1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Các chính sách, biện pháp của tỉnh trong thu hút FDI.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (510.94 KB, 92 trang )


đối với các trường hợp có đủ điều kiện để các nhà đầu tư yên tâm ổn định đầu tư sản xuất; nhanh chóng đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng cho các cụm công nghiệp,
hoang thiện việc xây dựng các KCN để cho thuê; Tạo sự minh bạch về kế hoạch, quy hoạch, các trình tự thủ tục giải quyết cho các nhà đầu tư biết để thực hiện; có
chính sách đào tạo nghề hợp lý để có thể cung ứng lao động cho các doanh nghiệp FDI.

II.3.2 Các chính sách, biện pháp của tỉnh trong thu hút FDI.


II.3.2.1 Quy hoạch và phát triển các khu công nghiệp, cụm cơng nghiệp. Tỉnh Hải Dương có ý tưởng thu hút đầu tư nước ngoài từ rất sớm. Từ năm
1988, Uỷ ban nhân dân tỉnh Hải Hưng Yên sau này tách thành tỉnh Hải Dương và Hưng Yên đã có báo cáo số 96BC-UBND ngày 12121988 báo cáo Hội
đồng nhân dân tỉnh về kế hoạch phát triển kinh tế năm 1990 và phương hướng các năm tiếp theo. Trong đó đã đề cập đến kêu gọi các nhà đầu tư nước ngồi vào
đầu tư. Khi đó mới chú trọng đến các nhà đầu tư thực hiện khâu gia công như vàng bạc, may mặc là ngành mà Hải Hưng có thế mạnh về nhân lực. Tuy nhiên
việc thực hiện đã gặp khơng ít khó khăn do điều kiện cơ sở hạ tầng như giao thông, điện .. chưa được thuận lợi. Bên cạnh đó là do chính sách về thu hút FDI
còn chưa được thơng thống, một số dự án FDI phải được Bộ Kế hoạch và Đầu tư thẩm định và cấp giấy phép. Bên cạnh đó là Luật Đất Đai chưa rõ ràng lên việc
cho thuê đất gặp nhiều khó khăn. Mặt khác do khi đó Hà Nội và Vĩnh Phú là hai tỉnh có mơi trường thuận lợi đã thu hút nhà đầu tư nước ngồi vì vậy đến năm
1990 mới có Cơng ty TNHH Laurelton Diamond VN tiến hành đầu tư tại Hải Dương với số vốn dầu tư ban đầu là 2,059 triệu USD.
Sau khi tách tỉnh Hải Dương mới thực hiện quy hoạch các khu sản xuất công nghiệp tập trung gọi là cụm công nghiệp. Các cụm công nghiệp thường nằm
bám theo các trục quốc lộ, hay tỉnh lộ, có ở hầu hết các huyện trong tỉnh. Do thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm lên các cụm công nghiệp mới chỉ dừng lại khâu giải
phóng mặt bằng sau đó doanh nghiệp tự đầu tư san nền, xây dựng cơ sở hạ tầng.
56
Một thực tế là cơ sở hạ tầng khơng có lên các nhà đầu tư thường chọn thuê đất gần mặt đường do vậy khu vực gần mặt đường thì được các nhà đầu tư chọn thuê
hết nhưng các khu đất bên trong thì khơng thể cho th được do các nhà đầu tư khơng có đường vào thuận lợi cho khâu thi công xây dựng. Mặt khác do quy
hoạch cụm công nghiệp không được cụ thể nên một số dự án khi chọn vị trí ở cụm cơng nghiệp thì khơng đủ diện tích còn lại để cho th. Hiện nay trên địa
bàn tỉnh có 16 cụm cơng nghiệp với tổng diện tích 797 ha nhưng mới chỉ thu hút được 122 dự án, chiếm tổng diện tích là 387,74 ha 48,6. Một số dự án đã bỏ
dở do không có nước, điện.. Trước thực tế trên, tỉnh Hải Dương đã rút kinh nghiệm đầu tư xây dựng các
KCN với đầy đủ cơ sở hạ tầng và cho đến năm 2003 cơ sở hạ tầng được hoàn thiện và đưa vào khai thác. Điều này làm tăng sự hấp dẫn trong việc thu hút FDI.
