1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Kinh nghiệm trong nước.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (510.94 KB, 92 trang )


giữa các quốc gia thành viên. Xu hướng gia tăng các thỏa thuận đầu tư đa phương trong thời gian qua là một hệ quả của tồn cầu hóa, khu vực hóa nền kinh tế thế
giới. Tính đến cuối năm 2004, số lượng các thỏa thuận đầu tư đa phương là 209, với khoảng 87 các thỏa thuận được đàm phán trong thập kỷ 1990. Ngay trong
năm 2004 và nửa đầu năm 2005, đã có 32 thỏa thuận đầu tư đa phương được ký kết hoặc đang trong quá trình đàm phán.
Động thái thay đổi chính sách thu hút FDI trong thời gian gần đây cho thấy mức độ cạnh tranh thu hút FDI ngày càng gia tăng giữa các quốc gia. Bên cạnh
những biện pháp tự do hóa, ưu đãi đầu tư, tham gia tích cực vào các thỏa thuận song phương và đa phương nhằm thúc đẩy thương mại, đầu tư, và hợp tác kinh tế
có tác dụng hỗ trợ tích cực cho mơi trường đầu tư trong nước.

I.4.1 Kinh nghiệm trong nước.


Trong hai thập kỷ gần đây, số lượng các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam đã tăng một cách đáng kể. Tuy nhiên kết quả thu hút FDI tại mỗi
địa phương lại có nhiều sự khác biệt. Một số tỉnh rất thành công trong việc thu hút FDI như Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh, ngược lại một số tỉnh kết quả
thu hút FDI rất thấp. Dưới đây là kinh nghiệm điển hình của một số tỉnh Nam Bộ trong việc thu hút FDI.

I.4.1.1 Kinh nghiệm của Thành phố Hồ Chí Minh.


Tính đến cuối năm 2005, Thành phố Hồ Chí Minh dẫn đầu cả nước về thu hút FDI với 2,265 dự án, đạt tổng số vốn gần 16 tỷ USD, chiếm 24 trong tổng
số FDI vào Việt Nam trong suốt thời kỳ 1988 - 2005. Nghiên cứu kết quả thu hút FDI của thành phố Hồ Chí Minh cho phép rút ra một số bài học kinh nghiệm cụ
thể sau: Về cải cách thủ tục hành chính:
28
- Trong những năm qua UBND thành phố đã ban hành nhiều biện pháp để đơn giản hóa và rút ngắn thủ tục cấp phép đầu tư như đối với các dự án đăng ký
cấp phép trong thời gian 5 ngày, dự án thẩm định 20 ngày; - Thực hiện cấp phép qua mạng từ tháng 42004. Theo quy trình này trong
thời gian 2 ngày đối với các dự án đăng ký trong các ngành công nghệ thông tin, thêu may mặc…
- Thành phố cấp thẻ ưu tiên làm thủ tục xuất nhập cảnh tại sân bay Tân Sơn Nhất cho các nhà đầu tư và doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh
doanh tại thành phố nhằm giảm thiếu thời gian làm các loại thủ tục tại sân bay. - Ngoài thành phố đã thành lập tổ liên ngành để giải quyết nhanh những
khó khăn vướng mắc cho nhà đầu tư. Sở KH - ĐT là đầu mối trả lời những vấn đề liên quan đến đầu tư nước ngoài.
Quy hoạch dự án và xúc tiến đầu tư - Hằng năm Sở KH - ĐT phối hợp với các ban ngành, Ban Quản lý các khu
công nghiệp và khu chế xuất, Ban quản lý khu công nghệ cao, lập danh sách các dự án cần kêu gọi đầu tư nước ngoài cho từng năm và từng thời kỳ.
- Sở KH - ĐT và Trung tâm xúc tiến thương mại và đầu tư đã xây dựng trong web về đầu tư nước ngoài nhằm giới thiệu về môi trường đầu tư của thành
phố trong năm 2001. Năm 2003, thành phố khai trương trang web Đối thoại doanh nghiệp nhằm tạo điều kiện để doanh nghiệp hỏi trực tuyến với các sở,
ban, ngành của thành phố. - Từ năm 2002 đến nay, Sở KH - ĐT đã thực hiện phổ biến thông tin xúc
tiến đầu tư thơng qua chương trình Phát báo trên các chuyến bay quốc tế, Tờ rơi giới thiệu về tình hình kinh tế và chính sách thu hút đầu tư nước ngồi đến
các cơ quan đại diện của Việt Nam tại nước ngoài và các tổ chức, tập đoàn lớn của nước ngoài.
29
- Tổ chức hoặc phối hợp với các tổ chức trong và ngoài nước tổ chức nhiều cuộc hội thảo, hội nghị để giới thiệu môi trường đầu tư của thành phố và lắng
nghe nguyện vọng của các doanh nghiệp đầu tư nước ngồi góp ý nhằm cải thiện hơn nữa môi trường đầu tư của thành phố.

