1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Những lợi thế so sánh của Hải Dương trong thu hút FDI.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (510.94 KB, 92 trang )


trưởng chưa bền vững, cơ cấu kinh tế dịch chuyển còn chậm chưa phát huy hết những lợi thế hiện nay của Hải Dương.

II.1.2 Những lợi thế so sánh của Hải Dương trong thu hút FDI.


1. Vị trí địa lý. Tỉnh Hải Dương thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, tiếp giáp với 6 tỉnh, thành
phố: Bắc Ninh, Bắc Giang, Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình và Hưng n. Hệ thống giao thông đường bộ đường sắt đường sông phân bố hợp lý, trên địa bàn có
nhiều trục giao thơng quốc gia quan trọng chạy qua như đường 5, đường 18, đường 183 và hệ thống đường tỉnh, huyện đã được nâng cấp cải tạo rất thuận lợi
cho việc giao lưu, trao đổi với bên ngoài. Thành phố Hải Dương trung tâm chính trị, kinh tế, văn hố khoa học kỹ
thuật của tỉnh nằm trên trục đường quốc lộ 5 cách Hải Phòng 45 km về phía đơng, cách Hà Nội 57 km về phía tây và cách Thành phố Hạ Long 80 km. Phía
bắc tỉnh có hơn 20 km quốc lộ 18 chạy qua nối sân bay quốc tế Nội Bài ra cảng Cái Lân tỉnh Quảng Ninh. Đường sắt Hà Nội - Hải Phòng qua Hải Dương là cầu
nối giữa thủ đơ và các tỉnh phía bắc ra các cảng biển. Là tỉnh nằm giữa vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Hải Dương sẽ có cơ hội tham gia vào phân cơng lao động
trên phạm vi tồn vùng và xuất khẩu. Với hệ thống giao thông thuận tiện cùng nhiều tuyến đường huyết mạch đi
qua như Quốc lộ 5, quốc lộ 18, Quốc lộ 183 và sắp tới là Quốc lộ 5B, tạo cho Hải Dương là tỉnh có nhiều Quốc lộ đi qua và trải đều các huyện trong tỉnh.
Vì vậy Hải Dương thuận lợi trong việc quy hoạch các khu công nghiệp, tạo môi trường hấp dẫn thu hút vốn đầu tư trong cả nước, có điều kiện thuận lợi
trong việc liên kết vùng. Là tỉnh nằm giữa Hà Nội và Hải Phòng, với khoảng cách tương đối gần hai
trung tâm cơng nghiệp lớn Phía Bắc Hải Dương có điều kiện thuận lợi trong thu hút FDI và phát triển kinh tế, nhưng bên cạnh đó Hải Dương cũng khơng tránh
39
khỏi những tác động do trung tâm này mang đến trong phát triển kinh tế và thu hút FDI.
2. Thời tiết khí hậu và địa hình Hải Dương thuộc khu vực châu thổ Sơng Hồng Hải Dương nằm trong
vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm 4 mùa rõ rệt xuân, hạ, thu, đơng. Lượng mưa trung bình hàng năm 1.300 - 1.700 mm. Nhiệt độ trung bình 23,3
C; số giờ nắng trong năm 1.524 giờ; độ ẩm tương đối trung bình 85 - 87. Khí hậu
thời tiết thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, bao gồm cây lương thực, thực phẩm và cây ăn quả đặc biệt là sản xuất cây rau mầu vụ đơng.
Hải Dương có diện tích tự nhiên 1.662 km
2
, được chia làm 2 vùng: vùng đồi núi và vùng đồng bằng. Vùng đồi núi nằm ở phía bắc tỉnh, chiếm 11 diện
tích tự nhiên gồm 13 xã thuộc huyện Chí Linh và 18 xã thuộc huyện Kinh Mơn; là vùng đồi núi thấp phù hợp với việc trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ và cây công
nghiệp ngắn ngày. Vùng đồng bằng còn lại chiếm 89 diện tích tự nhiên do phù sa sơng Thái Bình bồi đắp, đất mầu mỡ thích hợp với nhiều loại cây trồng, sản
xuất được nhiều vụ trong năm. Diện tích đất nơng nghiệp chiếm 63,1 diện tích đất tự nhiên. Đất canh tác
phần lớn là đất phù sa sơng Thái Bình, tầng canh tác dầy, thành phần cơ giới thịt nhẹ đến thịt trung bình, độ pH từ 5 - 6,5; tưới tiêu chủ động , thuận lợi cho thâm
canh tăng vụ, ngồi sản xuất lúa còn trồng rau mầu, cây cơng nghiệp ngắn ngày. Một số diện tích đất canh tác ở phía bắc tỉnh tầng đất mỏng, chua, nghèo dinh
dưỡng, tưới tiêu tự chảy bằng hồ đập, thích hợp với cây lạc, đậu tương. Ngồi 03 huyện có núi là Kinh Mơn, Chí Linh, địa hình Hải Dương tương
đối bằng phẳng, và không cao lắm so với mực nước biển. Địa hình địa chất tương đối ổn định, đây là điểm thuận lợi về chi phí trong việc đầu tư xây dựng các khu
công nghiệp. 3. Nguồn tài nguyên .
