1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Ấn Độ thời cổ đại : Hy Lạp cổ đại :

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (465.03 KB, 17 trang )


Hệ nhật tâm bên dưới so sánh với mơ hình địa tâm bên trên

1.2 Sự phát triển của thuyết nhật tâm


Đối với bất kỳ một người nào đứng nhìn lên bầu trời, có vẻ rõ ràng rằng Trái Đất đứng yên một vị trí trong khi mọi vật trên bầu trời mọc và lặn hay quay quanh nó hàng
ngày. Quan sát trong một thời gian lâu hơn, họ sẽ thấy nhiều chuyển động phức tạp hơn. Mặt Trời chuyển động chậm chạp theo hình tròn trong năm; các hành tinh có các chuyển
động tương tự nhau, nhưng thỉnh thoảng chúng quay vòng và di chuyển ngược lại trong một khoảng thời gian chuyển động lùi. Khi các chuyển động đó ngày càng được tìm
hiểu kỹ hơn, càng ngày càng cần có những miêu tả tỉ mỉ hơn, cách miêu tả nổi tiếng nhất là hệ Ptolemy, được hình thành từ thế kỷ thứ 2.

1.2.1 Ấn Độ thời cổ đại :


Những dấu vết sớm nhất về một ý tưởng đi ngược trực giác cho rằng Trái Đất trên thực tế đang quay quanh Mặt Trời và Mặt Trời là trung tâm của Hệ Mặt Trời và đó
4
chính là khái niệm của thuyết Nhật Tâm đã được tìm thấy trong nhiều văn bản kinh Vệ Đà tiếng Phạn được viết trong thời Ấn Độ cổ đại. Yajnavalkya khoảng thế kỷ 9–thế kỷ
8 TCN ghi nhận rằng Trái Đất có hình cầu và rằng Mặt Trời là Trung tâm của Vũ Trụ như được miêu tả trong kinh Vệ đà ở thời ấy. Trong bài viết về thiên văn học của mình
Shatapatha Brahmana cho rằng: Mặt Trời treo các thế giới - Trái Đất, các hành tinh, khí quyển - vào mình bằng một sợi chỉ. Ông nhận rằng Mặt Trời lớn hơn nhiều so với Trái
Đất, và đây là điều ảnh hưởng tới khái niệm thuyết Nhật Tâm sơ khai này. Ông cũng đã đo chính xác các khoảng cách từ Trái Đất đến Mặt Trời và Mặt Trăng bằng 108 lần
đường kính các thiên thể đó, khá gần với con số ngày nay là 107.6 với Mặt Trời và 110.6 với Mặt Trăng. Ông cũng đã miêu tả một loại lịch trong cuốn Shatapatha
Brahmana. Văn bản Vệ Đà tiếng Phạn Aitareya Brahmana khoảng thế kỷ 9–8 TCN cũng
nói rằng: Mặt Trời không lặn cũng không mọc. Khi con người nghĩ rằng Mặt Trời đang lặn, nó khơng làm như vậy; vì thế đó là sự hiểu lầm. Văn bản này chỉ ra rằng Mặt Trời
đứng yên vì thế Trái Đất di chuyển quanh nó, điều này đã được trình bày chi tiết hơn trong một bản bình luận thời sau Vishnu Purana khoảng thế kỷ thứ 1, nói rằng: Mặt
Trời ln đứng n, trong ngày vì Mặt Trời, ln đứng n tại chỗ, nên nó khơng lặn cũng khơng mọc.