I.4.1.2. Thu hút đầu tư nước ngồi tại Bình Dương.


Bình Dương là một trong 5 địa bàn thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngồi nhất cả nước. Tính đến hết năm 2005, tính đã thu hút được 1142 dự án với
tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 5357,4 tỷ USD, đứng vị trí thứ tư sau Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Nai. Trong tổng số dự án đã cấp phép, hiện có
840 dự án đã đi vào hoạt động với tổng số vốn đầu tư là 3.941 tỷ USD, số dự án còn lại đang làm thủ tục triển khai. Nghiên cứu kết quả thu hút FDI của Bình
Dương cho phép rút ra một số nhận xét cụ thể sau: - Công tác xúc tiến, thẩm định các dự án đầu tư và quản lý dự án sau cấp
phép trên địa bàn tỉnh đã có những bước cải cách đáng kể về thời gian cũng như trình tự thủ tục.
- Thực hiện tốt cải cách thủ tục hành chính, cơng khai quy định trình tự thủ tục đầu tư, giải quyết thủ tục nhanh chóng cho các nhà đầu tư ban hành các quy
định nhằm giảm thiểu sự tốn kém về mặt thời gian, chi phí của doanh nghiệp trong thủ tục hành chính.
- Các vướng mắc của các doanh nghiệp được lãnh đạo tỉnh xem xét, giải quyết kịp thời nếu vấn đề thuộc thẩm quyền của UBND Tỉnh; nếu thuộc thẩm
quyền Trung ương UBND Tỉnh phối hợp cùng doanh nghiệp kiến nghị đến cấp có thẩm quyền.
- Quy hoạch, hình thành, và phát triển nhanh chóng các khu cơng nghiệp tập trung các cụm quy hoạch công nghiệp đã tạo tiền đề quan trọng cho cơng tác
kêu gọi đầu tư nước ngồi vào Tỉnh.
30
- Chuẩn bị tốt kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội như: phát triển hạ tầng khu công nghiệp, đầu tư giao thông, cung cấp điện nước, đào tạo nhân lực, đầu tư vốn
cho phát triển mạng lưới giao thông, điện nước, dịch vụ, tạo nền tảng để kêu gọi, thu hút đầu tư nước ngoài.

I.4.1.3 Kinh nghiệm thu hút FDI của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.