40
Tài ngun khống sản của Hải Dương khơng đa dạng về chủng loại, nhưng có một số loại trữ lượng lớn, chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu phát triển
công nghiệp; đặc biệt là công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng.
- Đá vôi xi măng ở huyện Kinh Môn, trữ lượng 200 triệu tấn, chất lượng tốt, CaCO
3
đạt 90 - 97. Đủ sản xuất 5 đến 6 triệu tấn xi măng năm. - Cao lanh ở huyện Kinh Mơn, Chí Linh trữ lượng 40 vạn tấn, tỷ lệ Fe
2
O
3
: 0,8 - 1,7; Al
2
O
3
: 17 - 19 cung cấp đủ nguyên liệu cho sản xuất sành sứ. - Sét chịu lửa ở huyện Chí Linh, trữ lượng 8 triệu tấn, chất lượng tốt; tỷ lệ
Al
2
O
3
từ 23,5 - 28, Fe
2
O
3
từ 1,2 - 1,9 cung cấp nguyên liệu sản xuất gạch chịu lửa.
- Bơ xít ở huyện Kinh Mơn, trữ lượng 200.000 tấn; hàm lượng Al
2
O
3
từ 46,9 - 52,4, Fe
2
O
3
từ 21 - 26,6; SiO
2
từ 6,4 - 8,9. 4. Nguồn nhân lực.
Nguồn lao động của tỉnh dồi dào, lực lượng trong độ tuổi lao động năm 2002 có gần 92 vạn người, chiếm 54,6 dân số trong tỉnh; lao động làm nông
nghiệp chiếm 83; lao động trong độ tuổi từ 18 - 30 chiếm 40 tổng số lao động. Tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm 19 - 20, lao động phổ thông có trình độ
văn hố cấp 3 chiếm 60 - 65; người lao động cần cù, năng động, tiếp thu nắm bắt kỹ thuật nhanh. Hải Dương là tỉnh có mật độ dân số.
5. Kết cấu cơ sở hạ tầng.
41
Hải Dương có hệ thống cơ sở hạ tầng khá hồn chỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển.
+ Hệ thống giao thông: gồm đường bộ, đường thuỷ, đường sắt; Phân bố hợp lý, giao lưu rất thuận lợi tới các tỉnh .
- Đường bộ: có 4 tuyến đường quốc lộ qua tỉnh dài 99 km, đều là đường cấp I, cho 4 làn xe đi lại thuận tiện:
Quốc lộ 5 từ Hà Nội đi thành phố cảng Hải Phòng, chạy ngang qua tỉnh 44 km, đây là đường giao thông chiến lược; vận chuyển tồn bộ hàng hố xuất nhập
khẩu qua cảng Hải Phòng và nội địa. Quốc lộ 18 từ Nội Bài qua Bắc Ninh đến tỉnh Quảng Ninh. Đoạn chạy qua
huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương dài 20 km. Quốc lộ 183, nối quốc lộ 5 với quốc lộ 18, qui mô cấp I đồng bằng.
Quốc lộ 37 dài 12,4 km, đây là đường vành đai chiến lược quốc gia, phục vụ trực tiếp cho khu du lịch Côn Sơn - Kiếp Bạc.
Quốc lộ 38 dài 14 km là đường cấp III đồng bằng. Đường tỉnh: có 13 tuyến dài 258 là đường nhựa tiêu chuẩn cấp III đồng
bằng Đường huyện có 352,4 km và 1448 km đường xã đảm bảo cho xe ô tô đến
tất cả các vùng trong mọi mùa.
42
- Đường sắt: Tuyến Hà Nội - Hải Phòng chạy song song với quốc lộ 5, đáp ứng vận chuyển hàng hoá, hành khách qua 7 ga trong tỉnh.
Tuyến Kép - Bãi Cháy chạy qua huyện Chí Linh, là tuyến đường vận chuyển hàng lâm nông thổ sản ở các tỉnh miền núi phía Bắc ra nước ngồi qua cảng Cái
Lân, cũng như hàng nhập khẩu và than cho các tỉnh - Đường thuỷ: với 400 km đường sông cho tầu, thuyền 500 tấn qua lại dễ
dàng. Cảng Cống Câu công suất 300.000 tấn năm và hệ thống bến bãi đáp ứng về vận tải hàng hoá bằng đường thuỷ một cách thuận lợi.