1.2.2 Hy Lạp cổ đại :


Ở thế kỷ thứ 4 TCN, trong Chương 13 Quyển hai bộ Về bầu trời On the heavens, Aristotle đã viết rằng Ở trung tâm, họ [những người theo trường phái Pytago]
nói, là ngọn lửa, và Trái Đất là một trong những ngôi sao, tạo nên ngày và đêm bởi các chuyển động hình tròn của chúng quanh trung tâm. Những lý do của sự sắp đặt này là
vì triết học dựa trên các nguyên tố cổ điển chứ không phải khoa học; ngọn lửa có tầm quan trọng lớn hơn Trái Đất theo quan điểm của trường phái Pytago, và vì lý do này
ngọn lửa phải nằm ở trung tâm. Tuy nhiên ngọn lửa trung tâm không phải là Mặt Trời. Những người theo Pytago tin rằng Mặt Trời cũng như toàn bộ các vật thể khác đều quay
quanh ngọn lửa trung tâm. Aristotle đã từ bỏ lý thuyết này và ủng hộ thuyết Địa Tâm.
5
Heraclides xứ Pontus thế kỷ thứ 4 TCN đã giải thích chuyển động biểu kiến hàng ngày của các thiên thể thông qua sự tự quay của Trái Đất, và có lẽ cũng đã nhận ra rằng
Sao Thủy và Sao Kim quay quanh Mặt Trời. Tuy nhiên, người đầu tiên đề xuất hệ Nhật Tâm là Aristarchus xứ Samos khoảng 270 TCN. Không may thay những ghi chép của
ơng về hệ Nhật Tâm khơng còn nữa, nhưng chúng ta có được một số thơng tin chủ chốt của hệ thống nay thông qua các tác giả khác người quan trọng nhất là Archimedes, ông
sống ở thế kỷ thứ 3 TCN và vì thế có được kiến thức trực tiếp từ các tác phẩm của Aristarchus.
Những tính tốn của Aristarchus về kích thước so sánh của Trái Đất, Mặt Trời và Mặt Trăng ở thế kỷ thứ 2 TCN
Khi Aristarchus viết các tác phẩm của mình, kích thước Trái Đất đã được Eratosthenes tính tốn khá chính xác. Aristarchus cũng đo đạc kích thước Trái Đất, và
kích thước cũng như khoảng cách của Mặt Trăng và Mặt Trời, chúng được ghi lại trong một bản luận văn may mắn còn tồn tại. Phương pháp hình học của ơng là chính xác,
nhưng nó đòi hỏi phải vượt qua khó khăn khi đo góc giữa Mặt Trời và Mặt Trăng khi 6
Mặt Trăng nằm ở góc một phần tư thứ nhất và cuối cùng, hơi nhỏ hơn 90 độ. Aristarchus đã ước tính góc q rộng và vì thế ước tính kích thước cũng như khoảng
cách của Mặt Trời nhỏ hơn thực tế dù các con số của ơng về Mặt Trăng khá chính xác. Tuy nhiên, điều quan trọng là cách tiếp cận khoa học của Aristarchus, và kết luận rằng
Mặt Trời lớn hơn nhiều so với Trái Đất. Có lẽ, như nhiều người đã từng đề xuất, khi xem xét những con số đó Aristarchus đã cho rằng có lẽ cho Trái Đất đang chuyển động
thì đúng hơn là Mặt Trời vĩ đại chuyển động quanh Trái Đất. Cơng trình đầu tiên của Aristarchus về hệ nhật tâm khơng còn nữa và chỉ được
biết tới thông qua ghi chép của những người khác; vì thế ta khơng chắc chắn được về sự lý luận của ơng với vấn đề đó. Dù có lẽ rằng ông đã hiểu vấn đề sai của các ngôi sao:
nếu Trái Đất chuyển động qua những khoảng cách lớn khi quay quanh Mặt Trời, thì ở khoảng cách gần hơn các định tinh phải có khác biệt so với khoảng cách xa, tương tự
như những quả đồi ở gần sẽ có vị trí sai khác so với các ngọn núi ở xa khi ta di chuyển. Aristarchus đã giải thích hiện tượng khơng quan sát thấy thị sai đó bằng cách cho rằng
các ngôi sao ở những khoảng cách quá xa: khoảng cách mặt cầu của các định tinh so với quỹ đạo Trái Đất tương tự với bề mặt của một mặt cầu so với tâm của nó. Archimedes
đã miêu tả và cho rằng lý lẽ này do Aristachus đưa ra ở lời mở đầu cuốn Người đếm cát The Sand Reckoner. Điều này khiến các ngôi sao nằm ở khoảng cách rất lớn; dù ông
muốn dùng đúng nghĩa đen, hay chỉ muốn thể hiện một tỷ lệ khoảng cách cực lớn, thì hiện nay ta cũng khơng thể xác định chắc chắn điều đó. Vì cách giải thích của ơng tỏ ra
chính xác, dù các khoảng cách là có hạn; thị sai sao chỉ được quan sát thấy ở thế kỷ 19. Mơ hình nhật tâm của Aristarchus được Archimedes đề cập tới trong cuốn Người
đếm cát. Mục đích của cuốn sách này là chứng minh rằng những con số cực lớn, thậm chí số lượng những hạt cát đủ để lấp đầy vũ trụ, cũng có thể được thể hiện bằng tốn
học và khơng nên biểu diễn chúng một cách ước lượng là vơ vàn. Ơng đã lấy mơ hình vũ trụ rộng lớn nhất từng có, mơ hình vũ trụ Aristarchus, để tính tốn số lượng cát cần
thiết đổ đầy vào đó. Chỉ ra rằng về mặt tốn học, sẽ khơng có ý nghĩa gì khi nói về một tỷ lệ giữa bề mặt của một mặt cầu và tâm của nó, bởi vì nó khơng có độ rộng lớn,
Archimedes kết luận rằng khoảng cách giữa các định tinh có cùng quan hệ với bán kính của quỹ đạo Trái Đất bởi vì quỹ đạo đó cũng có quan hệ với chính Trái Đất. Theo
những điều kiện đó, chúng ta có thể chứng minh rằng thị sai sao đã vượt quá khả năng 7
quan sát để phát hiện thấy của thời kỳ đó, đúng như thực tế. Tuy nhiên, khơng có dấu hiệu cho thấy cả Aristarchus hay Archimedes đã thực sự tranh luận vấn đề thị sai sao và
coi đó là cách để xác định việc liệu Trái Đất có thực sự chuyển động không. Một nhà thiên văn Hy Lạp khác, Seleucus xứ Seleucia, đã chấp nhận mơ hình
nhật tâm của Aristarchus, và theo Plutarch ơng đã chứng minh nó.

1.2.3 Ấn Độ trung cổ


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (17 trang)

×