Tính đến hết năm 2005, trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã có 181 dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký là: 4512,1
triệu USD. Trong đó vốn nước ngồi góp là 2128,2 và vốn Việt Nam góp 283,9 triệu USD. Nghiên cứu kết quả thu hút FDI của Bà Rịa - Vũng Tàu cho phép rút
ra một số bài học kinh nghiệm sau: - Quy hoạch 9 Khu công nghiệp tập trung với quy mô khoảng trên 4.000 ha
và cho đến nay Chính phủ đã phê duyệt quyết định thành lập 7 khu với tổng diện tích 3.185 ha. Để tạo điều kiện và cơ sở hạ tầng cho các doanh nghiệp sản xuất
chế biến vừa và nhỏ, Tỉnh đã quy hoạch và dự kiến trong giai đoạn từ nay đến 2010 sẽ đầu tư 18 cụm công nghiệp trên các huyện, thị xã trên địa bàn Tỉnh với
diện tích khoảng 30 - 40 hacụm. Áp dụng thủ tục một cửa trong việc thẩm định, cấp giấy phép đầu tư tại
địa phương cho các dự án nằm ngồi khu cơng nghiệp. Đối với các dự án bên trong khu công nghiệp, Ban Quản lý các khu công nghiệp đã ban hành áp dụng
trình tự giải quyết hồ sơ của doanh nghiệp khu công nghiệp và công ty phát triển hạ tầng khu công nghiệp.
- Thành lập Trung tâm xúc tiến đầu tư trực thuộc UBND Tỉnh vào năm 2003, xây dựng và thông qua chiến lược xúc tiến đầu tư tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
giai đoạn 2005 - 2015. Thành lập một số trung tâm thuộc các Sở chuyên ngành phục vụ công tác
xúc tiến đầu tư như: Trung tâm xúc tiến thương mại Sở Thương mại, Trung tâm
31
xúc tiến du lịch Sở du lịch, Trung tâm dịch vụ đối ngoại Sở đối ngoại, Trung tâm nghiên cứu phát triển và dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp Sở KH - ĐT.
Tóm lại, qua nghiên cứu kinh nghiệm của một số tỉnh, thành phố cho thấy để thu hút FDI các tỉnh và thành phố đã: i cải cách thủ tục hành chính, thực hiện
cơ chế một cửa, giảm thiểu thời gian thẩm định và cấp phép đầu tư, ii quan tâm tới đầu tư cơ sở hạ tầng và có sự chuẩn bị tích cực về nguồn nhân lực các
doanh nghiệp FDI, iii thực hiện quy hoạch và phát triển các khu công nghiệp để thu hút đầu tư nước ngoài, iv đẩy mạnh xúc tiến đầu tư và thương mại, thành
lập đơn vị chuyên trách về xúc tiến đầu tư nước ngoài, v quan tâm giải quyết những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp FDI thơng qua trang WEB, đường
dây nóng hoặc thành lập tổ giải quyết vướng mắc. Những kinh nghiệm này sẽ được xem xét nghiên cứu trong việc xây dựng những giải pháp thu hút FDI cho
tỉnh Hải Dương giai đoạn 2007-2010.
32
Chương II Nghiên cứu thực trạng thu hút FDI ở tỉnh Hải Dương giai đoạn 2001-2006.
II.1 Những lợi thế so sánh của Hải Dương trong thu hút FDI. II.1.1 Khái quát về tình hình kinh tế xã hội của tỉnh Hải Dương.
Hải Dương là một tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng Sông Hồng của Việt nam, giáp Thành phố cảng Hải Phòng và các tỉnh như Hưng Yên, Quảng Ninh,
Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang. Tỉnh hải Dương có diện tích km
2
, là một tỉnh nằm trong vùng tam giác phát triển kinh tế quan trọng phía Bắc là Hà Nội- Hải
Phòng- Quảng Ninh. Hải Dương là tỉnh có hệ thống giao thơng thuận lợi như Quốc lộ 5, tuyến đường sắt nối Hà Nội với Hải Phòng. Bên cạnh đó còn có Quốc
lộ 18 A, 183 đi Quảng Ninh. Hiện nay tỉnh Hải Dương có 12 đơn vị hành chính gồm Thành phố Hải Dương và 11 huyện. Hải Dương được nổi tiếng với những
đặc sản như Vải Thanh Hà, Bánh đậu xanh, và một vài sản phẩm công nghiệp như gốm sứ.
Thành tựu lớn nhất của tỉnh Hải Dương trong thời gian vừa qua là phát triển toàn diện, ổn định về mặt kinh tế và từng bước trở thành tỉnh có cơ cấu kinh