Hệ thống giao thông trên bảo đảm cho việc giao lưu kinh tế từ Hải Dương đi cả nước và nước ngoài rất thuận lợi.
+ Hệ thống điện: Trên địa bàn tỉnh có Nhà máy nhiệt điện Phả Lại công suất 1040 Mw; hệ thống lưới điện khá hoàn chỉnh, đảm bảo cung cấp điện an
toàn và chất lượng ổn định; trên địa bàn tỉnh có 5 trạm biến áp 11035 kV tổng dung lượng 197 MVA và 11 trạm 3510 kV, các trạm phân bố đều trên địa bàn
tỉnh. Lưới điện 110, 35 kV đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật, phục vụ tốt nhu cầu điện cho sản xuất và sinh hoạt.
+ Bưu điện: Mạng lưới bưu chính viễn thơng đã phủ sóng di động trên phạm vi tồn tỉnh, 100 thơn, xã đều có điện thoại liên lạc trực tiếp nhanh chóng
với cả nước và thế giới. + Hệ thống tín dụng ngân hàng : Bao gồm các Chi nhánh Ngân hàng Công
thương, Ngân hàng Nông nghiệp Phát triển nông thôn, Ngân hàng Đầu tư phát triển, Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng Chính sách xã hội, có quan hệ thanh
tốn trong nước và quốc tế nhanh chóng, thuận lợi. Ngân hàng Cổ phần nơng nghiệp và 79 Quỹ tín dụng nhân dân đáp ứng việc khai thác và cung ứng vốn cho
hoạt động sản xuất của nhân dân trong tỉnh. + Hệ thống thương mại khách sạn: Trên địa bàn tỉnh có 18 doanh nghiệp
nhà nước, 12 Hợp tác xã Thương mại, 54 doanh nghiệp ngoài quốc doanh và 20.298 cửa hàng kinh doanh thương mại. Có 1 Trung tâm thương mại tại thành
43
phố Hải Dương, là đầu nối giao dịch và xúc tiến thương mại, thông tin, tiếp thị dự báo thị trường tư vấn môi giới đàm phán ký kết hợp đồng
Hệ thống khách sạn, nhà hàng bao gồm quốc doanh, tư nhân và các tổ chức khác, có đầy đủ tiện nghi sang trọng, lịch sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng
trong nước và quốc tế. + Cơ sở y tế: mạng lưới cơ sở vật chất kỹ thuật y tế từ tỉnh đến huyện được
củng cố nâng cấp đáp ứng nhu cầu cơ bản trong khám và chữa bệnh cho nhân dân. Đến nay tồn tỉnh có 6 bệnh viện tuyến tỉnh, 1 khu điều dưỡng, 1 khu điều
trị bệnh phong và 13 trung tâm y tế huyện, 6 phòng khám đa khoa khu vực, 236 trạm y tế xã phường. Bình quân 10000 dân có 4 bác sỹ, 21 gường bệnh. Ở tuyến
tỉnh đã được đầu tư một số thiết bị hiện đại trong khám điều trị bệnh như: Máy siêu âm, nội soi, chụp cắt lớp..
Đây là những cơ sở hạ tầng hiện có và ngày một nâng cấp hồn chỉnh để thu hút khách du lịch, các nhà đầu tư trong và ngoài nước đến Hải Dương.
II.2 Thực trạng FDI ở Hải Dương giai đoạn 2001-2006. II.2.1 Thực trạng FDI ở Hải Dương.
Năm 1990 Hải Dương mới có 01 dự án đầu tư nước ngoài với số vốn đầu tư là 1,559 triệu USD, và cho đến năm 1994 mới có 05 dự án đầu tư. Tình hình
thu hút đầu tư nước ngoài vào Hải Dương phát triển mạnh vào các năm 1995- 1996, có 10 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký lên tới 423,75 triệu USD. Thành
công lớn nhất giai đoạn này là thu hút được sự đầu tư của Công ty sản suất ô tô FORD với số vốn đăng ký là 102,7 triệu USD. Giai đoạn từ năm 1997 đến 1998
do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực Châu Á Thái Bình Dương đã làm giảm tiến độ đầu tư nước ngồi vào Việt Nam nói chung và Hải
Dương nói riêng. Đến giai đoạn 2001 – 2006 được coi là giai đoạn cột mốc trong thu hút đầu tư FDI. Chính quyền tỉnh Hải Dương đã tích cực triển khai các biện
pháp nhằm thu hút các nhà đầu tư nước ngồi như tăng cường tiếp thị, cải tiến mơi trường đầu tư, đơn giản hố thủ tục hành chính trong cấp phép đầu tư, rút
ngắn thời gian làm thủ tục cấp phép, hỗ trợ , giảm giá thuê đất, thực hiện một số
44
ưu đãi cho nhà đầu tư. Với các nỗ lực đó Hải Dương đã đạt được những kết quả khả quan trong thu hút đầu tư nước ngoài. Cho đến cuối năm 2006 tồn tỉnh đã
có 123 dự án đầu tư nước ngoài đến từ 23 quốc gia và các vùng lãnh thổ với tổng số vốn đăng ký đạt 1.453,3 triệu USD vốn thực hiện đạt 32 vốn đăng ký và
hiện nay có 65 dự án đã đi vào hoạt động, diện tích đất cho thuê đạt 809,27 ha, theo Báo cáo số 79UBND-BC, ngày 1552007 của UBND tỉnh Hải Dương.
