1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Châu Âu phục hưng :

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (465.03 KB, 17 trang )


Nhà khoa học Hồi giáo Ba Tư Nasir al-Din Tusi 1201–1274 đã giải quyết các vấn để chủ yếu trong hệ thống Ptolemy bằng cách phát triển Tusi-couple thành thứ thay
thế cho tâm sai khó hiểu về vật lý của Ptolemy. Nhà khoa học Hồi giáo Muayyad al-Din al-Urdi khoảng 1250 đã phát triển bổ đề Urdi Urdi lemma. Nhà thiên văn học Hồi
giáo Ả Rập ibn al-Shatir 1304–1375, trong tác phẩm Kitab Nihayat as-Sul fi Tashih al- Usul Tìm hiểu lần cuối về sự sửa chữa Lý thuyết hành tinh của mình đã loại bỏ tâm sai
bằng cách đưa ra một ngoại luân nữa, thoát khỏi hệ thống của Ptolemy theo cách sau này Copernicus cũng đã thực hiện. Ibn al-Shatir đề xuất một hệ chỉ tương tự với mơ
hình địa tâm, chứ khơng hồn tồn chính xác như vậy, khi đã chứng minh theo lượng giác rằng Trái Đất thực sự không phải là trung tâm vũ trụ. Sự sửa đổi của ông sau này
đã được dùng lại trong mơ hình Copernicus, cùng với Tusi-couple và bổ đề Urdi. Những bản ghi chép còn sót lại về Tusi, al-Urdi và Ibn al-Shatir đều thuộc mơ
hình địa tâm, theo chiều hướng cho rằng Trái Đất đứng yên thậm chí nếu nó khơng ở chính trung tâm của mọi chuyển động. Vai trò của những lý thuyết này đối với sự phát
triển thuyết nhật tâm sau này hiện vẫn chưa được hiểu rõ.

1.2.5 Châu Âu phục hưng :


Cần lưu ý quan niệm thông thường ở phương Tây cho rằng trước Copernicus khái niệm hệ nhật tâm chưa bao giờ xuất hiện, hay không được biết tới ở Châu Âu là sai
lầm. Khơng chỉ vì những văn bản tiếng Ả Rập ngày càng được dịch nhiều sang tiếng Latin sau thế kỷ 11 nhờ ngày càng có nhiều sự tiếp xúc với thế giới Ả RậpHồi giáo do
những chiến binh thập tự chinh mang lại, mà còn bởi những nhà thám hiểm, các thương gia xuất hiện nhiều hơn ở Châu Âu có điều kiện thuận lợi hơn nhờ Pax Mongolica
khiến phương Tây biết được về truyền thống ủng hộ thuyết nhật tâm ở Ấn Độ với chi tiết như được trình bày ở trên. Và tất nhiên các học giả biết rõ về những cuộc tranh luận
của Aristarchus và Philolaus, cũng việc như nhiều nhà tư tưởng cổ đại khác đã đề xuất hay được cho là đã đề xuất mơ hình nhật tâm hay các quan điểm gần thuyết nhật tâm,
như Hicetas và Heraclides Ponticus Copernicus tất nhiên cũng biết điều này. Hơn nữa, một số nhà tư tưởng Châu Âu cũng đã tranh luận về thuyết nhật tâm từ thời Trung Cổ:
ví dụ Nicolas Oresme và Nicholas of Cusa. Tuy nhiên, đối với đa số các học giả ở giai đoạn này, thuyết nhật tâm có một vấn đề lớn và dễ nhận thấy: theo trực giác thông
thường, nếu Trái Đất quay quanh trục và chuyển động quanh Mặt Trời, con người và đồ 9
vật ở trên đó sẽ có xu hướng rơi hay bay vào vũ trụ; một vật thể rơi xuống từ trên tháp sẽ chạm đất ở đằng tây xa phía sau tháp bởi vì tháp đã quay đi cùng Trái Đất; và các ví
dụ tương tự. Một câu trả lời cho những vấn đề đó đòi hỏi con người phải có hiểu biết sâu hơn về địa lý.
