã kiện ra trọng tài đòi Bị đơn trả - 500.000 USD tiền hàng
- tiền lãi thanh toán chậm 40 ngày đối với số tiền 1.200.000 USD và tiền lãi thanh toán chậm 500.000USD cho đến ngày thanh
tốn thực tế. Bị đơn trình bày trong bản giải trình rằng việc gạo bị ẩm ướt
dẫn đến việc phải đi đòi bảo hiểm thực tế là do chính Nguyên đơn đã cẩu thả trong việc thuê tàu. Vì thế Nguyên đơn cũng phải chịu trách
nhiệm đối với việc này. Ngoài ra, Bị đơn trên thực tế vẫn có thiện chí đốc thúc công ty Canada trả phần tiền còn lại cho Nguyên đơn
nhưng công ty này chưa thể trả được vì cơng ty bảo hiểm chưa thanh toán tiền bảo hiểm. Về trách nhiệm của mình, Bị đơn nhắc lại
lập luận rằng Nguyên đơn chấp nhận lấy trước 1.200.000USD từ người thứ ba thì Bị đơn coi như hết nghĩa vụ trả tiền hàng, nghĩa vụ
này đã được chuyển cho người thứ ba.
2. Biện pháp giải quyết : Lựa chọn trọng tài quốc tế 3. Quy trình giải quyết
1.Về việc thực hiện nghĩa vụ trả tiền hàng thông qua người thứ ba hay là chuyển nghĩa vụ sang người thứ ba?:
Uỷ ban trọng tài quyết định rằng trong trường hợp này Bị đơn khơng được giải phóng khỏi nghĩa vụ trả tiền hàng theo Hợp đồng và
do đó, vẫn có trách nhiệm trả phần tiền hàng còn lại cho Nguyên đơn với lý do:
Về nguyên tắc, trong Hợp đồng mua bán hàng hố, người mua có nghĩa vụ trả tiền hàng. Người mua có thể tự thực hiện nghĩa vụ,
hoặc uỷ quyền cho người thứ ba thay mình trả tiền tức là thực hiện nghĩa vụ trả tiền thông qua người thứ ba hoặc chuyển hoàn toàn
nghĩa vụ này sang cho một người thứ ba với sự chấp thuận minh thị của người bán gọi là thế nghĩa vụ.
Trong trường hợp này, việc người thứ ba công ty Canada trả tiền thay cho Bị đơn chỉ có thể coi như việc uỷ quyền trả tiền thông
thường chứ không thể coi như thế nghĩa vụ vì giữa ba bên Nguyên đơn, Bị đơn và cơng ty Canada chưa hề có thoả thuận gì rõ ràng về
việc thế nghĩa vụ. Việc công ty Canada người thứ ba mở LC trả tiền, thwjc tế đã trả 1.200.000 USD cũng như việc Nguyên đơn chấp
nhận LC và nhận tiền không thể là căn cứ để xác định rằng trong trường hợp này đã có thế nghĩa vụ giữa Bị đơn và công ty Canada.
Theo qui định về uỷ quyền, người uỷ quyền vẫn phải trực tiếp chịu trách nhiệm đối với hành vi của người được uỷ quyền. Do đó,
trong vụ việc này, Bị đơn phải có trách nhiệm đối với việc trả tiền hàng của công ty Canada.
Công ty Canada đã thay Bị đơn trả cho Nguyên đơn 1.200.000 USD trong tổng số 1.700.000 USD tiền hàng. Do đó, Bị đơn phải chịu
trách nhiệm về việc chưa trả 500.000 USD cho Nguyên đơn. Uỷ ban trọng tài bác lập luận của Bị đơn về lỗi của Nguyên đơn
liên quan tới sự kiện thuê tàu và về việc tiền bảo hiểm chưa được thanh toán để trì hỗn trả 500.000 USD với lý do:

Sau khi th tàu, bốc hàng lên tàu và lấy được vận đơn hồn hảo đã xếp hàng thì Ngun đơn đã thực hiện xong việc nhận
uỷ thác thuê tàu và giao hàng, vì thế Ngun đơn khơng phải chịu trách nhiệm về tổn thất của hàng ở cảng đến.

Việc đòi cơng ty bảo hiểm bồi thường tổn thất là quan hệ pháp lý hợp đồng bảo hiểm độc lập với nghĩa vụ trả tiền hàng, do
vậy, Bị đơn không thể coi việc thanh tốn tiền bảo hiểm của cơng ty bảo hiểm là một điều kiện để trả tiền hàng.
2. Về tiền lãi:

Uỷ ban trọng tài bác tiền lãi do chậm thanh tốn 40 ngày đối với khoản tiền 1.200.000 USD vì:
Việc chậm thanh toán 1.200.000 USD là do lỗi của Nguyên đơn đã để có những sai sót về chứng từ. Thời gian chậm thanh tốn đó là
thời gian các bên thoả thuận thương lượng về cách giải quyết những bất hợp lệ trong chứng từ, về số tiền mà Bị đơn có thể trả để lấy vận
đơn đi nhận hàng.

Về tiền lãi do chậm thanh toán 500.000 USD: Người thứ ba đã đề xuất trả trước 1.200.000 USD, số 500.000
USD còn lại sẽ thanh tốn khi đòi được cơng ty bảo hiểm bồi thường. Nguyên đơn đồng ý nhận trước 1.200.000 USD, còn lại 500.000 USD
phải được thanh tốn trong vòng mười ngày kể từ ngày thanh tốn 1.200.000 USD. Bị đơn biết việc này nhưng khơng có ý kiến gì. Như
vậy, rõ ràng giữa Nguyên đơn và Bị đơn cũng như người thứ ba chưa thống nhất được thời hạn thanh tốn 500.000 USD. Hơn nữa,
trong các lần đòi Bị đơn thanh tốn 500.000 USD Ngun đơn khơng nêu ra thời hạn thanh tốn, phương thức thanh tốn, khơng chỉ định
tài khoản. Từ đó Uỷ ban trọng tài xác định khơng có đủ căn cứ hợp pháp để bắt Bị đơn trả tiền lãi của 500.000 USD.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Giải quyết các tranh chấp

Tải bản đầy đủ ngay(56 tr)

×