Với lỗ lực của tỉnh đã cải thiện phần nào cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng của các KCN, và phát triển thêm các KCN mới. Hiện nay tỉnh Hải Dương có 07 KCN với
diện tích trên 1000 ha đã xây dựng kết cấu hạ tầng và đang triển khai tiếp nhận các Dự án đầu tư, trong đó có những KCN đã được lấp đầy bởi các dự án như:
KCN Nam Sách, KCN Đại An, KCN Phúc Điền. Tỉnh Hải Dương đã quy hoạch đến năm 2100 có 10 KCN và 30 cụm công nghiệp.
Các khu công nghiệp của tỉnh Hải Dương chủ yếu bám trục Quốc Lộ 5, 18 và Quốc lộ 183 và quốc lộ 5b trong tương lai. Điều này tạo thuận lợi cho các nhà
đầu tư giảm được chi phí vận chuyển nguyên vật liệu cũng như đưa hàng hố tới thị trường tiêu thụ. Bên cạnh đó thuận lợi cho việc cung cấp điện nước, thông tin
liên lạc, cung ứng nhân lực. Hải Dương linh hoạt trong chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng các KCN như
huy động các công ty Nhà nước, công ty nước ngồi, cơng ty tư nhân, cổ phần cùng tham gia. Vì thế đã đẩy nhanh việc xây dựng các KCN để đón các nhà đầu
tư một cách nhanh chóng và thuận tiện. II.3.2.2 Thực hiện cơ chế một cửa trong giải quyết các thủ tục đầu tư.
57
Để thực hiện cơ chế một cửa Hải Dương đã thực hiện giao cho Ban Quản lý các khu công nghiệp là đầu mối phối hợp để giải quyết các thủ tục cho phép
các doanh nghiệp FDI một cách nhanh chóng hiệu quả như cấp và điều chỉnh giấy phép đầu tư, hợp đồng thuê đất trong các khu công nghiệp, cấp phép xuất
nhập khẩu, cấp chứng chỉ xuất xứ hàng hoá, cung ứng lao động, giải quyết các tranh chấp lao động và một số thủ tục khác kiên quan tới hoạt động của doanh
nghiệp. Ban quản lý KCN được quyền xin ý kiến trực tiếp từ các Bộ, ngành về những vấn đề chuyên môn mà nhà đầu tư đặt ra vượt ngoài quyền hạn của tỉnh để
hỗ trợ và giải quyết kịp thời yêu cầu của nhà đầu tư. II.3.2.3 Hỗ trợ các nhà đầu tư về tiền bồi thường trong việc giải phóng mặt
bằng. Khi nhà đầu tư thuê đất bên ngồi các khu cơng nghiệp phải trả tiền bồi
thường chi phí GPMB cho các chủ sử dụng đất, bên cạnh đó phải trả tiền thuê đất
hàng năm. Trong những năm gần đây khi việc giải phóng mặt bằng ngày càng
gặp nhiều khó khăn với chi phí tương đối lớn và thời gian thực hiện dài do vậy đã làm giảm sự hấp dẫn đối với nhà đầu tư.
Một số doanh nghiệp nước ngoài do đặc thù của ngành kinh doanh đã chủ động chọn vị trí phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, phù hợp với quy
hoạch phát triển kinh tế của địa phương xin th đất ngồi các KCN do vậy họ ln gặp khó khăn khi phải GPMB triển khai dự án. Để giải quyết khó khăn này
tỉnh Hải Dương đã chủ động thực hiện và hỗ trợ một phần kinh phí giải phóng mặt bằng cho doanh nghiệp theo các hình thức hỗ trợ đa dạng, linh hoạt cụ thể
như giảm tiền thuê đất, giảm thuế thu nhập. Tại Quyết định số 1761QĐ-UB ngày 2642001 về việc quy định bồi thường khi GPMB thì chủ sử dụng đất mới phải
tiến hành bồi thường cho chủ đất cũ sau đó mới tiến hành thực hiện dự án. Tuy nhiên do việc thực hiện bồi thường GPMB thường gặp khó khăn do vậy đối với
các dự án đầu tư FDI tỉnh đứng ra chịu trách nhiệm GPMB và kinh phí GPMB do ngân sách tỉnh ứng ra chi trả. Nếu doanh nghiệp đứng ra chi trả tỉnh sẽ cho phép
58
tính trừ vào chi phí thuê đất và giảm 30-40 thuế thu nhập trong vòng 03-05 năm tuỳ theo từng dự án.