Dù có những vấn đề như vậy, ở thế kỷ 16 lý thuyết nhật tâm được Nicolaus Copernicus làm sống lại, ở hình thức thích hợp với những quan sát thực tế thời đó. Lý
thuyết này đã giải quyết các vấn đề về chuyển động lùi của hành tinh bằng cách lập luận rằng chuyển
động đó chỉ là cái quan sát thấy bên ngoài và là chuyển động biểu kiến, chứ không phải chuyển
động thực tế: đó là một hiệu ứng thị sai, giống như khi ta vượt qua một chiếc xe thì ta có cảm giác chiếc
xe đó đang chuyển động lùi về phía chân trời. Vấn đề này cũng đã được giải quyết trong hệ thống địa
tâm của Tycho; tuy nhiên, trong khi tìm cách bỏ đi các ngoại ln ơng vẫn giữ lại và coi chuyển động
tiến lùi của các hành tinh là chuyển động thực tế, chuyển động này được Kepler cho rằng có đặc điểm giống một hình xoắn. Trong khi phát triển các lý thuyết của mình về
chuyển động hành tinh, có lẽ Copernicus đã lấy ý tưởng từ trong các cơng trình của nhà thiên văn học người Ấn Độ là Aryabhata cho về thuyết nhật tâm của mình, và các nhà
khoa họcthiên văn học Hồi giáo Nasir al-Din Tusi, Muayyad al-Din al-Urdi và ibn al- Shatir để giải quyết các vấn đề quan trọng trong hệ thống Ptolemy.
2 Những tranh cãi tôn giáo về hệ mặt trời và thuyết nhật tâm
Ngay từ thời Aristarchus, ở Châu Âu ý tưởng nhật tâm đã bị chối bỏ vì bị coi là phản tơn giáo. Tuy vậy, vấn đề này không mang bất kỳ ý nghĩa quan trọng nào trong
gần 2000 năm. Nicolaus Copernicus đã xuất bản cuốn De Revolutionibus mang ý nghĩa quyết
định về hệ thống của ông năm 1543. Copernicus đã bắt đầu viết nó năm 1506 và hồn thành năm 1530, nhưng khơng cho xuất bản tới tận khi ông sắp qua đời. Dù ơng có danh
tiếng tốt với nhà thờ và đã đề tặng cuốn sách cho Giáo hoàng Paul III, cuốn sách được in ra vẫn có phần lời nói đầu không ký tên của Osiander cho rằng hệ thống này chỉ đơn
Nicolaus Copernicus, thế kỷ 16, đã mang lại những bước tiến bộ
lớn cho mơ hình nhật tâm
10
giản là một cách thức tốn học và khơng có ý định phủ định cho thực tế. Có lẽ vì phần lời nói đầu này, tác phẩm của Copernicus gây ra ít cuộc tranh luận về việc nó có phải là
một cuốn sách dị giáo hay khơng trong 60 năm sau đó.Thuật ngữ thời ấy cho một cách thức tính tốn hồn tồn hư cấu như vậy là giả thuyết. Để hiểu được các cuộc tranh cãi
trong vòng 100 năm sau, cần nhớ rằng ý nghĩa hiện đại, một ý tưởng cần được xác nhận hay phủ nhận bởi thực nghiệm, đã chưa xuất hiện cho tới mãi về sau này.Từ sớm trong
những tín đồ Dòng tu Dominic đã có đề xuất cần cấm giảng dạy cuốn sách đó, nhưng dù sao việc này vẫn không xảy ra. Tuy nhiên trong thế kỷ 16, một số người Tin lành đã
kịch liệt phản đối nó. Martin Luther từng nói:Đã có những lời nói về một nhà chiêm tinh mới, người muốn chứng minh rằng Trái Đất chuyển động và tự xoay quanh trục
chứ không phải bầu trời, Mặt Trời, Mặt Trăng, cũng như nếu có một người đang ngồi trong một toa xe hay trên một chiếc tàu chuyển động sẽ thấy rằng anh ta đang đứng yên
trong khi Trái Đất và cây cối chuyển động quanh mình. Nhưng đó là cách mọi thứ đang diễn ra ngày nay: khi một người muốn trở nên thông minh, anh ta sẽ cần phải phát minh
ra một thứ gì đó đặc biệt, và cách thức thực hiện điều đó cũng phải là tốt nhất Kẻ ngu muốn đảo lộn toàn bộ trật tự thiên văn học. Tuy nhiên, như Kinh Thánh linh thiêng đã
dạy chúng ta, cũng như Joshua đã ra lệnh cho Mặt Trời đứng yên chứ khơng phải Trái Đất.
