1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Kinh nghiệm quốc tế.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (510.94 KB, 92 trang )


cơ sở hạ tầng của KCN, hay các chính sách mở rộng các khu công nghiệp phụ trợ.
I.3.3 Marketing Mix. Trên thực tế để thu hút FDI chính quyền các địa phương phải chỉ ra
được sự hấp dẫn của môi trường đầu tư để thu hút sự chú ý từ các nhà đầu tư. Đây là việc cung cấp thông tin đầu vào cho việc ra quyết định đầu tư. Việc dẫn
đến ra quyết định đầu tư hay không phụ thuộc rất nhiều vào kỹ năng quảng bá giới thiệu về môi trường đầu tư của địa phương. Tuy nhiên cách giới thiệu,
quảng bá có thể lúc này hiệu quả, lúc khác không hoặc đối với quốc gia này hiệu quả, đối với quốc gia khác thì ngược lại. Vì vậy ở đây cũng cần áp dụng
các chính sách Marketting phù hợp sao cho cách giới thiệu hiệu quả, thu hút được các nhà đầu tư theo đúng mục tiêu đã đề ra. Do vậy luận văn áp dụng mơ
hình Marketting mix với việc trả lời các câu hỏi để có các biện pháp thu hút FDI của Hải Dương được hiệu quả nhất: Thu hút FDI thông qua những kênh
nào thì hiệu quả cao? Đầu tư cho việc xây dựng bộ máy chuyên nghiệp để quảng bá hay thuê ngoài? Cách thức thực hiện khuyếch trương như thế nào?
Mục tiêu giới thiệu nhằm lôi kéo những nhà đầu tư ở nước nào, lĩnh vực nào? Chỉ rõ những điều kiện thật sự thuận lợi của môi trường đầu tư tại địa
phương?. I.4 Kinh nghiệm trong nước và quốc tế trong thu hút FDI

I.4.1 Kinh nghiệm quốc tế.


Trong gần hai thập kỷ trở lại đây FDI là nguồn vốn bổ sung quan trọng nhất cho các nước đang phát triển để phần nào giải quyết bài toán vốn, cơng
nghệ, và thị trường trong chiến lược tăng trưởng. Chính vì vậy, các nước đang phát triển đã và đang thực hiện nhiều chính sách thu hút FDI. Những thay đổi về
chính sách nhằm tăng cường thu hút FDI là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng FDI trong thập niên 1990 và dẫn đến sự phục hồi nhẹ của
FDI sau giai đoạn suy thoái 2001-2003 vừa qua.
17
Thống kê hiện tại của UNCTAD ghi nhận nhiều thay đổi trong chính sách thu hút FDI của hơn 100 quốc gialãnh thổ trên thế giới. Tùy vào điều kiện kinh
tế xã hội cụ thể, các biện phápchính sách thu hút FDI của từng nước có những đặc điểm riêng. Vì vậy, trong thực tế khơng hề tồn tại một mơ hình kiểu mẫu đối
với thu hút FDI. Ngun mẫu kinh nghiệm của một quốc gia như Trung Quốc trong thu hút FDI không mang ra trong điều kiện cụ thể của Việt Nam. Vì vậy,
nghiên cứu này tổng kết một số kinh nghiệm trong thu hút FDI không giới hạn trong một hay một nhóm nước. Thay vào đó, tổng kết kinh nghiệm thu hút FDI
trước hết được đưa ra trên cơ sở phân tích những nhóm chính sáchbiện pháp chính. Ví dụ cụ thể của một hay một số quốc gia nào đó sẽ được chọn lọc để
minh họa cho từng nhóm chính sáchbiện pháp cụ thể. Với cách tiếp cận vấn đề như trên, kinh nghiệm thu hút FDI của các nước đang phát triển được đúc rút
theo sau nhóm chính sách, biện pháp chủ yếu. 1. Ưu đãi tài chính có định hướng tạo động lực thu hút FDI
Ưu đãi tài chính là một biện pháp phổ biến thường được sử dụng để thu hút các nhà đầu tư nước ngồi. Ưu đãi tài chính có thể có nhiều hình thức: miễn thuế,
giảm thuế, hỗ trợ tài chính dưới một số hình thức trợ cấp. Với xu hướng chung của tự do hóa thương mại và đầu tư hiện nay là không sử dụng các biện pháp trợ
cấp trực tiếp và gián tiếp, ưu đãi về thuế trở thành công cụ chủ yếu trong số những biện pháp ưu đãi tài chính mà chính phủ các nước đưa ra. Theo
Blomstrom và Kokko 2003, ưu đãi tài chính có thể là một chính sách thu hút FDI quan trọng nhưng khơng có ý nghĩa quyết định đối với các nhà đầu tư. Theo
quan điểm này, các nhà đầu tư quan tâm nhiều hơn đến các biến kinh tế vĩ mơ cơ bản như dung lượng thị trường, trình độ cơng nghệ, chi phí kinh doanh lao động,
cơ sở hạ tầng, và môi trường thể chế hơn là những ưu đãi cụ thể về thuế. Tuy nhiên, trong điều kiện các quốc gia đều cố gắng cải thiện môi trường đầu tư,
giảm chi phí kinh doanh thì những ưu đãi tài chính nhất định có thể là một yếu tố
18
ảnh hưởng đến quyết định đầu tư. Vì vậy, đa số các nhà lập chính sách đều cho rằng ưu đãi tài chính là cần thiết để thu hút đầu tư nước ngoài.