Có thể thấy rằng thu hút các doanh nghiệp FDI vào Hải Dương tăng lên nhanh chóng trong 16 năm qua, nhất là giai đoạn 2001-2006. Bảng tổng hợp tình
hình thu hút từ năm 1990 đến năm 2006
Bảng 4: Tình hình đầu tư nước ngồi tại Hải Dương.
STT Năm
Vốn đầu tư triệu USD Tổng vốn đầu tư
Vốn PĐ Luỹ kế vốn thực hiện
1 1990
7 4.581
1.721 2
1992 3.532
2.35 3.6188
3 1993
8.522 2.5
3.645 4
1994 5
2.145 2.937
5 1995
158.75 105.26
103.854 6
1996 268
81 156.082
7 1997
8 1998
5 1.5
4.32 9
1999 0.818
0.698 0.5
10 2000
3.2 2.07
1.934 11
2001 33.303
14.492 11.496
12 2002
54.9 12.632
44.238 13
2003 109.69
36.16 87.577
14 2004
98.262 32.602
56.644 15
2005 93.886
30.293 30.59
16 2006
563.5645 163.165 42.3
TOTAL 1453.2375 491.448
551.4568 Nguồn: Báo cáo tổng hợp của Sở Kế hoạch và Đầu tư Hải Dương.
Cơ cấu FDI tại Hải Dương.
45
Liên tục trong nhiều năm liền Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, là những quốc gia có nhiều vốn đầu tư vào tỉnh Hải Dương nhất, lưọng vốn đầu tư
vào Hải Dương từ các nước này chiếm tỷ trọng lớn. Năm 2005 Nhật bản là nước có lượng vốn đăng ký lớn nhất đầu tư vào Hải Dương, nhưng đến cuối năm 2006
thì Đài Loan là nước có vốn đăng ký là lớn nhất đạt 436,3 triệu USD. Bảng 5 :Cơ cấu vốn các nước đăng ký đầu tư vào Hải Dương đến cuối năm 2006
Số thứ tự Tên Quốc gia
Số dự án Tổng số vốn
đăng ký triệu USD
Tỷ trọng
1 Đài Loan
21 436,3
30,02 2
Nhật Bản 38
322,2 22,17
3 Mỹ
05 136,9
9,4 4
Hàn Quốc 12
133,2 9,16
5 Trung Quốc
18 72,11
4,96 6
Các nước Tây Âu
10 86,8
5,97
7 Các nước khác
19 265,72
18,32 Tổng
123 1453,23
100 Nguồn : Sở Kế hoạch đầu tư Hải Dương, 2007
Từ bảng số liệu cho thấy việc đầu tư từ các quốc gia Tây Âu còn thấp. Bên cạnh đó tuy Mỹ là quốc gia có lượng vốn lớn nhưng thực tế chỉ tập trung vào 02
dự án là FORD ôtô và công ty Việt Mỹ. Do vậy cần có các giải pháp thu hút đầu tư từ Mỹ và Tây Âu hơn nữa
Thực tế những năm gần đây khi có Nghị định Số: 1082006NĐ-CP, ngày 2292006 của Chính phủ quy định về trình tự thủ tục cấp phép cho các doanh
nghiệp FDI cho phép trưởng Ban quản lý các KCN được cấp phép đầu tư đối với doanh nghiệp FDI đầu tư trong KCN thì các dự án FDI vào các khu cơng nghiệp
nói chung có xu hướng tăng lên nhanh chóng. Mặt khác các KCN tại Hải Dương được hoàn thiện, đưa vào sử dụng, các doanh nghiệp FDI không ngừng đăng ký
46
đầu tư vào KCN. Nguyên nhân là các KCN đã có sẵn cơ sở hạ tầng, giải quyết các thủ tục đầu tư đơn giản, nhanh gọn và đặc biệt là không mất nhiều thời gian
để triển khai xây dựng nhà xưởng, thực hiện dự án. Bảng 6 : Tình hình đầu tư trong các KCN Hải Dương
STT Năm
ĐẦU TƯ NGOÀI KCN ĐẦU TƯ TRONG KCN
Vốn đầu tư Lao động
Vốn đầu tư Lao động
triệu USD người
triệu USD người