Những câu này được nói ra trong bối cảnh một cuộc tranh luận ở bữa ăn tối và khơng phải là một tun bố chính thức về đức tin. Tuy nhiên, Melanchthon đã phản đối học
thuyết ấy trong nhiều năm. Tuy nhiên, cùng với thời gian, Nhà thờ Công giáo bắt đầu tỏ thái độ cứng rắn
hơn trong việc bảo vệ quan điểm địa tâm. Giáo hoàng Urban VIII, người từng đồng ý cho Galileo xuất bản một cuốn sách về hai lý thuyết thế giới, đã trở thành thù địch với
Galileo; có ý kiến cho rằng Giáo hồng nghĩ Galileo đã nhạo báng ơng trong cuốn Đối thoại về hai hệ thống chính của thế giới, dù khơng có nhiều bằng chứng về điều đó.
Nhân vật đại diện cho các quan điểm truyền thống trong cuộc đối thoại được đặt tên là Simplicio, theo tên nhà triết học cổ điển Simplicius, người thời ấy được những tín đồ
chủ nghĩa Plato mới kính trọng. Cuối cùng, Nhà thờ Cơ đốc trở thành phái đối chọi chủ chốt của quan điểm nhật tâm.
11
Hệ thống được ưa chuộng là hệ Ptolemy, trong đó Trái Đất nằm ở trung tâm vũ trụ và mọi thiên thể đều quay quanh nó. Không nên lẫn lộn việc Cơ đốc giáo ủng hộ
thuyết địa tâm với ý tưởng về một Trái Đất phẳng, là cái chưa từng được nhà thờ ủng hộ. Hệ Tycho đã sắp đặt ổn thỏa các vị trí của mơ hình địa tâm, trong đó Mặt Trời quay
quanh Trái Đất, trong khi các hành tinh quay quanh Mặt Trời giống như mơ hình của Copernicus. Những nhà thiên văn học dòng Tên tại Roma ba đầu khơng đồng ý với hệ
thống của Tycho; người nổi bật nhất là Clavius, ông đã bình luận rằng Tycho đã lẫn lộn mọi thứ trong thiên văn học, bởi vì ơng muốn đặt Sao Hỏa thấp hơn Mặt Trời. Fantoli,
2003, p. 109 Nhưng khi cuộc tranh cãi ngày càng phát triển và Nhà thờ có quan điểm cứng rắn hơn về các ý tưởng của Copernicus sau năm 1616, phái dòng Tên quay sang
ủng hộ việc giảng dạy ý tưởng của Tycho; sau năm 1633, việc sử dụng hệ thống này hầu như đã trở thành bắt buộc. Vì tội đã đề xuất thuyết nhật tâm, Galileo đã bị quản thúc tại
gia trong nhiều năm. Tuy nhiên, nhà thần học đồng thời cũng là một mục sư Thomas Schirrmacher, đã
biện hộ:Trái với truyền thuyết, hệ thống của Galileo và Copernican đã được các quan chức nhà thờ rất quan tâm. Galileo là nạn nhân của chính tính kiêu ngạo của mình, sự đố
kị của các bạn đồng nghiệp và quan điểm chính trị của Giáo hồng Urban VIII. Ơng bị buộc tội khơng phải vì đã chỉ trích
Kinh thánh, mà vì đã bất tn lệnh của giáo hồng.