Malaysia, Singapore, Thailand, và một số quốc gia Đơng Nam á khác là những ví dụ thành cơng cho việc sử dụng ưu đãi tài chính có định hướng cụ thể.
Những quốc gia này đều đưa ra những ưu đãi cho FDI vào những ngành công nghiệp mũi nhọn
4
. Singapore ban hành Luật Khuyến khích Mở rộng Kinh tế
5
, cho phép giảm 90 thuế của các khoản lợi nhuận từ hoạt động xuất khẩu, đồng
thời hoàn thuế co các chi phí liên quan đến sản xuất hàng xuất khẩu. Cũng trong năm này, Philipines cũng xác định một danh sách hạn chế các ngành cơng
nghiệp ưu tiên và ban hành Luật Khuyến khích Đầu tư với một loại các biện pháp miễn thuế nhập khẩu, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, và ba năm sau đó
ban hành Luật Khuyến khích Xuất khẩu mở rộng những ưu đãi dành riêng cho FDI sản xuất hàng xuất khẩu
6
. Để cạnh tranh với các nước láng giềng, Malaysia ban hành Luật Khuyến khích Đầu tư năm 1968 với các biện pháp ưu đãi dành
cho đầu tư vào khu vực sử dụng nhiều lao động và sản xuất hàng xuất khẩu. Thailand cũng nhập cuộc sau đó bằng Luật Khuyến khích Đầu tư Cơng nghiệp
theo báo cáo của Charlton, 2003. Cho đến thập kỷ 80 và 90 thì những ưu đãi tài chính có định hướng cho
một số ngành công nghiệp cụ thể, hoặc khu vực sử dụng nhiều lao động, sản xuất hàng xuất khẩu… được đưa ra bởi tất cả các nước ASEAN. Thực tế đó làm tăng
tính cạnh tranh giữa các nước trong thu hút FDI. Mức độ cạnh tranh trong thu hút FDI trong khu vực trở nên khốc liệt hơn do những chính sách ưu đãi tài chính và
sự hấp dẫn của Trung Quốc. Từ nửa cuối thập niên 1980, Trung Quốc trở thnh
4
4
Cần lu ý rằng bối cảnh của việc đa ra những u đãi này ở Malaysia và Singapore là cuối thËp kû 1960. LËp ln chđ u cđa nh÷ng u đãi và một số chính sách tơng tự dựa vào quan điểm về ngành công nghiệp non trẻ. Trong
giai đoạn hiện nay, về cơ bản lập luận này không còn phù hợp vì thực tế là chỉ trừ một số trờng hợp cụ thể, hầu hết các ngành công nghiệp non trẻ đều không trởng thành trong khuôn khổ các hàng rào bảo hộ. Quan trọng hơn
là những ràng buộc chính sách trong khuôn khổ WTO và các thỏa thuận tự do hóa thơng mại khác hầu nh không cho phép việc thực hiện các biện pháp u đãi mang tính phân biệt đối xử.
5
5
Economic Expansion Incentives Act. 6
6
Investment Incentives Act vµ Export Incentives Act.
