1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

II Thực trạng công tác lập kế hoạch marketing trong các

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (201.42 KB, 30 trang )


Phần II Thực trạng công tác lập kế hoạch marketing trong các


doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam
I. Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt nam 1. Khái niệm
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có quy mơ nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu. Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành
ba loại cũng căn cứ vào quy mơ đó là doanh nghiệp siêu nhỏ micro, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Theo tiêu chí của nhóm Ngân hàng Thế giới
doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh
nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động. Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước mình. Ở Việt Nam, khơng phân
biệt lĩnh vực kinh doanh, các doanh nghiệp có số vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng hoặc số lượng lao động trung bình hàng năm dưới 300 người được coi là
doanh nghiệp nhỏ và vừa khơng có tiêu chí xác định cụ thể đâu là doanh nghiệp siêu nhỏ, đâu là nhỏ, và đâu là vừa.
2. Vai trò
Ở mỗi nền kinh tế quốc gia hay lãnh thổ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể giữ những vai trò với mức độ khác nhau, song nhìn chung có một số
vai trò tương đồng như sau: Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế: các doanh nghiệp nhỏ và vừa
thường chiếm tỷ trọng lớn, thậm chí áp đảo trong tổng số doanh nghiệp Ở Việt Nam chỉ xét các doanh nghiệp có đăng ký thì tỷ lệ này là trên 95. Vì
thế, đóng góp của họ vào tổng sản lượng và tạo việc làm là rất đáng kể. Giữ vai trò ổn định nền kinh tế: ở phần lớn các nền kinh tế, các doanh
nghiệp nhỏ và vừa là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn. Sự điều
14
chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định.Vì thế, doanh nghiệp nhỏ và vừa được ví là thanh giảm sốc cho nền kinh tế.
Làm cho nền kinh tế năng động: vì doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy mơ nhỏ, nên dễ điều chỉnh xét về mặt lý thuyết hoạt động.
Tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng: doanh nghiệp nhỏ và vừa thường chun mơn hóa vào sản xuất một vài chi tiết được
dùng để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh. Là trụ cột của kinh tế địa phương: nếu như doanh nghiệp lớn thường
đặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế của đất nước, thì doanh nghiệp nhỏ và vừa lại có mặt ở khắp các địa phương và là người đóng góp quan trọng vào
thu ngân sách, vào sản lượng và tạo công ăn việc làm ở địa phương.
3. Thực trạng doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam.
Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Tổng cục Thống kê, chỉ tính riêng năm 2005, số lượng doanh nghiệp đăng ký mới chủ yếu là doanh
nghiệp vừa và nhỏ đã là 45.162 doanh nghiệp, bằng tổng số doanh nghiệp trước giai đoạn 2000.
Mặc dù tăng nhanh về số lượng nhưng quy mô về vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong những năm gần đây lại rất thấp, mới ở mức trung
bình trên 2 tỷ đồngdoanh nghiệp. Bên cạnh đó các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam phải đối mặt
với nhiều bất lợi: Nếu xét kết hợp tiêu chí về vốn với tiêu chí về lao động, các số liệu
thống kê cho thấy, trong tổng số 88.222 doanh nghiệp vừa và nhỏ năm 2004 có 2.211.895 lao động, tương đương với tỷ lệ bình quân mỗi doanh nghiệp có
25 lao động. Do quy mơ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ như vậy kéo theo hiệu