Các nhà khoa học Cơ đốc cũng nói: Rõ ràng rằng việc đánh giá Galileo
hay Copernicus là dị giáo khơng hề có ý nghĩa gì về mặt thần học hay tổng
quát, Heilbron 1999.
Những cách giải thích về thần học này dù thực sự có xuất hiện hay khơng bên
trong Nhà thờ ở thời Galileo có thể sẽ được xác định từ đoạn văn về Cuộc
Ở thế kỷ 17 Galileo Galilei đã phản đối Nhà thờ Cơ đốc giáo La Mã khi mạnh mẽ ủng hộ thuyết
nhật tâm 12
điều tra khi Nhà thờ tìm cách buộc tội Galileo năm 1633. Trong những lời buộc tội chính thức từ Cuộc điều tra ơng khơng bị kết tội vi phạm mệnh lệnh của giáo hoàng;
thay vào đó, họ buộc tội ơng đã tin vào một học thuyết sai trái do nhiều người giảng dạy, nói rõ ra là Mặt Trời bất động ở trung tâm thế giới và Trái Đất chuyển động.
Trong khi thẩm vấn, Galileo đã bị đặt câu hỏi ngày đầu tiên ông đã nhận được những mệnh lệnh gì trong năm 1616 rõ ràng ám chỉ tới cái mệnh lệnh được kể tới ở trên;
nhưng ông cũng phải trả lời ngày thứ tư về những niềm tin vào hệ thống Copernicus của mình. Lời tuyên án cuối cùng hoàn toàn trùng hợp với bản cáo trạng: ơng phải tự
hồi nghi mãnh liệt về sự dị giáo, nhưng khơng hề có lời đề cập tới sự bất tuân với một mệnh lệnh đặc biệt nào đó.
Chính Hồng y Robert Bellarmine đã coi mơ hình của Galileo có ý nghĩa tuyệt vời trong việc làm đơn giản hố tốn học; có nghĩa là, như một giả thuyết xem bên
trên. Và ơng nói:Nếu có một bằng chứng thực sự cho thấy Mặt Trời nằm ở trung tâm vũ trụ, rằng Trái Đất nằm trên mặt cầu [tầng trời] thứ ba, thì chúng ta cần rất thận trọng
khi giải thích các trích đoạn trong Kinh thánh, với lời dạy trái ngược, và vì thế chúng ta nên nói rằng ta khơng hiểu được chúng chứ khơng nên tuyên bố đó là ý kiến sai lầm khi
nó đã được chứng minh là đúng. Nhưng tơi khơng nghĩ có bất kỳ một bằng chứng nào như vậy bởi vì chưa có ai cho tơi thấy được nó. Koestler 1959,tr447–448
Vì thế ông ủng hộ lệnh cấm giảng dạy ý tưởng đó dưới bất cứ tên gọi nào mà chỉ được coi là giả thuyết. Năm 1616 ông chuyển cho Galileo một mệnh lệnh của giáo hồng
khơng được ủng hộ hay bảo vệ ý tưởng nhật tâm. Trong những cuộc tranh luận trước khi có lệnh cấm, ơng giữ lập trường ơn hồ, bởi vì nhóm Dominic muốn cấm iệc giảng
dạy thuyết nhật tâm ở mọi hình thức. Phiên tồ xử tội dị giáo của Galileo diễn ra năm 1633, đưa ra những sự phân biệt rõ ràng giữa giảng dạy và ủng hộ và bảo vệ coi đó là
đúng. Sự phản đối chính thức thuyết nhật tâm của nhà thờ khơng phải là sự phản đối
với tồn bộ ngành thiên văn học; quả vậy, họ cần các dữ liệu quan sát thiên văn để điều chỉnh bộ lịch của mình. Để ủng hộ các nỗ lực quan sát đó, họ cho phép sử dụng chính
các giáo đường làm đài quan sát thiên văn.