tế phát triển theo hướng cơng nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp. Bên cạnh thành tựu phát triển Hải Dương còn duy trì và phát triển được khu vực sản xuất tư nhân
truyền thống là Bánh đậu xanh. Hải Dương là tỉnh có thu hút đầu tư nước ngoài tương đối lớn so với các địa phương khác trong cả nước. Hiện nay Hải Dương có
07 KCN là Hoà An, Việt Hoà TP Hải Dương, Nam Sách huyện Nam Sách, Đại An, Phúc Điền huyện Cẩm Giàng, Tân Dân, Văn An huyện Chí Linh đã
thu hút gần như đầy các dự án trong nước và quốc tế đầu tư vào đây. Không những phát triển kinh tế Hải Dương còn mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại, các
nguồn lực huy động cho đầu tư phát triển kinh tế xã hội được sử dụng ngày càng hiệu quả, đời sống vật chất tinh thần ngày càng được cải thiện.
Có thể nói nhờ có những điều kiện thuận lợi, Hải Dương đang từng bước phát triển kinh tế một cách bền vững với bản sắc riêng. Sự phát triển kinh tế cuả
33
tỉnh Hải Dương đã góp phần làm cho khu vực Đồng Bằng Sơng Hồng nói riêng và khu vực phía Bắc nói chung tạo ra một sự hấp dẫn cho các nhà đầu tư trong
nước và quốc tế, tạo một hình ảnh tốt về sự năng động, sáng tạo về chủ chương chính sách phát triển kinh tế.
Năm 1996 là năm mà Hải Dương thu ngân sách trên địa bàn đạt trên 300 tỷ VNĐ và nguồn thu đã cân đối được với chi ngân sách của tỉnh. Nó là mốc đánh
dấu sự thành cơng trong phát triển kinh tế giai đoạn 10 năm sau khi chuyển đổi sang cơ chế thị trường. Giai đoạn 1986-1996 Hải Dương đã từng bước khắc phục
khó khăn chú trọng phát triển lĩnh vực kinh tế tư nhân, đặc biệt là sản xuất các sản phẩm truyền thống để xuất khẩu như bánh đậu xanh. Bên cạnh đó chú trọng
phát triển đều các lĩnh vực nơng nghiệp, dịch vụ. Chính điều này đã tạo cho kinh tế Hải Dương dần dần đi vào ổn định và phát triển. Sự phát triển kinh tế xã hội từ
đó cho đến nay gồm những giai đoạn như: 1 Giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2000.
Giai đoạn này nền kinh tế thị trường cả nước đã phát triển, từng bước đạt được kết quả tốt về phát triển kinh tế. Bên cạnh đó Hải Dương cũng có những
thành tựu nhất định như tốc độ tăng trưởng bình quân là 9,2 năm. Cơng nghiệp có tốc độ tăng bình qn là 10,6.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hải Dương mới bắt đầu phát triển nhưng do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tiền tệ Châu Á năm 1997-1998 nên hoạt động
FDI vào Hải Duơng giai đoạn này khơng có sự gia tăng nhiều. Đến cuối năm 2000 toàn tỉnh Hải Dương mới có 18 Dự án FDI đăng ký đầu tư với tổng số vốn
đăng ký là 371,2 triệu USD, trong đó có Dự án FORD ơtơ với số vốn 102,7 triệu USD năm 1995 và công ty xi măng Phúc Sơn với tổng số vốn đăng ký là 265
triệu USD 1996 còn lại là những dự án trung bình và nhỏ. 2 Giai đoạn 2001 đến 2006.
34
Hệ thống giao thông Hải Dương được cải thiện đáng kể, ngồi những Quốc lộ được Chính phủ xây dựng, cải tạo nâng cấp như các Quốc lộ 5, 183,18
chính quyền tỉnh Hải Dương còn đầu tư xây dựng và cải tạo những đường trong tỉnh tạo ra một hệ thống giao thông thuận lợi. Với lợi thế về giao thông thuận lợi,
đặc biệt là Quốc lộ 5 xây dựng mới, nối Hà Nội với Hải Phòng đã tạo cho Hải Dương có sự hấp dẫn về thu hút đầu tư FDI và đầu tư trong nước.
Giai đoạn này kinh tế tăng trưởng với tốc độ khá cao và cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng cơng nghiệp hố, hiện đại hố.