19
nước đang phát triển đi đầu trong thu hút dòng FDI từ nước ngồi. Từ giữa thập kỷ 90, sự hấp dẫn của Trung Quốc trong con mắt của các nhà đầu tư nước ngoài
dẫn đến sự hình thành của chiến lược Trung Quốc cộng. Với chiến lược này, nhiều nhà đầu tư nước ngồi có xu hướng coi Trung Quốc là địa bàn đầu tư chiến
lược, trong khi vẫn có thể cân nhắc khả năng đầu tư vào các nước ASEAN. Mức độ cạnh tranh trong thu hút FDI ngày càng tăng làm cho những ưu đãi
tài chính khơng thể chỉ dừng lại ở phạm vi các quy định được thể chế hóa bằng luật. Ngồi những ưu đãi chung theo quy định, chính quyền trung ương và địa
phương ở các nước đang phát triển còn đưa ra những ưu đãi tài chính bổ sung cho từng trường hợp cụ thể, đặc biệt là với các dự án đầu tư giá trị lớn. Năm
1996, khi General Mo GM cân nhắc kế hoạch đầu tư một dây truyền sản xuất và lắp ráp ô tô trị giá 500 triệu , Tổng thống Philipines Fidel Ramos đã trực tiếp
gửi thu cho chủ tịch hãng này là John Smith, với hứa hẹn ưu đãi gồm 8 năm miễn giảm thuế; 5 miễn giảm cho tất cả các khoản thuế mà GM có thể phải trả trong
thời gian sau đó; miễn giảm với nhập khẩu tồn bộ máy móc thiết bị, và một khoản trợ cấp đáng kể về đào tạo 5.000 lao động cho nhà máy. Cuối cùng, GM
quyết định đầu tư vào Thailand vì chính phủ nước này hứa hẹn những điều khoản tương tự, cộng thêm với hồn 100 thuế nhập khẩu ngun liệu thơ, và một
khoản trợ cấp trị giá 15 triệu cho việc thành lập một trung tâm đào tạo và nghiên cứu của GM tại nước này theo tài liệu của Fletcher, 1996.
Như vậy, dù ưu đãi tài chính chỉ là một trong số các biện pháp khuyến khích đầu tư nhưng sự gia tăng cạnh tranh giữa các nước đang phát triển trong
thu hút FDI làm cho những ưu đãi này trở nên phổ biến và đa dạng về phạm vi, mức độ ưu đãi và tính thể chế hóa của ưu đãi. Bên cạnh những quy định ưu đãi
đã được thể chế hóa thành luật, cạnh tranh thu hút FDI bằng những ưu đãi tài chính còn được thực hiện bởi các quyết định ưu đãi từ cấp lãnh đạo chính trị tối
cao, và là nguyên nhân dẫn đến những sửa đổi pháp lý nhằm tăng sức hút với nhà nhà đầu tư nước ngoài.
20
2. Thu hút sự tham gia của đầu tư tư nhân vào cải thiện điều kiện cơ sở hạ tầng.
Cơ sở hạ tầng được xem xét trên khía cạnh: mức độ sẵn có, chất lượng hạ tầng, và chi phí sử dụng hạ tầng là yếu tố quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế.