1 1990
7 376
2 1992
3.532 1041
3 1993
8.522 81
4 1994
5 913
5 1995
158.75 942
6 1996
268 1054
7 1997
8 1998
5 780
9 1999
0.818 15
10 2000
3.2 149
11 2001
33.303 2689
12 2002
54.9 1045
13 2003
67.19 6218
42.5 2009
14 2004
25.98 3513
72.282 587
15 2005
16.902 1720
76.984 228
16 2006
40.2 336
523.3645 3588
TOTAL 698.297
20872 715.1305
6412
Nguồn : Sở Kế hoạch và Đầu tư Hải Dương năm 2007. Như vậy sau năm 2003 khi các khu cơng nghiệp đi vào hoạt động tình hình
đầu tư vào Hải Dương có sự tăng trưởng nhanh chóng, đặc biệt năm 2006 tổng số vốn FDI đăng ký trong KCN tới 523 triệu USD.
Cơ cấu đầu tư theo từng huyện thể hiện như sau: Bảng 7: Cơ cấu đầu tư theo địa bàn năm 2006
STT Huyện
Số dự án Tổng vốn đầu tư Số dự án đã hoạt
47
đăng ký triệu USD
động
1 Bình Giang
08 33,2
04
2 Cẩm Giàng
28 302,18
16
3 Chí Linh
23 356,7
05
4 Gia Lộc
01 5
1
5 TP Hải Dương
24 276,6
15
6 Kinh Môn
03 267
03
7 Kim Thành
06 46,79
02
8 Ninh Giang
02 4,2
01
9 Nam Sách
26 156,8
20
10 Tứ Kỳ
02 4,76
01 Tổng
123 1453,23
Nguồn : Báo cáo của Sở Kế hoạch Đầu tư Hải Dương. Như vậy qua bảng số liệu trên thấy rằng Thành phố Hải Dương, huyện
Cẩm Giàng, huyện Nam Sách, Chí Linh là những huyện có số lượng các dự án nhiều hơn cả. Nguyên nhân là do các huyện này có các KCN do vậy đã thu hút
các nhà đầu tư tốt hơn.Tuy nhiên nhìn tồn diện Thành phố Hải Dương là nơi thu hút được nhiều dự án cũng như tổng vốn đăng ký. Nguyên nhân là do thành phố
Hải Dương có KCN Hoà An được xây dựng với cơ sở hạ tầng tốt nhất tại Hải Dương, có vị trí thuận lợi là giáp quốc lộ 5.
Qua thực trạng trên rút ra một số nhận định về thực trạng thu hút FDI tại Hải Dương như sau:
- Thực tế cho thấy đến cuối năm 2006 Hải Dương có 123 dự án đăng ký đầu tư với tổng số vốn đầu tư là 1453,23 triệu USD nhưng mới có 65 dự án đi
vào hoạt động tỷ lệ đạt 52 với số vốn thực hiện đạt 32 là chậm. Nguyên nhân chính là do việc bàn giao mặt bằng để thực hiện dự án còn chậm. Bình
qn vốn đầu tư 1,795 triệu USD 01ha đất là thấp so với một số địa phương khác, như Bắc Ninh là 2,12; Vĩnh Phúc 1,89.
48
- Ngành nghề mới chỉ tập trung vào các dự án gia công lắp ráp như may gia công, lắp ráp ô tô, gia công kim cương do vậy không tạo được nhiều giá trị
gia tăng. - Chất lượng của một số dự án chưa cao, tính khả thi của các dự án thiếu
căn cứ khoa học. Nguyên nhân chủ yếu là năng lực của các cơ quan lập dự án còn kém. Từ đó dẫn đến hệ quả nhiều dự án phải điều chỉnh quy mô dự án, mặt
bằng tổng thể, hoặc không tiếp tục thực hiện dự án. Theo báo cáo theo dõi của Sở Kế hoạch Đầu tư Hải Dương cho đến tháng 022007 đã có 9 dự án khơng
tiếp tục đầu tư. II.2.2 Đóng góp khu vực FDI đến sự phát triển kinh tế xã hội của Hải
Dương.