II.3.1.4 Tỉnh hỗ trợ kinh phí đào tạo tay nghề cho cơng nhân và nhà đầu tư khơng phải trả kinh phí đào tạo. Việc đào tạo do các trung tâm đào tạo nghề của
tỉnh đảm nhiệm. Trong những năm gần đây, Hải Dương đã chú trọng tới việc phát triển
nguồn nhân lực nhằm đáp ứng cho các doanh nghiệp. Hiện nay Hải Dương có 02 trường Đại học, 12 trường giáo dục chuyên nghiệp và 06 trung tâm hướng nghiệp
và Đào tạo nghề. Hàng năm các cơ sở giáo dục trên có thể cung cấp trên 7000 lao động. Từ năm 2001, Uỷ ban nhân dân tỉnh có Quyết định số 21QĐ-UB ưu đãi
FDI tuyển công nhân địa phương bằng cách hỗ trợ các nhà đầu tư về kinh phí đào tạo. Việc đào tạo do các trung tâm đào tạo của tỉnh đảm nhiệm như Trung tâm
Đào tạo nghề và giới thiệu việc làm của Sở lao động thương binh và xã hội, Đồn Thanh niên, Cơng đồn, Trường Cao đẳng Tài chính kế tốn. Cụ thể tỉnh đã hỗ
trợ các năm như sau: Bảng 12 : Hỗ trợ đào tạo lao động các năm.
STT Năm
Kinh phí hỗ trợ triệu USD
Số lao động người
1 2001
0,9 1200
2 2002
1,4 1500
3 2003
1,67 2100
4 2004
1,7 2200
5 2005
1,7 1800
6 2006
2,0 2000
Nguồn: Sở Lao động TB và Xã hội Hải Dương năm 2007. Với chính sách này, Hải Dương đã không ngừng thu hút FDI vào các
ngành may mặc, da dầy, và một số ngành cần nhiều lao động khác. Hiện nay các Trung tâm Đào tạo của tỉnh đang gặp khó khăn trong việc đào tạo những cơng
59
nhân làm việc trong những Dự án đòi hỏi tay nghề kỹ thuật cao. Do vậy chính sách này chưa thật hấp dẫn đối với các nhà đầu tư sản xuất sản phẩm có hàm
lượng khoa học cao. II.3.1.5 Nâng cấp các cơ sở hạ tầng và các khu dịch vụ phục vụ cho dự án
đầu tư. Để hoạt động của các khu công nghiệp và các dự án ngồi khu cơng nghiệp
thực hiện được hiệu quả, tỉnh và các ngành đã chủ động nâng cấp cơ sở hạ tầng trong khu vực như việc cung cấp điện, nước xây dựng đường vào được thuận lợi.
Đối với các dự án đầu tư ngồi KCN chính quyền tỉnh ưu tiên hỗ trợ kéo điện đến chân tường rào của Dự án. Bên cạnh việc phát triển các KCN, cụm cơng nghiệp
chính quyền tỉnh còn ưu tiên quy hoạch phát triển đơ thị mới có vị trí tại các vùng lân cận nhằm cung cấp các dịch vụ cần thiết phục vụ cho các dự án.
II.3.1.6 Tăng cường công tác xúc tiến, vận động đầu tư dưới nhiều hình thức.
Hoạt động xúc tiến đầu tư ln được chính quyền tỉnh quan tâm chỉ đạo đã góp phần quan trọng trong thu hút đầu tư nước ngoài vào Hải Dương trong
những năm qua. Hầu hết đều tham gia triển lãm giới thiệu cơ hội đầu tư tại các nước do Cục đầu tư tổ chức. Bên cạnh đó khơng ngừng quảng bá hình ảnh,
những lợi thế của Hải Dương trên các phương tiện thơng tin, báo chí trong nước. Tuy nhiên việc xúc tiến, vận động đầu tư không được thường xuyên mà
phụ thuộc vào chương trình xúc tiến của Bộ Kế hoạch Đầu tư. Việc tổ chức thực hiện chưa được chuyên nghiệp và chưa hiệu quả.
II.3.1.7 Thực hiện đối thoại với doanh nghiệp FDI. Với khẩu hiệu luôn đồng hành cùng doanh nghiệp chính quyền tỉnh Hải
Dương hàng năm đều tổ chức đối thoại với toàn thể các doanh nghiệp vào dịp cuối năm để có những thơng tin phản hồi, từ đó nhằm cải cách, sửa đổi những thủ
tục gây phiền hà cho doanh nghiệp hoặc tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.