quả kinh doanh khơng cao. Năm 2004, lợi nhuận bình qn của doanh nghiệp vừa và nhỏ là 240 triệu đồng khoảng 16.000 USD, thấp hơn nhiều so với
mức lợi nhuận bình quân doanh nghiệp của cả nước khoảng 1,14 tỷ đồng.
Các tiêu chí về tỷ suất lợi nhuận vốn và lợi nhuận doanh thu cũng thấp, ở mức 3 tỷ đồng và 2,57 tỷ đồng so với các mức bình quân chung các
doanh nghiệp cả nước là 4,85 tỷ đồng và 5,99 tỷ đồng. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu tập trung vào các
ngành thương mại, sửa chữa động cơ, xe máy chiếm 40,6 doanh nghiệp của cả nước, tiếp đến là các ngành chế biến 20,9, xây dựng 13,2 và
các ngành còn lại như kinh doanh tài sản, tư vấn, khách sạn, nhà hàng 25,3.
Một thực trạng phổ biến trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ là hệ thống máy móc, thiết bị lạc hậu, khoảng 15-20 năm trong ngành điện tử, 20 năm đối
với ngành cơ khí, 70 công nghệ ngành dệt may đã sử dụng được 20 năm. Tỷ lệ đổi mới trang thiết bị trung bình hàng năm của Việt Nam chỉ ở mức 5-7
so với 20 của thế giới. Công nghệ lạc hậu làm tăng chi phí tiêu hao 1,5 lần so với định mức tiêu chuẩn của thế giới.
Thực trạng này dẫn đến tăng chi phí đầu vào, cao hơn từ 30 - 50 so với các nước ASEAN, đồng thời dẫn đến chất lượng sản phẩm giảm, giá
thành cao và năng suất thấp. Nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ rất yếu kém trong tiếp cận thông tin và
các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh. Một phần là do chất lượng nguồn nhân lực thấp, hạn chế về trình độ chun mơn, tin học, ngoại ngữ của giám đốc và đội
ngũ quản lý doanh nghiệp, một phần là do đầu tư cho hệ thống thơng tin thấp, chưa có phương tiện kỹ thuật nên chưa theo kịp diễn biến của thị trường.
Kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê cho thấy, các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện đang chiếm tới 99 số lượng cơ sở sản xuất kinh doanh của
cả nước, 25 tổng đầu tư xã hội và thu hút khoảng 77 lực lượng lao động phi nơng nghiệp.
Ngồi ra, các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách quốc gia và chi phối hầu hết các hoạt động phân phối
bán lẻ của cả nước chiếm tỷ trọng khoảng 80 năm 2003.
16
II. Thực trạng công tác lập kế hoạch marketing trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam. 1. Nội dung kế hoạch marketing trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ .
Hiện nay các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam đang ngày càng quan tâm hơn tới công tác lập kế hoạch marketing, đã có rất nhiều tài liệu
cũng như trang web giới thiệu về các bản kế hoạch marketing . Sau đây là một số mơ hình mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam thường hay áp dụng.
Hầu hết các kế hoạch marketing của công ty vừa và nhỏ đều hội tụ những phần sau :
-Phần tóm tắt chung của cơng ty. -Mục lục.
-Tóm tắt tình hình hiện tại. Bao gồm tất cả các dữ liệu liên quan, bao gồm cả phân tích SWOT phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách
thức. -Đánh giá trọng tâm về cơ hội thị trường . Bao gồm một báo cáo về
phân khúc thị trường mục tiêu, đánh giá khách hàng và nhu cầu cúng như các thách thức cạnh tranh mà công ty và các sản phẩm của công ty phải đối mặt .
-Các mục tiêu tài chính và marketing .Các mục tiêu tài chính thường được trình bày theo hình thức tăng doanh thu luỹ tiến và lơi nhuận mong đợi
vào cuối kì hoạch định. Các mục tiêu marketing được trình bày theo doanh số bán trên đơn vị sản phẩm và thị phần.
-Tóm tắt chiến lược marketing của cơng ty . Phần tóm tắt này xác định thị trường mục tiêu và chỉ ra cách sản phẩm hay dòng sản phẩm được định vị .
-Ngân sách marketing hàng tháng . -Dự báo doanh thu và doanh số bán trên đơn vị sản phẩm hàng tháng .