Các doanh nghiệp FDI có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế tỉnh Hải Dương trong những năm qua, thể hiện ở các mặt như góp phần thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế, đóng góp cho ngân sách địa phương, tạo việc làm cho người lao động, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp – công nghiệp -
dịch vụ là 39 -29- 32 năm 2001 sang công nghiệp- dịch vụ - nông nghiệp, năm 2006 tỷ lệ đã đạt 40-30- 30 với tốc độ tăng trưởng kinh tế 9,2 năm.
Về tăng trưởng kinh tế: GDP Từ khi có FDI vào Hải Dương, cơ cấu kinh tế của Hải Dương có sự thay đổi theo hướng tích cực. Nhưng để thấy rõ hơn vai
trò của FDI đối với kinh tế Hải Dương phải xem xét mức độ đóng góp vào GDP của tỉnh trong những năm qua.
Bảng 8 : Đóng góp của FDI đối với GDP của tỉnh Hải Dương.
STT Năm
GDP Hải Dương triệu USD
Đóng góp của FDI triệu USD
Tỷ trọng
1 2001
921,02 240,2
26,07 2
2002 994,7
263,28 26,46
3 2003
1079,25 300,14
27,8 4
2004 1187,18
348,16 29,32
49
5 2005
1294,14 402,13
31,1 6
2006 1436,5
406,6 28,3
Nguồn : Cục thống kê Hải Dương, 2007 Qua bảng số liệu trên thấy đóng góp của FDI vào GDP của tỉnh luôn chiếm
tỷ trọng cao và ổn định. Năm 2006 tuy có sự sụt giảm là do cơng ty FORD ôtô không bán được hàng và do giảm thu thuế nhập khẩu.
Về đóng góp ngân sách cho địa phương: Thu hút FDI vào Hải Dương trong những năm qua đã tạo cho Ngân sách của tỉnh tăng mạnh và ổn định. Nguồn thu
chủ yếu là các khoản như thuế nhập khẩu, thuế lợi tức, tiền thuê đất. Năm 2006 nguồn thu thuế nhập khẩu bị giảm mức đáng kể do việc cắt giảm thuế đối với
một số mặt hàng do lộ trình cắt giảm thuế khi gia nhập WTO như ô tô, linh kiện điện tử. Những năm tiếp theo Hải Dương nói riêng cũng như các địa phương
khác nói chung sẽ giảm một lượng lớn nguồn thu thuế nhập khẩu do lộ trình cắt giảm thuế như đã cam kết khi gia nhập WTO.
50
Bảng 9 : Đóng góp cho ngân sách của các doanh nghiệp FDI năm 2001- 2006. STT
Năm Nộp NSNN
triệu USD Ngân sách địa
phương triệu USD
Tỷ trọng
1 2001
44,8 85,8
52,2 2
2002 51,7
103,37 49,77
3 2003
56,2 118,2
47,54 4
2004 68,1
132,4 51,4
5 2005
73,5 140,4
52,46 6
2006 74,38
141,6 55,48
Nguồn : Sở Kế hoạch Đầu tư Hải Dương, năm 2007. Thu hút FDI góp phần thúc đẩy xuất khẩu của Hải Dương tăng lên trong
những năm qua. Bảng 10 : Kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI.
STT Năm
Kim ngạch XK Triệu USD
Kim ngạch XK của doanh nghiệp
FDI triệu USD Tỷ trọng
1 2001
106 68
64,1 2
2002 126,9
82 65,01
3 2003
154,2 98,1
63,6 4
2004 178,1
129,8 72,59
5 2005
203,4 141,1
69,3 6
2006 220,5
162,1 73,6
Nguồn: Sở Kế hoạch Đầu tư Hải Dương. Bên cạnh đó thu hút lượng lớn lao động địa phương và các tỉnh lân cận.,
đến cuối năm 2006 đã tạo ra được 27.284 việc làm góp phần giải quyết vấn đề xã hội cho tỉnh.
II.3 Nghiên cứu đánh giá về thu hút FDI ở Hải Dương. II.3.1 Sự hấp dẫn của Hải Dương trong thu hút FDI.
51
Để đánh giá về sự hấp dẫn của Hải Dương thông qua các hệ thống chỉ số phản ánh các khía cạnh chịu tác động trực tiếp từ thái độ hành động của cơ quan
chính quyền địa phương. Các chỉ số này nhấn mạnh vào năng lực điều hành quản lý của chính quyền địa phương.