Tổng sản phẩm trong tỉnh GDP năm 2005 tăng 67 so với năm 2000, bình quân tăng 10,8năm thời kỳ 1996 - 2000 tăng bình qn 9,2năm;
trong đó giá trị tăng thêm khu vực nơng, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,9năm, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 15,4năm, khu vực dịch vụ tăng
10,6năm. Như vậy, so với cả nước, tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Hải Dương cao hơn và xấp xỉ vùng Đồng bằng sông Hồng cả nước 7,5năm, các
tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng 10,9năm.
Bảng 2 :Tốc độ tăng GDP của cả nước, vùng ĐBSH và tỉnh Hải Dương 5 năm 2001-2001
2001 2002
2003 2004
Ước 2005
Bình quân 2001-2005
Cả nước 6,9
7,1 7,3
7,7 8,4
7,5 Vùng ĐBSH
9,4 11,1
11,0 11,1
11,7 10,9
Tỉnh Hải Dương 8,2
12,2 12,9
9,2 11,5
10,8 Nguồn : UBND tỉnh Hải Dương
Tổng sản phẩm trong tỉnh đạt được tốc độ tăng trưởng như trên là do hầu hết các ngành, các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế đều có tốc độ tăng trưởng khá
cao. Trong 5 năm 2001 - 2005, giá trị sản xuất nơng, lâm nghiệp và thuỷ sản bình qn mỗi năm tăng 5, trong đó nơng nghiệp tăng 4,5, lâm nghiệp giảm
l,4năm và thuỷ sản tăng 14,1; giá trị sản xuất cơng nghiệp bình qn tăng
35
22,1năm; tổng mức bán lẻ hàng hố và doanh thu dịch vụ bình qn tăng 9,7năm; kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 19,1năm tổng cộng 5 năm
ước đạt 393 triệu USD; kế hoạch 300 triệu USD. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng cơng nghiệp hố, hiện đại
hố. Tỷ trọng giá trị tăng thêm của khu vực công nghiệp và xây dựng không ngừng tăng lên; từ năm 2001 đến 2005 lần lượt là 37,8, 39,6, 41,5, 42,4,
43,2. Tỷ trọng các ngành dịch vụ tăng từ 28,0 năm 2000 lên 29,6 năm 2005. Trong những năm vừa qua, tỉnh Hải Dương đẩy mạnh việc tổ chức, sắp xếp
lại và cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước; mặc dù số lượng doanh nghiệp Nhà nước đã giảm nhiều nhưng tỷ trọng của khu vực kinh tế này vẫn ở mức trên 35.
Kinh tế ngồi Nhà nước được khuyến khích phát triển, tỷ trọng từ 54 - 55. Tỷ trọng khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngồi tăng từ 4,3 năm 2000 lên 9,6
năm 2005. Vốn đầu tư thực hiện tăng nhanh, cơ sở hạ tầng phát triển mạnh.
Trong 5 năm qua, tỉnh Hải Dương đã tập trung mọi nguồn lực đầu tư cho phát triển. Tổng vốn đầu tư thực hiện 5 năm 2001 - 2005 ước đạt 22.615 tỷ
đồng, tăng 64 so với 5 năm 1996 - 2000, tăng 37 so với kế hoạch, trong đó vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đạt 10.943 tỷ đồng, chiếm 48,3 tổng vốn
đầu tư, bằng 183,9 kế hoạch; vốn đầu tư cho phát triển sản xuất đạt 11.672 tỷ đồng, chiếm 51,7 tổng vốn đầu tư, bằng 112 kế hoạch.
Môi trường đầu tư trên địa bàn tỉnh được cải thiện theo hướng tích cực; hệ thống kết cấu hạ tầng được chú trọng đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp, tạo điều
kiện thuận lợi cho việc thu hút vốn đầu tư phát triển. Nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia đầu tư; kinh tế nhà nước tiếp tục được củng cố, giữ vững vai trò
chủ đạo; kinh tế tư nhân tăng mạnh và trở thành một nguồn lực quan trọng cho phát triển, tạo sự cạnh tranh lành mạnh trong nền kinh tế. Nhiều doanh nghiệp đã
vượt qua khó khăn, huy động được thêm vốn đầu tư, hoạt động kinh doanh khá hơn và làm ăn có lãi, sản xuất ổn định, thu hút thêm nhiều lao động vào làm việc.
36
Việc thư hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư đã góp phần quan trọng cho tăng trưởng kinh tế của tỉnh; tạo thêm được nhiều việc làm mới, góp