13
Năm 1664, Giáo hoàng Alexander VII đã xuất bản cuốn Index Librorum Prohibitorum Alexandri VII Pontificis Maximi jussu editus gồm tồn bộ những lời chỉ trích từ trước
với các cuốn sách về hệ địa tâm. Một bản copy có chú giải cuốn Principia của Isaac Newton đã được hai linh mục le Seur và Jacquier của dòng Franciscan Minims, hai nhà
tốn học Cơ đốc giáo với lời nói đầu cho rằng cơng trình của tác giả có vẻ ủng hộ thuyết nhật tâm và không thể được giải thích nếu khơng có giả thuyết. Giáo hồng Benedict
XIV ngừng lệnh cấm các tác phẩm viết về hệ nhật tâm ngày 16 tháng 4 năm 1757 dựa trên cơng trình của Issac Newton. Giáo hoàng Pius VII đã đồng ý với nghị định năm
1822 của Giáo đoàn điều tra linh thiêng cho phép in các cuốn sách về lý thuyết nhật tâm tại Roma.
3 Quan điểm của khoa học hiện đại :
Sự nhận thức rằng, theo một nghĩa chặt chẽ, quan điểm nhật tâm cũng khơng hồn tồn chính xác đã được từng bước hoàn thành. Rằng Mặt Trời không phải là trung
tâm của vũ trụ, mà chỉ là một trong vô số những ngôi sao, đã được Giordano Bruno, một người theo chủ nghĩa thần bí tán thành; Galileo cũng có cùng quan điểm, nhưng ơng
hiếm khi đề cập tới vấn đề này, có lẽ vì khơng muốn gây gổ với nhà thờ. Trong thế kỷ 18 và 19, địa vị Mặt Trời chỉ là một trong số nhiều ngôi sao khác dần trở nên rõ rệt. Tới
thế kỷ 20, thậm chí trước khi con người khám phá ra rằng có nhiều hệ ngân hà, đây khơng còn là một vấn đề gây tranh cãi nữa.
14
Hệ nhật tâm trong tác phẩm De Revolutionibus Orbium Coelestium của Nicolaus Copernicus
Thậm chí nếu cuộc tranh luận chỉ giới hạn trong Hệ Mặt Trời, Mặt Trời khơng nằm ở trung tâm hình học của bất cứ quỹ đạo của hành tinh nào, mà nói chính xác hơn,
nó nằm ở một tiêu điểm của quỹ đạo hình elíp. Hơn nữa, khi mở rộng ra rằng khối lượng của một hành tinh không thể bị bỏ qua khi so sánh với khối lượng của Mặt Trời,
tâm hấp dẫn của Hệ Mặt Trời hơi dịch chỗ ra khỏi tâm Mặt Trời. Các khối lượng của các hành tinh, chủ yếu là Sao Mộc, bằng khoảng 0,14 so với khối lượng Mặt Trời. Vì
thế một nhà thiên văn học lý thuyết trên một ngoại hành tinh sẽ quan sát thấy hiện tượng lắc lư.
Từ bỏ toàn bộ quan điểm đứng yên có liên quan tới nguyên lý tương đối. Trong khi, thừa nhận một vũ trụ khơng biên giới, rõ ràng rằng khơng có vị trí ưu tiên trong vũ
trụ, cho tới khi sự thừa nhận thuyết tương đối hẹp của Albert Einstein, ít nhất sự tồn tại của một lớp ưu tiên trong các hệ qn tính tuyệt đối đứng n được cơng nhận, đặc
biệt ở hình thức các lý thuyết aether truyền ánh sáng. Một số hình thức Machs principle
15
coi hệ quy chiếu là đứng yên và có xem xét tới các khối lượng trong vũ trụ có các đặc tính đặc biệt.