II.3.1.1 Về chi phí gia nhập thị trường. Theo đánh giá thì chi phí gia nhập thị trường của Doanh nghiệp tại Hải
dương nói chung là 6,1910 điểm. Sự tính tốn này dựa trên một số tiêu thức sau: thời gian đăng ký kinh doanh ngày: 21.86 ngày, xếp thứ 42; thời gian đăng ký
lại ngày: 13.3 , xếp thứ 54; số lượng giấy đăng ký, giấy phép kinh doanh và quyết định chấp thuận mà DN hiện có: 4.16 xếp thứ 54; DN phải mất hơn một
tháng để khởi sự kinh doanh: 30.16 , xếp thứ 35; DN phải mất hơn ba tháng để khởi sự kinh doanh: 7.94 , xếp thứ 42; DN gặp khó khăn để có đủ các
loại giấy phép cần thiêt 24.76 , xếp thứ 62; thời gian từ khi nộp đơn xin cấp đến khi được cấp GCNQSD đất ngày
156; thời gian đàm phán chuyển nhượng mua quyền SD đất ngày 221.77; thời gian tìm được mảnh đất phù hợp trong
trường hợp là đất do sự giới thiệu của UBND ngày 100; thời gian chờ đợi thực sự để được cấp đất 378.74.
II.3.1.2 Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất. Về tiêu thức này Hải Dương đạt 6,15 điểm, điểm trung vị là 6.0. Về tiêu thức này
Hải Dương xếp thứ 2864. Nó được cấu thành bởi các mặt sau: DN có GCNQSD đất hoặc đang trong quá trình chờ nhận 42, xếp thứ 57; DN sẽ
mở rộng kinh doanh nếu dễ có mặt bằng kinh doanh hơn 67,16 ; DN thuê lại đất từ DNNN 16; chính sách chuyển đổi đất nơng nghiệp của tỉnh có chất
lượng tốt hoặc rất tốt 72, xếp thứ 5; diện tích đất có GCNQSD đất 77, xếp thứ 26; rủi ro đối với mặt bằng kinh doanh như có thể bị chính quyền thu hồi cho
mục đích khác 5=Rất thấp 2,78, xếp thứ 5; số tiền bồi thường sẽ ở mức thỏa đáng 40, xếp thứ 32; rủi ro về thay đổi các điều kiện cho thuê 5=Rất thấp
52
3,09; tính cơng bằng trong cách thức giải quyết tranh chấp về hợp đồng thuê 40,8; thời gian cho thuê 62,54 năm.
II.3.1.3 Tính minh bạch tại địa phương và tiếp cận thông tin. Theo đánh giá Hải Dương đạt 5,81 điểm, điểm trung vị là 5,43, xếp hạng
2164. Chi tiết các chỉ tiêu đánh giá theo điều tra: tính minh bạch của tài liệu kế hoạch của các Quyết định, của các Nghị định: 3,73 điểm, xếp hạng 5564; tính
cơng bằng và sự ổn định trong việc áp dụng các quy định: 6,34 điểm xếp thứ 1564; khả năng có thể dự đốn và tính ổn định của chính sách, quy định: đạt
44 , thứ hạng 4864; đánh giá về trang Wed của tỉnh 1321, xếp hạng 1264; II.3.1.4 Chi phí về thời gian để thực hiện các thủ tục theo quy định của Nhà
nước và địa phương. Hải Dương đạt 4,32 điểm, trung vị là 4,42, xếp hạng 4164. Chi tiết các chỉ
tiêu đánh giá theo điều tra gồm: thời gian giải quyết thủ tục hành chính giảm đi sau khi có Luật doanh nghiệp 33, thứ hạng 5664; doanh nghiệp sử dụng hơn
10 quỹ thời gian phải làm việc với chính quyền 17, xếp thứ 3764; số cuộc thanh tra và số giờ làm việc với thanh tra thuế 8 giờ, xếp hạng 3764; tỷ lệ giảm
các cuộc thanh tra sau khi có luật doanh nghiệp 41, xếp thứ 4364;

II.3.1.5 Đào tạo lao động .


Về tiêu thức này Hải Dương đạt 4,52 điểm, trong khi đó điểm trung vị là 5,1, xếp thứ 4564. Chi tiết các chỉ tiêu đánh giá theo điều tra: chất lượng dịch vụ
giáo dục do tỉnh cung cấp 68, xếp thứ 52; chất lượng dịch vụ tuyển dụng và môi giới lao động do các cơ quan của tỉnh cung cấp 63, xếp thứ 10; chất lượng
tuyển dụng và môi giới lao động 55, xếp thứ 19; số trường dạy nghề theo số dân từng tỉnh 0,18100.000, xếp hạng 6064.
II.3.1.6 Tính năng động và tiên phong của chính quyền tỉnh. Hải dương đạt 5,84 điểm , điểm trung vị là 4,85, xếp thứ 1864. Chi tíêt các
chỉ tiêu đánh giá như sau: triển khai tốt trong khuôn khổ quy định của Trung
53
ương 72, xếp thứ 40; tính năng động và sáng tạo trong giải quyết khó khăn của doanh nghiệp 69, xếp thứ 19; tham khảo ý kiến của doanh nghiệp khi có văn
bản pháp luật mới 64, xếp thứ 41. II.3.1.7 Thiết chế pháp lý.
