1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Những thành quả Những hạn chế.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (510.94 KB, 92 trang )


cạnh đó còn tiếp xúc, thiết lập được mối liên hệ với các Hiệp hội ngành nghề, văn phòng tư vấn đầu tư các nước.
Kết quả của hoạt động đã thu hút được số lượng lớn FDI của một số nước có nền kinh tế phát triển như Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản. Theo như
kết quả khảo sát cho thấy có đến 70 số lượng các dự án FDI tại Hải Dương hiện nay đều biết qua kênh này.
- Lãnh đạo tỉnh trực tiếp gặp gỡ giới thiệu các tập đồn kinh tế lớn nước ngồi khi có cơ hội. Hoạt động này thường diễn ra khi lãnh đạo tỉnh đi cùng
với Thủ tướng hoặc các lãnh đạo Trung ương khác trong chương trình quảng bá hình ảnh của đất nước Việt Nam, giới thiệu môi trường đầu tư Việt Nam nói
chung. Nội dung chương trình này thường có các cuộc gặp gỡ, giao lưu với các tổ chức kinh tế, các tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới, trả lời các câu hỏi làm rõ
những băn khoăn của các nhà đầu tư trên thế giới có ý tưởng đầu tư vào Việt Nam.
- Quảng bá hình ảnh trên các thông tin đại chúng trong nước và quốc tế. Việc thực hiện xúc tiến đầu tư tại các triển lãm chủ yếu do UBND tỉnh
thực hiện. Khi đó UBND tỉnh thành lập một Ban xúc tiến đầu tư gồm các cán bộ lấy từ các Sở ban ngành của tỉnh để thực hiện nhiệm vụ quảng bá, giới thiệu
về môi trường đầu tư Hải Dương. Ban xúc tiến đầu tư tự giải thể khi chương trình xúc tiến đầu tư chấm dứt.
Hiện nay việc tổ chức quảng bá, giới thiệu hình ảnh nhằm tạo sự hấp dẫn thu hút FDI của Hải Dương chưa được tổ chức thường xun, chun
nghiệp. Ngun nhân chính ở đây là chưa có có quan chuyên trách nào có nhiệm vụ xúc tiến đầu tư. Một nguyên nhân khác là do nguồn vốn để tổ chức
hoạt động đầu tư còn gặp nhiều khó khăn. II.4 Đánh giá chung về FDI và thu hút FDI ở Hải Dương

II.4.1 Những thành quả


62
Với sự năng động, sáng tạo trong thu hút FDI, Hải Dương đã đạt được những thành tựu quan trọng trong thu hút và duy trì sự phát triển trong thời gian
qua. Những thành tựu đó là: Số lượng các dự án FDI tăng nhanh và ổn định cả về số lượng và vốn đầu tư; Các doanh nghiệp FDI đã đóng góp quan trọng vào phát
triển kinh tế, xã hội của tỉnh Hải Dương, đồng thời đã tạo được nhiều việc làm cho lao động trong tỉnh.

II.4.2 Những hạn chế.


1 Về quản lý quy hoạch các khu công nghiệp và tạo mặt bằng cho dự án - Việc quy hoạch và xây dựng các khu cơng nghiệp, cụm cơng nghiệp còn
chậm, việc quy hoạch ngay từ đầu khơng dự báo chính xác nhu cầu dẫn đến nhiều dự án phải đầu tư ngoài KCN. Bên cạnh đó một số KCN cơ sở hạ tầng
chưa đáp ứng được yêu cầu như chưa có các đường gom xung quanh KCN. Các dự án đầu tư vào các cụm cơng nghiệp địa phương gặp nhiều khó khăn
như cơ sở hạ tầng dẫn tới một số dự án FDI đã đăng ký nhiều năm nhưng không thể đi vào hoạt động đuợc. Các cụm công nghiệp mới chỉ khai thác được quỹ đất
ở mặt tiền, phía bên trong đất còn nhiều do khơng có đường vào thuận tiện lên tỷ lệ lấp đầy chưa cao.
- Việc giải phóng mặt bằng còn chậm so với tiến độ dẫn đến nhiều doanh nghiệp đã có giấy phép đầu tư, được chấp thuận về mặt bằng được thuê để triển
khai dự án nhiều năm nhưng chưa thể có mặt bằng để xây dựng. 2 Vấn đề thu hút và duy trì sự phát triển các doanh nghiệp FDI.
Thứ nhất chưa có sự lựa chọn dự án đầu tư theo hướng có chọn lọc. Q trình thu hút dầu tư thời gian qua mới chủ yếu nhằm thu hút về số lượng và lấp
đầy diện tích đất cho thuê, đã đi đến nguy cơ đón nhận ngày càng nhiều các dự án vốn đầu tư thấp, hoặc các dự án chiếm đất lớn nhưng mục tiêu đầu tư chưa
được khuyến khích.
63
Thứ hai, vấn đề bảo vệ môi trường chưa được chú trọng dẫn tới nguy cơ ô nhiễm môi trường ngày càng lan rộng ra nhiều khu vực trong địa bàn tỉnh.
Thứ ba, các dịch vụ phục vụ cho các doanh nghiệp FDI chưa tương xứng như: dịch vụ thuê nhà ở, ăn uống đi lại; dịch vụ tư vấn tài chính, khoa học cơng
nghệ; các dich vụ vui chơi giải trí khác. Thứ tư, thiếu nguồn nhân lực đáp ứng cho các doanh nghiệp FDI. Hiện nay
các doanh nghiệp FDI tại Hải Dương thu hút một lượng lớn lao động có chun mơn và tay nghề. Tuy nhiên Hải Dương mới chỉ cung ứng được một phần nhu
cầu về lao động có tay nghề còn về lao động có chun mơn cao thì hầu như khơng cung cấp được.
Thứ năm, việc tổ chức xúc tiến đầu tư chưa chuyên nghiệp dẫn tới hiệu quả đạt được chưa cao.
3 Hạn chế của chính quyền trong việc quản lý dự án sau khi đã chấp thuận và việc thực hiện cơ chế chính sách.
- Chưa có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các sở, ngành của tỉnh và chính quyền các cấp tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư thực hiện các thủ tục
hành chính được nhanh chóng. - Ở một vài nơi chưa thực sự nghiêm túc trong việc thực hiện các chủ
trương chính sách thu hút đầu tư của tỉnh, thậm chí còn gây khó khăn cho các nhà đầu tư, nhất là trong công tác GPMB, làm cho các dự án chậm triển khai.
- Việc thẩm định cơng nghệ của dự án còn dựa trên các tiêu thức, chỉ số đã lỗi thời dẫn đến một số dự án khi đi vào hoạt động đã có tác động tiêu cực như
làm ơ nhiễm mơi trường, ảnh hưởng đến các dự án khác. Tóm lại trong thời gian qua, với sự năng động của chính quyền tỉnh, các
chính sách, cơ chế tương đối hợp lý Hải Dương bước đầu đã có những thành cơng nhất định trong việc thu hút các doanh nghiệp FDI vào đầu tư. Nhưng để
tiếp tục thu hút và duy trì sự phát triển các doanh nghiệp FDI, chính quyền tỉnh
64
phải có chiến lược dài hạn, có tầm nhìn, và phải có các giải pháp đồng bộ để Hải Dương là địa phương có sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong nước cũng như
nước ngoài.
65

Chương III. Một số kiến nghị, giải pháp


III.1 Khái quát sự vận động FDI trên thế giới và vai trò của các cơng ty xun quốc gia trong việc thực hiện FDI.
Từ đầu những năm 80 đến nay, nguồn vốn FDI chảy vào các nền kinh tế đang phát triển có xu hướng tăng mạnh, đặc biệt là sự bùng nổ đầu tư tại các
nước ASEAN và Trung Quốc trong những năm gần đây. Các nước Đông á và Đông Nam á trở thành khu vực hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài do các điều
kiện thuận lợi như: khả năng tiếp thu vốn và kỹ thuật mới; ổn định về kinh tế chính trị; khu vực Châu á - Thái Bình Dương đã trở thành trung tâm tăng trưởng của
thế giới; đặc biệt là môi trường đầu tư ngày càng được cải thiện nhằm thu hút FDI. Đạt đến đỉnh điểm năm 2000, dòng FDI trên thế giới sụt giảm nhanh chóng
vào những năm sau đó 2001 giảm 41, năm 2002 giảm 13 và năm 2003 giảm 12. Tính đến hết năm 2004, FDI có xu hướng phục hồi nhẹ với giá trị dòng
FDI tăng khoảng 2 so với năm 2003. Sự phục hồi này chủ yếu do tăng dòng FDI vào các nước đang phát triển Biểu đồ 1.1
1
. Trong khi FDI vào các nước cơng nghiệp tiếp tục giảm sút, dòng FDI đổ vào các nước đang phát triển trong
năm 2004 đạt mức 233 tỷ đô la, tăng 405 so với năm 2003. Vì vậy, tỷ trọng FDI vào các nước đang phát triển đạt con số 36, là mức cao nhất kể từ khủng hoảng
châu á giai đoạn 1997-1998. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng dòng vốn FDI đổ vào các nước đang phát triển vẫn tập trung chủ yếu ở năm quốc gia và vùn lãnh
thổ dẫn đầu về thu hút FDI trong hơn một thập kỷ gần đây là: Trung Quốc không kể Hồng Kông, đặc khu Hồng Kông, Bra-xin, Mê-xi-cô, và Sing-ga-po. Trong
năm 2004, năm quốc gia và vùng lãnh thổ này thu hút khoảng 60 dòng FDI vào các nước đang phát triển
2
.
1
1
TÝnh ®Õn thêi ®iĨm hiƯn nay th¸ng 62006, sè liƯu míi nhÊt vỊ FDI do UNCTAD ớc tính có đến năm 2005. Tuy nhiên, số liệu năm 2005 mới chỉ đợc cung cấp đối với một số chỉ số cơ bản. Để đảm bảo phân tích toàn diện,
nghiên cứu này chỉ dừng lại ở số liệu về FDI trong giai đoạn 1980 hoặc 1990 đến thời điểm mới nhất là năm 2004.
2
2
Dù Đặc khu Hồng Kông, và Sing-ga-po không xếp vào danh sách các nớc đang phát triển của UN nhng theo thống kê vỊ FDI cđa UNCTAD, vèn FDI vµo hai qc gial·nh thổ này vẫn đợc xếp vào FDI vào các nớc ®ang ph¸t
66

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (92 trang)

×