PHẦN KẾT LUẬN
Ngày nay với trình độ khoa hoc và cơng nghệ đã dần dần đi đến khẳng định khoa học rằng Mặt Trời,trái Đất và các hành tinh khác đều nằm trong khoảng không gian vô
tận của vũ trụ và hệ Mặt Trời thuộc Dãi Ngân Hà, bao gồm Mặt Trời ở trung tâm và tập hợp các hành tinh Thủy Tinh, Kim Tinh, Trái Đất, Hỏa Tinh, Mộc Tinh, Thổ Tinh,
Thiên Vương Tinh, Hải Vương Tinh, tiểu hành tinh Diêm Vương Tinh,…, vệ tinh Mặt Trăng, sao chổi, thiên thạch, các đám bụi khí....và Trái Đất Ở vị trí thứ 3 trong hệ
Mặt Trời,cách Mặt Trời 149,6 triệu km.Trái Đất nhận được lượng nhiệt và ánh sáng phù hợp để sự sống có thể phát sinh và phát triển .Trái Đất có 2 chuyển động là tự quay
quanh trục và quay quanh Mặt Trời. Đối với nước ta hiện nay đại đa số mọi người đều có những nhận thức đúng đắn
về hệ mặt trời.Tuy nhiên,bên cạnh cũng còn một số người chưa co nhận thức đúng đắn về hệ mặt Trời và các hành tinh kể cả Trái Đất mà chúng ta đang sinh sống nên với
chiến lược giáo dục đúng đắn và khoa hoc của Đảng ta đã đưa vào chương trình lớp 10 những kiến thức căn bản về Vũ Trụ,hệ Mặt Trời,Trái Đất và các hành tinh....với mong
muốn thế hệ trẻ khơng những có những kiến thức về Vũ Trụ,hệ Mặt Trời,Trái Đất và các hành tinh mà còn hy vọng với phẩm chất và trí tuệ của con người Việt Nam chúng ta
sẽ có những kiến thức cao hơn,rộng hơn sâu sắc hơn về Trái Đát,Vũ Trụ đưa khoa học về Vũ Trụ của Việt Nam sánh ngang tầm với các nước phát triển hiện nay.
Với kiến thức và sự cố gắng em đã hoàn thành về đề tài “Nhận thức về hệ mặt trời và thuyết nhật tâm hệ từ Cổ đại đến hiện nay” với niềm mong muốn góp một phần nhỏ
giúp mọi người Việt Nam có những kiến thức khoa học về hệ Mặt Trời.Song tiểu luận chắc chắn không tránh khỏi những sai sót.Kính mong nhận được những nhận xét đánh
giá của thầy hướng dẫn để em rút kinh nghiệm trong những bài sau. Em xin chân thành cảm ơn và trân trọng kính chào
16
Tài liệu tham khảo:
Giáo trình triết học dùng cho học viên cao học va nghiên cứu sinh,Nhà xuất bản lí luận chính trị-Hà Nội 2006.
Giáo trình tiết học Mác-LêNin dùng trong các trường Đại học,cao dẳng nhà xuất bản chính trị quốc gia xuất bản năm 2004.
Đại cương lịch sử triết học nhà xuất bản Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2001. Fantoli, Annibale 2003. Galileo—For Copernicanism and the Church, 3rd English
edition, tr. George V. Coyne, SJ. Vatican Observatory Publications, Notre Dame, IN. SBN 88-209-7427-4.
Heath, T.L. 1913. Aristarchus of Samos, the ancient Copernicus: a history of Greek astronomy to Aristarchus, Oxford, Clarendon; reprinted New York, Dover, 1981
Heilbron, J. L. 1999. The Mặt trời in the Church:Cathedrals as Solar Observatories. Harvard University Press, Cambridge, MA. ISBN 0674854330
Hoyle, Sir Fred 1973. Nicolaus Copernicus. Heinemann Educational Books Ltd., London. ISBN 043554425X
Koestler, Arthur 1959. The Sleepwalkers: a history of mans changing vision of the vũ trụ. Hutchinson, London. ISBN 0140209727 1977 Penguin reprint.
17

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (17 trang)

×