Những yếu tố này cũng là thành phần quan trọng của môi trường đầu tư, và vì vậy có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng thu hút FDI. Khi cân nhắc quyết định
đầu tư, cơ sở hạ tầng là một trong những yếu tố đầu tiên mà các TNC quan tâm vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí hoạt động kinh doanh tại quốc gia sở tại và cả
chi phí liên kết dịch vụ
7
. Nhiều nhà nghiên cứu đã chứng tỏ tầm quan trọng của cơ sở hạ tầng đối với các nhà đầu tư nước ngoài xem thêm báo cáo của Loree và
Guisingerr, 1995; hoặc Mody và Srinivasan, 1996. Hạ tầng trong thu hút FDI thường gồm ba nhóm chính: i hạ tầng giao
thơngl ii hạ tầng thông tin, viễn thông; iii hạ tầng cung cấp năng lượng. Trong điều kiện cụ thể của các nước đang phát triển, cải thiện điều kiện cơ sở hạ tầng
đòi hỏi nguồn lực khổng lồ là một thách thức lớn. Vì vậy, giải pháp thường được lựa chọn trong điều kiện hạ chế về vốn để cải thiện cơ sở tổng thể i thiết lập các
khu vực địa lý đặc biệt, dưới dạng khu công nghiệp, khu chế xuất, đặc khu kinh tế… để tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng; và ii huy động tham gia của khu vực tư
nhân vào xây dựng cơ sở hạ tầngl iii hoặclà sự kết hợp của cả hai giải pháp trên, nghĩa là huy động sự tham gia của khu vực tư nhân vào xây dựng và vận hành cơ
sở hạ tầng co các khu vực địa lý đặc biệt để thu hút FDI. Liên quan đến đầu tư cơ sở hạ tầng để kích thích sự tăng trưởng kinh tế,
thu hút FDI, nhiều tổ chức quốc tế có trọng tâm hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế các nước đang phát triển gặp nhau ở quan điểm khuyến khích sự tham gia của
khu vực tư nhân vào đầu tư, cung cấp cơ sở hạ tầng. Cơ sở dữ liệu của Ngân hàng Thế giới thống kê giá trị các dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của khu
7
7
Chi phí liên kết dịch vụ là một khái niệm quan trọng trong địa lý kinh tế, chỉ chi phí liên kết, vận hành các chi nhánh đặt tại các quốc gia khác nhau của một TNC trong quá trình phi tập trung hóa, phân tán hoạt động kinh
doanh ra nhiều quốc gia khác nhau nhằm tận dụng lợi ích tõ kinh tÕ vÞ trÝ.
21
vực tư nhân làm chủ đầu tư giai đoạn 1990-2001 cho thấy mặc dù sau khủng hoảng châu á, cộng với suy thoái của FDI sau năm 2000 làm cho giá trị đầu tư cơ
sở hạ tầng của khu vực tư nhân giảm sút nhưng về giá trị, sự tham gia của khu vực tư nhân trong cung cấp cơ sở hạ tầng là khá quan trọng. Cũng cần lưu ý rằng
mặc dù huy động sự tham gia của tư nhân vào cung cấp cơ sở hạ tầng là một giải pháp phổ biến và ngày càng trở nên quan trọng trong điều kiện hiện nay, nhưng
thống kê chính thức cho thấy các nhà đầu tư tư nhân chủ yếu tập trung vào lĩnh vực viễn thông và cung cấp điện năng. Cơ sở hạ tầng giao thông chỉ nhận được
khoảng 18 tổng giá trị đầu tư tư nhân trong giai đoạn 1990-2001. Vì vậy, đầu tư công cộng vẫn là cơ bản và cần thiết, đặc biệt là trong xây dựng cơng trình giao
thơng, để cải thiện môi trường đầu tư trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài đang ngày càng gay gắt như hiện nay.
3. Thu hút FDI thông qua các cơ quan tổ chức xúc tiến đầu tư. Từ đầu thập kỷ 1990, thành lập các cơ quan xúc tiến đầu tư đã trở thành
một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách thu hút FDI của hầu hết các quốc gia. Đến thời điểm hiện nay, không có thống kê cụ thể về số lượng các cơ
quan xúc tiến đầu tư. Theo thống kê sơ bộ của UNCTAD, đến cuối năm 2001, có ít nhất 160 cơ quan xúc tiến đầu tư quốc gia và khoảng 250 các tổ chức thuộc
một số địa phương tham gia tích cực vào xúc tiến đầu tư xem thêm trong báo cáo UNCTAD, 2001. Thông thường, các tổ chức xúc tiến đầu tư thực hiện gồm