Theo kết quả đánh giá Hải Duơng đạt 3,91 điểm, điểm trung vị 3,63 điểm, xếp hạng 2064. Chi tiết các chỉ tiêu đánh giá theo điều tra: hệ thống pháp lý tạo
cơ chế để doanh nghiệp khởi kiện 35, xếp thứ 5; lòng tin của doanh nghiệp vào thiết chế pháp lý 86, xếp thứ 27; sử dụng thiết chế pháp lý trong tranh chấp
68, xếp thứ 54; số vụ tranh chấp trên 100 doanh nghiệp hoạt động 0,14. II.3.1.8 Chi phí khơng chính thức.
Kết quả điều tra đánh giá Hải Dương đạt 5,70 điểm, điểm trung vị là 6,33, xếp hạng 5364. Chi tiết các chỉ tiêu đánh giá theo điều tra: Là cản trở đối với
hoạt động kinh doanh 44, xếp thứ 37; doanh nghiệp cùng ngành phải chi phí khơng chính thức 73, xếp thứ 45; doanh nghiệp phải trả hơn 10 cho các
loại chi phí riêng khơng chính thức 14, xếp thứ 35; cán bộ tỉnh sử dụng các quy định riêng của địa phương với mục đích trục lợi 51, xếp thứ 56; cơng việc được
giải quyết sau khi chi trả chi phí khơng chính thức 47, xếp thứ 3564. Kết luận : Trên đây là các tiêu thức nhằm đánh giá sự thuận lợi cũng như
khó khăn tương đối nhìn từ góc độ nhà đầu tư, doanh nghiệp để từ đó cho thấy sự hấp dẫn của môi trường kinh doanh, chủ yếu từ phía chính quyền địa phương.
Cũng từ đó chính quyền địa phương có cái nhìn sâu hơn, tổng thể hơn để điều chỉnh trong việc hoạch định chính sách cũng như cải cách trình tự thủ tục sao sho
tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa nhằm thu hút các nhà đầu tư để phát triển kinh tế địa phương nói riêng và đất nước nói chung.
54
5 10
Chi phí gia nhập thị trường Chi phí thời gian
Chi phí khơng chính thức
Đào tạo lao động Thiết chế pháp lý
Tiếp cận đất đai Tính minh bạch và tiếp cận
thơng tin Tính năng động của lãnh
đạo tỉnh
Hải Dương Tối đa
Trung vị
Bảng 11 : Kết quả đánh gía của Hải Dương
STT Tiêu thức
Hải Dương Tối đa
Trung vị
1 Chi phí gia nhập thị trường 6.19
10 7.39
2 Chi phí thời gian 4.23
10 4.42
3 Chi phí khơng chính thức 5.7
10 6.63
4 Đào tạo lao động 4.52
10 5.1
5 Thiết chế pháp lý 3.91
10 3.63
6 Tiếp cận đất đai 6.15
10 6
7 Tính minh bạch và tiếp cận thơng tin 5.81
10 5.43
8 Tính năng động của lãnh đạo tỉnh 5.84
10 4.85
Biểu đồ 1 : Mức độ hấp dẫn của Hải Dương
Như vậy chính quyền tỉnh Hải Dương cần phảo nỗ lực hơn nữa trong việc khắc phục một số yếu điểm như: rút ngắn thời gian đăng ký kinh doanh; tạo cơ
chế thuận lợi cho các doanh nghiệp khi làm các thủ tục, chấn chỉnh cán bộ nhũng nhiễu gây phiền hà cho các nhà đầu tư, làm giảm những chi phí khơng chính thức
cho các nhà đầu tư; quy hoạch đất đai cụ thể, chi tiết và giao, cho thuê theo đúng quy định của Luật đất đai, nhanh chóng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
55
đối với các trường hợp có đủ điều kiện để các nhà đầu tư yên tâm ổn định đầu tư sản xuất; nhanh chóng đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng cho các cụm công nghiệp,
hoang thiện việc xây dựng các KCN để cho thuê; Tạo sự minh bạch về kế hoạch, quy hoạch, các trình tự thủ tục giải quyết cho các nhà đầu tư biết để thực hiện; có
chính sách đào tạo nghề hợp lý để có thể cung ứng lao động cho các doanh nghiệp FDI.

II.3.2 Các chính sách, biện pháp của tỉnh trong thu hút FDI.


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (92 trang)

×