60
II.3.3 Tổ chức thực hiện thu hút FDI. Hoạt động xúc tiến đầu tư luôn được lãnh đạo chính quyền tỉnh Hải
Dương quan tâm. Hiện nay chính quyền tỉnh mới tổ chức xúc tiến đầu tư dưới các hình thức như:
- Qua trang Wed của tỉnh: Trang Wed của tỉnh Hải Dương được thiết kế tương đối khoa học, cung cấp đầy đủ các thông tin chung về tình hình kinh tế
xã hội của tỉnh, tình hình phát triển kinh tế nói chung. Trên đó tỉnh còn tổ chức một trang riêng quảng bá mơi trường đầu tư Hải Dương thể hiện sự hấp dẫn
đối với các nhà đầu tư nói chung và FDI nói riêng. Tuy nhiên nội dung trang Wed mới chỉ cung cấp được thông tin chung chứ chưa cung cấp được cụ thể về
việc thực thi chính sách pháp luật hay trình tự thủ tục khi thực hiện đầu tư. Một hạn chế là thông tin không được cập nhật thường xuyên, còn xa với thực
tế. Vì vậy chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu thông tin của các nhà đầu tư và các nhà đầu tư không thể hiểu rõ hết được mọi sự ưu ái, hỗ trợ của chính
quyền tỉnh cũng như những thuận lợi khi thực hiện đầu tư tại địa phương. Một điều cần phải xem xét là có rất ít các nhà đầu tư truy cập để lấy thơng tin do họ
khơng biết gì về trang Wed này. Kết quả khảo sát cho thấy chỉ có một ít các dự án FDI biết đến Hải
Dương thơng qua kênh này, một số FDI hiện đang hoạt động tại Hải Dương cũng không thường xuyên truy cập.
- Tham gia các triển lãm do Cục đầu tư- Bộ kế hoạch Đầu tư, Phòng thương mại và cơng nghiệp Việt Nam tổ chức trong và ngoài nước. Đây là một
hoạt động xúc tiến đầu tư tương đối hiệu quả đối với Hải Dương. Bởi khi Bộ Kế hoạch và Đầu tư kết hợp với Phòng Thương mại và Cơng nghiệp tổ chức
quảng bá thường có trọng tâm trọng điểm, cách thức tổ chức tốt đã thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư đến Việt Nam. Với hình thức này có lợi
thế là chính quyền có thể trực tiếp trả lời các thắc mắc của nhà đầu tư. Bên
61
cạnh đó còn tiếp xúc, thiết lập được mối liên hệ với các Hiệp hội ngành nghề, văn phòng tư vấn đầu tư các nước.
Kết quả của hoạt động đã thu hút được số lượng lớn FDI của một số nước có nền kinh tế phát triển như Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản. Theo như
kết quả khảo sát cho thấy có đến 70 số lượng các dự án FDI tại Hải Dương hiện nay đều biết qua kênh này.
- Lãnh đạo tỉnh trực tiếp gặp gỡ giới thiệu các tập đồn kinh tế lớn nước ngồi khi có cơ hội. Hoạt động này thường diễn ra khi lãnh đạo tỉnh đi cùng
với Thủ tướng hoặc các lãnh đạo Trung ương khác trong chương trình quảng bá hình ảnh của đất nước Việt Nam, giới thiệu môi trường đầu tư Việt Nam nói
chung. Nội dung chương trình này thường có các cuộc gặp gỡ, giao lưu với các tổ chức kinh tế, các tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới, trả lời các câu hỏi làm rõ
những băn khoăn của các nhà đầu tư trên thế giới có ý tưởng đầu tư vào Việt Nam.
- Quảng bá hình ảnh trên các thông tin đại chúng trong nước và quốc tế. Việc thực hiện xúc tiến đầu tư tại các triển lãm chủ yếu do UBND tỉnh
thực hiện. Khi đó UBND tỉnh thành lập một Ban xúc tiến đầu tư gồm các cán bộ lấy từ các Sở ban ngành của tỉnh để thực hiện nhiệm vụ quảng bá, giới thiệu
về môi trường đầu tư Hải Dương. Ban xúc tiến đầu tư tự giải thể khi chương trình xúc tiến đầu tư chấm dứt.
Hiện nay việc tổ chức quảng bá, giới thiệu hình ảnh nhằm tạo sự hấp dẫn thu hút FDI của Hải Dương chưa được tổ chức thường xuyên, chuyên
nghiệp. Nguyên nhân chính ở đây là chưa có có quan chuyên trách nào có nhiệm vụ xúc tiến đầu tư. Một nguyên nhân khác là do nguồn vốn để tổ chức
hoạt động đầu tư còn gặp nhiều khó khăn. II.4 Đánh giá chung về FDI và thu hút FDI ở Hải Dương

II.4.1 Những thành quả


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (92 trang)

×