bốn mục tiêu gồm i tạo cơ hội đầu tư; ii tư vấn về chính sách; iii cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho nhà đầu tư; và iv xây dựng hình ảnh quốc gia. Để đạt
được những mục tiêu này, các tổ chức xúc tiến đầu tư trên thế giới thường lựa chọn thực hiện các hoạt động sau đây:
- Quảng cáo hình ảnh, thơng tin đầu tư trên các phương tiện thích hợp; - Tham gia vào các triển lãm, hội thảo đầu tư ở các cấp độ khác nhau;
22
- Tổ chức các đồn làm việc xúc tiến đầu tư, tìm hiểu cơ hội đầu tư, tìm hiểu đối tác;
- Cung cấp thơng tin theo yêu cầu của các nhà đầu tư tiềm năng; - Thực hiện các cuộc vận động, quảng bá cơ hội đầu tư trong nước;
- Cung cấp các dịch vụ cần thiết cho các nhà đầu tư, đặc biệt trong giai đoạn tìm hiểu và thiết kế tiền khả thi;
- Cung cấp các dịch vụ tư vấn, hỗ trợ sau đầu tư. Tuy vào giai đoạn cụ thể mà một tổ chức xúc tiến đầu tư có thể ưu tiên các
nguồn lực cho một trong số bốn mục tiêu kể trên. Theo kinh nghiệm của nhiều cơ quan xúc tiến đầu tư như Cơ quan Xúc tiến Đầu tư Malaysia MIDA, ủy ban
Điều phối Đầu tư Indonesia BKPM, Hội đồng Phát triển Kinh tế Singapore EDB, hay Hội đồng Đầu tư Thái Lan BOI, trong giai đoạn hoạt động ban đầu
những tổ chức này thường tập trung vào marketing hình ảnh quốc gia. Từ đầu thập niên 1990 đến nay, trọng tâm hoạt động của những cơ quan này chuyển sang
tạo cơ hội đầu tư theo báo cáo của Wellss và Wint, 2001. Về thể chế hoạt động, các cơ quan xúc tiến đầu tư có nhiều hình thức thể
chế hoạt động khác nhau. Hình thức phổ biến nhất là một cơ quan xúc tiến đầu tư trực thuộc chính phủ như trường hợp của Anh, Canada, Indonesia, Thailand.
Bên cạnh đó, thể chế hỗn hợp dưới dạng một tổ chức do chính phủ hỗ trợ và định hướng hoạt động nhưng giao cho một tổ chức tư nhân điều phối cũng khá phổ
biến như trường hợp của Malaysia, Singapore, Scotland, Iceland, và Jamaica. Cá biệt ở một số nước, cơ quan xúc tiến đầu tư là một tổ chức cung cấp dịch vụ
của tư nhân như Costa Rica nhưng kinh nghiệm cho thấy hoạt động của những tổ chức dịch vụ tư nhân trong lĩnh vực này thường kém hiệu quả xem thêm báo
cáo của Wells và Wint, 2001. Tuy nhiên, dù có được tổ chức dưới hình thức nào đi chăng nữa thì trung bình 70 kinh phí hoạt động của các tổ chức xúc tiến đầu
tư là do chính phủ tài trợ.
23
Ngồi ra, cần nhấn mạnh rằng xúc tiến đầu tư không phải chỉ đơn thuần là cơng việc của chính quyền trung ương. Thực tế trong thời gian qua chứng kiến sự
phát triển nhanh chóng của các tổ chức xúc tiến đầu tư địa phương. Các tổ chức này có thể hoạt động như một phần của cơ quan xúc tiến đầu tư quốc gia, hoặc
độc lập hoàn toàn với những cơ quan này. Về cơ bản, mục tiêu hoạt động của những tổ chức xúc tiến đầu tư cấp vùng và địa phương cũng giống như tổ chức
xúc tiến đầu tư quốc gia nhưng ở phạm vi vùngđịa phương tương ứng. Dù hiệu quả của các cơ quan xúc tiến đầu tư trong thu hút FDI là vấn đề chưa được tổng
kết một cách hệ thống, nhưng Morisset 2003 sử dụng kết quả điều tra của ngân hàng Thế giới về hoạt động của 58 tổ chức xúc tiến đầu tư và rút ra kết luận về
ảnh hưởng tích cực của các tổ chức này đối với khả năng thu hút FDI của các vùng lãnh thổ và địa phương.
4. Tích cực cải thiện mơi trường đầu tư địa phương, giảm thiểu thủ tục hành chính là chính sách thu hút đầu tư chủ đạo.
Cải thiện môi trường đầu tư, giảm thiểu thủ tục hành chính là một nỗ lực phổ biến và có lẽ là quan trọng nhất là chính phủ các nước trong thu hút FDI.
Phản ứng về chính sách của hầu hết các nước trong giai đoạn sụt giảm FDI 2001 - 2003 là tiếp tục đưa ra những biện pháp cụ thể nhằm cải thiện mơi trường đầu
tư. Tính trung bình trong giai đoạn 1991 - 2004, khoảng 87 những thay đổi về chính sách do các quốc gia thực hiện có chiều hướng thuận lợi hơn cho FDI .