phần tăng thu nhập cho dân cư và ổn định tình hình an ninh - xã hội trên địa bàn. Sau 5 năm thực hiện, có thể khẳng định chương trình Thu hút và sử dụng
có hiệu quả mọi nguồn vốn cho đầu tư phát triển của tỉnh Hải Dương giai đoạn 2001 - 2005 đã được tổ chức, chỉ đạo thực hiện tốt và đạt được kết quả cao.
Đời sống các tầng lớp dân cư tiếp tục được cải thiện, nâng lên rõ rệt. Do kinh tế tăng trưởng với tốc độ khá cao, việc điều chỉnh mức lương tối
thiểu từ 210 nghìn đồng năm 2001 lên 290 nghìn đồng năm 2003 và 350 nghìn đồng từ tháng 102005 cùng với việc triển khai thực hiện chương trình xố đói
giảm nghèo có kết quả, thu nhập của lao động hợp tác quốc tế tăng mạnh nên đời sống các tầng lớp dân cư ở cả thành thị và nông thôn tiếp tục được cải thiện, nâng
lên rõ rệt. Theo kết quả điều tra mức sống hộ gia đình, năm 2004 thu thập bình quân
1 người tháng đạt 456 nghìn đồng, tăng 66,5 so với năm 1999, trong đó khu vực thành thị đạt 650 nghìn đồng, tăng 69,7; khu vực nơng thơn đạt 420 nghìn
đồng, tăng 63,5. Trong 5 năm qua, trên phạm vi tồn tỉnh Hải Dương khơng xảy ra tình trạng thiếu đói giáp hạt. Nhiều hộ ngồi chi tiêu cho đời sống hàng
ngày còn có tích luỹ xây dựng nhà ở kiên cố, mua sắm đồ dùng lâu bền, tích luỹ trong dân đã đần được tăng lên.
Khoảng 120.000 việc làm mới cho người lao động được giải quyết, gấp 2 lần so với giai đoạn 1996-2000, góp phần làm giảm tỷ lệ thất nghiệp ở đơ thị
xuống còn dưới 5 và tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 3,7 vào năm 2005. Chương trình xố đói giảm nghèo đạt kết quả tích cực; cơ bản xố xong hộ nghèo thuộc
diện chính sách; hồn thành chương trình xố nhà tranh tre; các gia đình chính sách, gia đình nghèo được quan tâm hơn.
Bảng 3: Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu
37
tỉnh Hải Dương 5 năm 2001-2005,
Chỉ tiêu
Thực hiện Đơn vị:
Tổng sản phẩm trong tỉnh tăng bình quân năm 10,8
Giá trị sản xuất nơng-lâm nghiệp-thuỷ sản tăng bình qn năm 5,0
Giá trị sản xuất cơng nghiệp tăng bình qn năm 22,1
Giá trị các ngành dịch vụ tăng bình quân năm 11,9
Đến năm 2005, cơ cấu kinh tế đạt: + Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
+ Công nghiệp và xây dựng + Dịch vụ
27,2 43,2
29,6 Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân năm
19,1 Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên vào năm 2005
0,98 Tỷ lệ làng, khu dân cư được công nhận làng, khu dân cư văn
hoá 33,0
Nguồn: UBND tỉnh Hải Dương Như vậy, hầu hết các chỉ tiêu về kinh tế - xã hội của tỉnh Hải Dương 5 năm
2001-2005 đều đạt ở mức cao. Giai đoạn 2001-2006 Hải Dương là tỉnh thu hút được nhiều dự án FDI
Năm 2005, theo bảng xếp hạng đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Phòng Thương Mại và Cơng nghiệp Việt Nam thì Hải Dương được 45,79100
điểm xếp thứ 3943 tỉnh, ở khu vực các tỉnh có chỉ số cạnh tranh thấp. Năm 2006 Hải Dương đã đạt 52,75 điểm ở khu vực các tỉnh có chỉ số cạnh tranh trung bình.
Tóm lại kế thừa những thành quả của 10 năm sau đổi mới, Hải Dương đã
đạt được tốc độ phát triển cao so với các địa phương khác. Năm 2006 đã thu ngân sách trên 2200 tỷ VNĐ tương đương 141,5 triệu USD, là một trong những tỉnh
đóng góp cho ngân sách tương đối lớn. Tuy nhiên còn nhiều hạn chế như tăng
38
trưởng chưa bền vững, cơ cấu kinh tế dịch chuyển còn chậm chưa phát huy hết những lợi thế hiện nay của Hải Dương.

II.1.2 Những lợi thế so sánh của Hải Dương trong thu hút FDI.


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (92 trang)

×