-Kế hoạch giám sát và đánh giá các kế hoạch hành động đang diễn tiến vào cuối thời kì kế hoạch.
Kế hoạch marketing của đơn vị kinh doanh được xem như là bản kế hoạch marketing của đơn vị tác chiến. Nó được cụ thể hoá từ bảng kế hoạch
của cấp chuyên nghành, hoặc cấp vùng, với một hay nhiều sản phẩm cụ thể,
một thị trường cụ thể và những đối thủ cạnh tranh cụ thể. Bao gồm các bước sau:
-Xác định mục tiêu marketing -Phân tích tình hình thị trường
-Phân khúc thị trường -Xác định thị trường mục tiêu
-Chiến lược marketing -Kế hoạch triển khai thực hiện
-Kế hoạch theo dỏi và điều chỉnh
2. Nhân sự và ngân sách trong lập kế hoạch marketing.
Đối với nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam,việc soạn thảo một bản kế hoạch marketing có vẻ rất cứng nhắc và dường như mâu thuẫn với
lí tưởng căn bản của marketing, đó chính là sự linh hoạt và mềm dẻo. Hiện nay nhiều doanh nghiệp thích quản lý vấn đề này theo kiểu tuỳ cơ ứng biến, vì
vậy vấn đề nhân sự trong việc lập kế hoạch marketing không chiếm một phần quan trọng trong chương trình hoạt động của doanh nghiệp.
Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, thông thường công việc lập kế hoạch marketing do các giám đốc hay ông chủ thực hiện . Tuy nhiên với cơ
chế thị trường như ngày nay, các nhà lãnh đạo sẽ phải đối mặt với vô số biến cố trên thị trường nên thường bị động và phải đối mặt thường xuyên với
những vấn đề trước mắt. Khi có kế hoạch marketing thì phần lớn những gì diễn ra đều được dự tính trước, do đó họ sẽ có những cách đối phó với chi phí
thấp nhất. Nhận thấy được tầm quan trọng của kế hoạch marketing như vậy,ngày
càng có nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ quan tâm hơn đến vấn đề này và do đó nhân sự cho lập kế hoạch marketing cũng được coi trọng hơn. Ở các doanh
nghiệp vừa và nhỏ do điều kiện về cơ sở vật chất cũng như tài chính thường eo hẹp nên khơng có một phòng marketing cụ thể với nhân sự chuyên trách
như các doanh nghiệp lớn . Điều này được đặc biệt quan tâm đối với các
18
doanh nghiệp nước ngoài vào làm ăn ở Việt Nam. Hiện nay trừ một số doanh nghiệp đã có phòng marketing ra thì hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ đều
cơ cấu nhân sự trong các ban, họ thường làm việc kiêm nhiệm và nếu có chuyên trách đi chăng nữa thì con số này vẫn còn rất ít.
Bên cạnh nguồn lực nhân sự còn thiếu thốn thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam còn phải đối mặt với một vấn đề vô cùng quan trọng nữa
khi lập kế hoạch marketing, đó chính là vấn đề ngân sách . Nguồn ngân sách của họ là một nguồn ngân sách eo hẹp và thiếu thốn trong khi lại phải quá
nhiều việc phải lo, do đó các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường khơng tránh khỏi tình trạng “giật gấu vá vai”. Điều này hồn tồn có thể hiểu được khi mà
nguồn vốn hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng eo hẹp dẫn đến ngân sách cho hoạt động marketing cũng không thể khấm khá hơn . Ngân
sách dành cho marketing trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường khơng có một kế hoạch cụ thể mà đó có thể là tuỳ hứng theo nhu cầu thị trường. Khi mà
nhu cầu thị trường lên cao thì họ cảm thấy khơng cần phải marketing nhiều hơn nữa,trong khi chính ở giai đoạn này vai trò của marketing lại rất quan
trọng . Cho đến khi cầu thị trường giảm sút thì các doanh nghiệp lại đổ xơ đi làm marketing bằng các biện pháp như giảm giá, thanh lý rất ít hiệu quả. Đây
quả là một thực trạng đáng báo động trong công tác lập kế hoạch marketing của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam.

Phần III Các giải pháp để cải thiện công tác lập kế hoạch


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (30 trang)

×