Trong năm 2004, trong tổng số 271 thay đổi chính sách thực hiện bởi 102 nền kinh tếlãnh thổ trên thế giới, có đến 235 thay đổi chính sách theo hướng có
lợi ích các nhà đầu tư nước ngoài - Algeria, Cộng hoà Congo, Hy Lạp, Ghana, Madagascar, Mauritania, Mauritus, Senegal, Tanzania, và Uganda thực hiện
những biện pháp đơn giản hoá các quy định về quản lý và cấp phép đầu tư; Nigeria cho phép các ngân hàng nước ngoài được phép mua lại cổ phần và sát
nhập với các ngân hàng trong nước; Cộng hoà Congo, và Tanzania giảm thuế
24
chuyển lợi nhuận ra nước ngoài. Hy lạp ban lãnh đạo luật chống độc quyền nhằm cải thiện điều kiện cạnh tranh thị trường.
Bảng 1. Thay đổi chính sách thu hút FDI, 1991 - 2004
Năm Số quốc gia
Số thay đổi chính sách Tổng số
Cải thiện Xấu đi
1991 34
82 80
2 1992
43 79
79 1993
57 102
101 1
1994 49
110 108
2 1995
64 112
106 6
1996 65
114 98
16 1997
76 151
135 16
1998 60
145 136
9 1999
63 140
131 9
2000 69
150 147
3 2001
71 208
194 14
2002 70
248 236
12 2003
82 244
220 24
2004 102
271 235
36 Ở Châu Á, hai nền kinh tế thu hút FDI lớn nhất thế giới là Trung Quốc và
Ấn Độ trong thời gian gần đây tiếp tục đưa ra các thay đổi chính sách nhằm cải thiện môi trường đầu tư. Tại Trung Quốc,Danh mục Hướng dẫn Đầu tư công
nghiệp được sửa đổi đưa thêm vào các cam kết tự do hóa đầu tư trong khn khổ WTO trong đó một số lượng lớn các ngành công nghiệp mới được đưa vào
danh mục các ngành ưu tiên kêu gọi đầu tư, nới lỏng các hạn chế tham gia của
25
nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ tài chính, phân phối, truyền thơng và giáo dục, đặc biệt các hạn chế tham gia của nước ngoài vào các lĩnh vực dịch vụ tài chính,
phân phối, truyền thông và giáo dục, các hạn chế về tỷ lệ sở hữu và giới hạn khu vực địa lý có hiệu lực trong thời gian trước đây được bãi bỏ hồn tồn. Cùng với
sự sửa đổi này, Trung Quốc thơng qua Kế hoạch phát triển Kinh tế Xã hội 2005 nhấn mạnh đến ưu tiên nâng cao chất lượng FDI theo hướng tăng cường hàm
lượng giá trị gia tăng, khuyến khích liên kết giữa khu vực FDI và khu vực kinh tế trong nước, ưu đãi đối với các nhà đầu tư cam kết thực hiện chuyển giao công
nghệ nghiên cứu và triển khai R D. Tại Ấn Độ, Ủy ban xúc tiến FDI ra đời năm 2004 thay cho Hội đồng đầu
tư Quốc gia, ngoài chức năng định hướng và điều phối đầu tư, Ủy ban Xúc tiến FDI còn có chức năng hoạt động như cơ quan xúc tiến đầu tư quốc gia, thực hiện
các hoạt động như phân tích trong phần 3 ở trên. Ngồi ra, giới hạn về sở hữu nước ngoài trong các ngành dịch vụ hàng khơng, tài chính ngân hàng, bảo hiểm,
xuất bản, truyền thơng, và đặc biệt là dầu khí cũng được nới lỏng hoặc bãi bỏ. Một loạt những động thái tương tự nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính, nới
lỏng các hạn chế đầu tư cũng được đưa ra ở Indonesia và Thailand. Đầu năm 2006, chính phủ Indonêsia bãi bỏ quy định yêu cầu các nhà đầu tư phải chuyển
nhượng một số cổ phần nhất định cho các doanh nghiệp trong nước sau một thời gian hoạt động, bãi bỏ quy định về giới hạn 30 năm dành cho hiệu lực của các dự
án đầu tư, cam kết bãi bỏ hồn tồn các rào cản hành chính đối với đầu tư cả trong nước và nước ngoài.
Cần nhấn mạnh rằng những thay đổi chính sách thường thấy nhất là tự do hóa, nới lỏng các hạn chế về chính sách liên quan trực tiếp và gián tiếp với đầu tư
nước ngồi. Những biện pháp khuyến khích, ưu đãi dành cho FDI được thực hiện ở mức độ hạn chế hơn. Điều này cũng một phần xuất phát từ thực tế là rất nhiều
chính phủ đã tích cực cạnh tranh trong việc đưa ra các biện pháp ưu đãi tài chính để thu hút FDI. Vì vậy, những thay đổi chính sách gần đây thường là theo
26
hướng tự do hóa, nới lỏng các hạn chế khơng chỉ về chính sách trực tiếp tác động đến FDI mà còn là các hạn chế chính sách thương mại, di chuyển dịch vụ, tiêu
chuẩn kỹ thuật và công nghệ. 5. Tham gia tích cực vào các hiệp định đầu tư song phương và đa phương
là một chiến lược quan trọng để thu hút FDI. Bên cạnh những thay đổi về chính sách thu hút FDI của từng nước, đàm
phán các hiệp định khuyến khích đầu tư song phương và đa phương cũng là một đặc điểm nổi bật trong những thay đổi về thể chế đáng chú ý trong thời gian gần
đây. Liên quan đến các hiệp định đầu tư song phương, nổi lên một số vấn đề chính sau đây. Thứ nhất, số lượng các hiệp định đầu tư song phương BIT và các
hiệp định tránh đáng trùng thuế DTT ngày càng gia tăng so với đầu thập kỷ 1990. Thứ hai, các quy định quốc tế về hợp tác và tự do hóa đầu tư ngày càng trở
nên phức tạp và chi tiết. ở các diễn đàn tự do hóa thương mại và đầu tư quốc tế, các biện pháp ưu đãi, tự do hóa đầu tư thường được cân nhắc trong tổng thể rộng
hơn của hệ thống các chính sách tự do hóa và hợp tác kinh tế toàn diện. Thứ ba, trong khoảng thời gian hơn 10 năm qua, số lượng BIT giữa các quốc gia này
nhằm tránh tình trạng dòng FDI vào các nước đang phát triển chỉ tập trung vào một số lượng hạn chế các nền kinh tế.
Bên cạnh các hiệp định đầu tư song phương và hiệp định tránh đánh trùng thuế, các thỏa thuận đa phương về tự do hóa, ưu đãi đầu tư cũng không ngừng gia
tăng như là một phần của thỏa thuận hợp tác kinh tế vùng, liên vùng, và hợp tác kinh tế tồn cầu.
Thơng thường những thỏa thuận này đề cập đến cam kết của các quốc gia thành viên đối với tự do hóa thương mại thúc đẩy trao đổi thương mại, cam kết tự
do hóa và hộ đầu tư giữa các quốc gia thành viên. So sánh với các hiệp định đầu tư song phương thì các hiệp định đầu tư đa phương IIA có đối tượng điều chỉnh
và nội dung rộng hơn. IIA thường bao gồm một loạt các quy định và ưu đãi liên quan đến giao dịch về hàng hóa, dịch vụ và di chuyển vốn, cũng như lao động
27
giữa các quốc gia thành viên. Xu hướng gia tăng các thỏa thuận đầu tư đa phương trong thời gian qua là một hệ quả của tồn cầu hóa, khu vực hóa nền kinh tế thế
giới. Tính đến cuối năm 2004, số lượng các thỏa thuận đầu tư đa phương là 209, với khoảng 87 các thỏa thuận được đàm phán trong thập kỷ 1990. Ngay trong
năm 2004 và nửa đầu năm 2005, đã có 32 thỏa thuận đầu tư đa phương được ký kết hoặc đang trong quá trình đàm phán.
Động thái thay đổi chính sách thu hút FDI trong thời gian gần đây cho thấy mức độ cạnh tranh thu hút FDI ngày càng gia tăng giữa các quốc gia. Bên cạnh
những biện pháp tự do hóa, ưu đãi đầu tư, tham gia tích cực vào các thỏa thuận song phương và đa phương nhằm thúc đẩy thương mại, đầu tư, và hợp tác kinh tế
có tác dụng hỗ trợ tích cực cho môi trường đầu tư trong nước.

I.4.1 Kinh nghiệm trong nước.


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (92 trang)

×