1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Cơ cấu đầu tư theo vùng lãnh thổ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (510.92 KB, 89 trang )


2 Đài Loan
662 4990,669
2120,096 2411,855
3 Nhật Bản
304 3884,892
1927,881 2623,879
4 Hàn Quốc
277 3181,738
1226,648 1911,570
5 Hồng Kông
208 2844,499
1231,076 1431,662
6 Pháp
107 1818,607
1219,716 587,320
7 Virgin Islands
107 1786,941
695,456 858,341
8 Liên bang Nga
35 1479,722
916,897 600,255
9 Hà Lan
40 1179,956
951,962 504,055
10 V. Quốc Anh
35 1163,254
394,840 670,909
11 Thái Lan
93 1102,472
441,250 494,310
12 Malaixia
81 1026,914
476,433 876,157
Nguồn : Vụ Quản lý dự án ĐTNN - Bộ KH-ĐT
Tuy vậy cho đến nay, trong số các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam thì sự có mặt của các nhà đầu tư thuộc các tập đồn lớn chưa nhiều mới có khoảng 50500 tập
đồn kinh tế lớn của thế giới có dự án đầu tư tại Việt Nam, còn lại chủ yếu là các cơng ty vừa và nhỏ và khơng ít các nhà mơi giới đầu tư. Các tập đồn lớn, có năng lực
tài chính và cơng nghệ, chủ yếu là của Hàn Quốc và Nhật Bản. Còn trong số các nhà đầu tư Châu Á nếu không kể các nhà đầu tư Nhật Bản và Hàn Quốc thì phần lớn là
người Hoa. Đây là đặc điểm rất cần được chú ý trong việc lựa chọn các đối tác đầu tư sắp tới nhằm làm cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngồi theo u cầu của cơng
cuộc cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa của ta đạt hiệu quả hơn.

1.3. Cơ cấu đầu tư theo vùng lãnh thổ


Với mong muốn hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngồi góp phần làm chuyển dịch cơ cấu giữa các vùng kinh tế nên Chính phủ ta đã có những chính sách khuyến
khích, ưu đãi đối với các dự án đầu tư vào “những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa”. Tuy vậy, các cấp độ ưu đãi chưa tương ứng
với mức độ chênh lệch về điều kiện giữa các vùng do đó, vốn nước ngoài vẫn được đầu tư tập trung chủ yếu vào một số địa bàn có điều kiện thuận lợi về kết cấu hạ tầng
và môi trường kinh tế-xã hội. Nói riêng trong lĩnh vực nơng lâm nghiệp, các dự án đầu tư tập trung chủ yếu vào các vùng Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Hồng, đồng bằng
sông Cửu Long. Riêng 3 vùng này đã chiếm tới 63,5 số dự án và 70 vốn đầu tư. Trong khi đó, có 15 tỉnh thuộc trung du và miền núi phía Bắc, tuy vẫn là những địa
bàn có nhiều tiềm năng mở rộng và phát triển nông lâm nghiệp và có nhu cầu lớn về thu hút đầu tư, nhưng do có điều kiện khó khăn nên hầu như chưa có dự án đầu tư
nước ngồi nào vào lĩnh vực nông lâm nghiệp ở các vùng này.
Hoạt động đầu tư tập trung ở các tỉnh phía Bắc và phía Nam, các tỉnh miền Trung chiếm tỷ lệ rất nhỏ. Riêng vùng Đông Nam Bộ đã chiếm tới 53,13 tổng lượng vốn
- 14 -
đầu tư trực tiếp nước ngoài của cả nước, trong khi vùng Tây Bắc và Tây Nguyên chiếm chưa đầy 1. Sự phân bổ FDI cũng chênh lệch rất nhiều giữa khu vực thành thị
và nông thôn. Trên 80 tổng số vốn đầu tư tập trung ở khu vực thành thị, chỉ còn chưa tới 20 cho khu vực nông thôn, trong khi 80 dân số Việt Nam sinh sống ở
nông thôn, làm cho khoảng cách thu nhập giữa hai khu vực ngày càng lớn.
Vốn đầu tư vào các vùng 1988-1999 được xếp thứ tự như sau:
Bảng 3: Cơ cấu đầu tư theo vùng
1. Đông Nam Bộ 53,13
5. Đồng bằng sông Cửu Long 2,46
2. Đồng Bằng sông Hồng 29,6
6. Bắc Trung Bộ 2,38
3. Duyên hải Nam Trung Bộ 7,64
7. Tây Nguyên 0,16
4. