1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Đánh giá bản chất và vai trò của FDI đối với các nước đang phát triển

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (510.92 KB, 89 trang )


- Thơng qua hình thức này, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý...là những mục tiêu mà các hình thức đầu tư
khác khơng giải quyết được. - Nguồn vốn này không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư dưới hình
thức vốn pháp định, nó còn bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai hoặc mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư từ nguồn lợi nhuận thu được.

3.3. Đánh giá bản chất và vai trò của FDI đối với các nước đang phát triển


Bản chất của FDI là các hoạt động đầu tư ra nước ngoài trên cơ sở khai thác lợi thế so sánh trong phân công lao động quốc tế nhằm tìm kiếm lợi nhuận cao ở phạm vi
toàn cầu. Do vậy, FDI là các hoạt động kinh tế và nó có ảnh hưởng như con dao hai lưỡi đối với nước nhận đầu tư. Nếu Chính phủ nước chủ nhà mạnh thơng qua các
chính sách thu hút FDI hợp lý thì khai thác được tốt mặt tích cực và hạn chế tối đa ảnh hưởng xấu của nó. Ngược lại FDI sẽ là nhân tố gây trở ngại lớn cho những Chính phủ
khơng làm chủ được đường lối phát triển đất nước của mình.
Khi phân tích vai trò của FDI thì khơng những chỉ căn cứ vào mức độ tham gia của nó vào nền kinh tế mà còn phải đánh giá khả năng tiếp nhận của nước chủ nhà.
Thật vậy, trong nhiều trường hợp mặc dù tỷ lệ FDI trong tổng vốn đầu tư cao nhưng điều đó khơng có nghĩa là tác dụng của nó lớn đối với nước nhận đầu tư. Hiệu quả
hoạt động FDI còn phụ thuộc rất nhiều vào trình độ phát triển kinh tế của nước nhận đầu tư. Thông thường cứ 1 USD vốn đầu tư của nước ngồi cần phải có 3 - 4 USD
vốn đối ứng, nếu đạt được tỷ lệ như vậy thì hoạt động của cả vốn đầu tư trong nước và nước ngoài mới có hiệu quả. Vì thế FDI chỉ đóng vai trò tăng cường vốn đầu tư
trong nước mà khơng phải là yếu tố có tính chất quyết định sự phát triển kinh tế xã hội của nước đang phát triển.
Tầm quan trọng lớn nhất của FDI không phải là bổ sung vốn đầu tư nội địa mà là chuyển giao công nghệ, kiến thức kinh doanh, đào tạo tay nghề cho công nhân và cơ
hội tiếp cận vào thị trường thế giới của các nước đang phát triển.
Tuy nhiên mức độ tác động tích cực của các yếu tố này ở từng nước rất khác nhau, nó phụ thuộc quan trọng vào chiến lược thu hút FDI của nước chủ nhà. Một khía
cạnh khác, ở nhiều nước, xét về lâu dài FDI không tạo ra sự phát triển bền vững cho nước chủ nhà. Những hậu quả của nó như đã phân tích trên tác động còn lớn hơn lợi
ích mà các nước đang phát triển thu được nếu xét theo tiêu chuẩn của kinh tế phát triển. Vì vậy khi đánh giá vai trò của FDI thì cần phải phân tích ảnh hưởng của nó trên
phạm vi kinh tế xã hội. Hơn nữa khơng có đánh giá chung về vai trò của FDI mà cần
- 6 -
phân tích ảnh hưởng của nó trong điều kiện cụ thể từng nước. Từ đó mới tìm ra được điều kiện cần và đủ để sử dụng có hiệu quả FDI trong chiến lược phát triển tổng thể
của nước chủ nhà. Để đánh giá một cách đầy đủ về ảnh hưởng của FDI có thể căn cứ vào các yếu tố cơ bản sau:

Lưu chuyển ngoại tệ : mức độ góp vốn, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế,
chuyển lợi nhuận về nước, thực hiện giá chuyển giao, thuế lợi nhuận. •
Cạnh tranh : mức độ làm phá sản các doanh nghiệp địa phương, thay thế vị trí
các cơ sở sản xuất then chốt nội địa. •
Chuyển giao cơng nghệ : Chi phí R D của FDI ở nước chủ nhà, mức độ độc
quyền công nghệ và công nghệ phù hợp ở nước sở tại. •
Sản phẩm : Tỷ lệ tiêu thụ sản phẩm ở trong - ngoài nước và giữa các tầng lớp
dân cư trong xã hội, sản phẩm phù hợp. •
Đào tạo cán bộ và cơng nhân : Số lượng, trình độ cán bộ và cơng nhân được
đào tạo, số lao động được tuyển dụng. •
Mối quan hệ với các doanh nghiệp và cơ sở địa phương : Mức độ thiết lập các
mối quan hệ với các cơ sở trong nước, liên kết kinh tế, chuyển đổi cơ cấu kinh tế ở nước chủ nhà.

Các vấn đề xã hội : Bất bình đẳng trong thu nhập, lối sống, tăng chênh lệch
giàu - nghèo trong xã hội. Các yếu tố trên cần được phân tích tổng hợp cả về định tính và định lượng trong
mối tương quan với các yếu tố khác tác động đến sự tăng trưởng và phát triển của nước nhận đầu tư. Nếu chỉ phân tích về mặt định tính thì khơng chỉ ra được mức độ
ảnh hưởng của nó đối với các lĩnh vực kinh tế - xã hội của nước nhận đầu tư. Tuy nhiên, phân tích định lượng là vấn đề khó đối với các nước đang phát triển, bởi vì
nguồn số liệu ít và thiếu chính xác. Hơn nữa, tốc độ tăng trưởng và phát triển không chỉ do nguyên nhân của FDI mà còn được quyết định bởi nhiều yếu tố quan trọng
khác. Do vậy việc xây dựng các giả định và lựa chọn phương pháp nghiên cứu để phân tích ảnh hưởng của FDI đối với nước nhận đầu tư đóng vai trò rất quan trọng.
4. Q trình vận động của luồng vốn FDI tại các nước đang phát triển Châu á những năm gần đây
Trong những năm gần đây, đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới tăng nhanh và có sự thay đổi lớn về cơ cấu vốn giữa các khu vực và các quốc gia. Trong phần này
-
7
-
ta sẽ tập trung xem xét thực trạng và xu hướng vận động của FDI ở các nước đang phát triển khu vực Châu Á trong đó có Việt Nam.
Trái ngược với nhiều dự báo, năm 1999, FDI vào Đông và Đông Nam Á tăng 11, đạt 93 tỷ USD, chủ yếu là các nước mới công nghiệp hóa Hồng Kơng - Trung
Quốc, Hàn Quốc, Singapore và Đài Loan, luồng FDI vào những nước này tăng gần 70. Tại Hàn Quốc, luồng vào FDI đã tăng kỷ lục, đạt 10 tỷ USD. Luồng FDI vào
Singapore và Đài Loan đã tăng nhanh trở lại sau khi giảm mạnh vào năm 1998. Luồng FDI vào Hồng Kông - nước tiếp nhận FDI lớn thứ hai trong khu vực hiện nay - tăng
hơn 50, đạt 23 tỷ USD, do năm 1998 các nhà đầu tư Hồng Kông đã dấy lên làn sóng đầu tư trở lại và một lượng lớn lợi nhuận đã được tái đầu tư nhờ có sự thay đổi toàn
diện hoạt động kinh tế tại đây. Trái lại, luồng FDI vào 3 trong số 5 nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của cuộc khủng hoảng tài chính vừa qua Inđơnêxia, Thái Lan và
Philippin lại giảm. Năm 1999, FDI vào Trung Quốc - nước có lượng FDI trong 4 năm liền đều đạt khoảng 45 tỷ USD - giảm gần 8, chỉ đạt hơn 40 tỷ USD. Những nước
có thu nhập thấp tại khu vực Đơng Nam Á mà lâu nay vẫn phụ thuộc vào nguồn FDI của các nước khác trong khu vực tiếp tục lâm vào tình trạng khó khăn, do hoạt động
đầu tư tại Châu Á bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính.
Sự phục hồi luồng FDI vào khu vực này là do những nỗ lực mạnh mẽ trong việc thu hút FDI, bao gồm tự do hóa hơn nữa ở cấp ngành, cởi mở hơn đối với các hoạt
động sáp nhập và thôn tính xuyên quốc gia. Năm 1999, tại 5 nước Inđônêxia, Malaixia, Philippin, Hàn Quốc và Thái Lan chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ cuộc
khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực, tổng giá trị các vụ sáp nhập và thơn tính xun quốc gia đạt con số kỷ lục 15 tỷ USD. Các hoạt động sáp nhập và thôn tính thực sự trở
thành một phương thức quan trọng để các TNCs đầu tư vào khu vực này. Trong giai đoạn 1997 - 1999, trung bình mỗi năm khu vực này nhận được 20 tỷ USD từ các hoạt
động thôn tính và sáp nhập, so với mức 7 tỷ USD giai đoạn 1994 - 1996.
Năm 1999, FDI vào khu vực Nam Á giảm 13, đạt 3,2 tỷ USD. Luồng FDI vào Ấn Độ - nước tiếp nhận FDI lớn nhất tại khu vực - là 2,2 tỷ USD, giảm 17 so với
năm 1998. Năm 1999, FDI vào Trung Á giảm đôi chút, đạt 2,8 tỷ USD, làm mất đi đà tăng trưởng đã có được trong thời kỳ đầu của chương trình tự do hóa và cải cách kinh
tế. FDI tại các quốc đảo Thái Bình Dương đã có những bước tiến triển. Trong năm 1999, tổng giá trị FDI tại các nước này đạt 250 triệu USD. Còn tại Tây Á, luồng FDI
vào đạt 6,7 tỷ USD, trong đó Ảrập -Xêut là nước tiếp nhận phần lớn các nguồn đầu tư mới.
- 8 -
Luồng FDI ra từ các nước đang phát triển tại Châu Á đã tăng trở lại sau thời kỳ suy giảm do khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực năm 1999, tăng khoảng 64, ước
đạt 37 tỷ USD. Tuy nhiên, mức tăng này vẫn còn thấp hơn so với thời kỳ trước khủng hoảng. Hồng Kơng vẫn là nước đầu tư ra nước ngồi nhiều nhất, chiếm hơn 12 tổng
giá trị luồng FDI ra của cả khu vực. Nhật Bản – một trong những nước cung cấp FDI lớn nhất thế giới đang có những chuyển hướng cơ bản khu vực đầu tư. Trong những
năm gần đây, đầu tư của Nhật Bản có xu hướng dịch chuyển từ thị trường Bắc Mỹ, Tây Âu, vốn là những thị trường truyền thống của họ, sang khu vực Châu Á, mà trọng
tâm là các nước Đông Nam Á để tận dụng lợi thế so sánh về lao động, tài nguyên thiên nhiên, thị trường – là những lợi thế tiềm năng của các nước này – nhằm góp
phần khắc phục tình trạng suy thối kinh tế của mình, hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các ngành công nghiệp truyền thống sử dụng nhiều lao
động, tài nguyên. Các nước ASEAN, vốn trước đây chỉ là những nước tiếp nhận FDI của các nước khác thì nay đã bắt đầu đầu tư ra nước ngoài, mà thị trường chủ yếu là
Trung Quốc, Việt Nam và những nước trong khu vực.
Các TNCs Châu Á tiếp tục thu hẹp hoạt động kinh doanh trong năm 1999. Có những trường hợp chính các TNCs Châu Á tự bán các cơ sở kinh doanh của mình tại
nước ngồi, cũng có trường hợp các TNCs này bị các TNCs nước ngồi thơn tính. Do khủng hoảng, nhiều TNCs Châu Á không tận dụng được lợi thế về giá trị tài sản rẻ,
ngoại trừ một số TNCs tại Hồng Kông, Singapore và Đài Loan đang nỗ lực duy trì khả năng tài chính của mình để có thể tiến hành các hoạt động sáp nhập và thôn tính, chủ
yếu là ở các nước láng giềng. Các nước công nghiệp mới ở Châu Á đang vươn lên thành lực lượng những nước đầu tư mới, thật sự trở thành những đối thủ cạnh tranh
với Nhật, Mỹ và Tây Âu tại khu vực này.
Luồng đầu tư vào Châu Á đang trên đà phục hồi, có lẽ trong khoảng 2-3 năm nữa sẽ đạt mức của năm 1997. Cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ ở Châu Á tuy đã tạm
thời cản trở luồng đầu tư vào khu vực và liên khu vực, tuy nhiên tự do hóa đầu tư đã trở thành một xu thế lớn trong khu vực và trên thế giới mà cuộc khủng hoảng này
không thể đảo ngược mà trái lại còn trở thành một nhân tố thúc đẩy nó. Có thể nói cuộc khủng hoảng sẽ chỉ có tác động trong ngắn hạn mà chủ yếu là làm giảm tính hấp
dẫn tương đối của các nền kinh tế trong khu vực so với phần còn lại của thế giới. Các nước đều coi FDI là một nguồn vốn ổn định hơn so với vốn ngắn hạn và có vai trò
quan trọng trong phát triển kinh tế, đồng thời là nguồn chuyển giao cơng nghệ chính yếu cho nước tiếp nhận. Việc gia thế giới đầu tư sẽ góp phần khắc phục khủng hoảng
-
9
-
và giúp các nước bị ảnh hưởng nhanh chóng phục hồi. Đây cũng là nguyên nhân sẽ làm cho cuộc đua tranh giành lấy nguồn vốn FDI giữa các nước trở nên rất khốc liệt.
Xét về mặt lâu dài, luồng FDI vào Châu Á nói chung và vào Việt Nam nói riêng chịu ảnh hưởng của hai yếu tố: sự cạnh tranh của khu vực với bên ngoài và sự cạnh
tranh giữa các nước trong khu vực. Với tư cách là nước nhận đầu tư, các nước ASEAN, Trung Quốc và Việt Nam là những đối thủ cạnh tranh nhau. Do có lợi thế so
sánh gần giống nhau nên trong chiến lược phát triển kinh tế của mình, các nước này có xu hướng bố trí cơ cấu kinh tế giống nhau với các đặc trưng chủ yếu là các ngành
có hàm lượng lao động sống và nguyên liệu cao khai thác tài nguyên thiên nhiên, công nghiệp hàng tiêu dùng, lắp ráp điện tử..., vì vậy tính chất cạnh tranh trong thu
hút đầu tư giữa các nước này là rất lớn, khả năng hấp dẫn đầu tư của các thành viên cộng đồng hồn tồn tuỳ thuộc vào chính sách và mơi trường đầu tư của từng nước.
Những xu hướng vận động trên đây của các luồng vốn FDI và khả năng tận dụng cơ hội thu hút FDI của Việt Nam trong những năm tới đến mức nào trước hết phụ thuộc
vào chính sách, mơi trường kinh doanh của đất nước và bối cảnh phát triển hợp tác của khu vực.

CHƯƠNG II TÌNH HÌNH THỰC HIỆN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGỒI TẠI


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (89 trang)

×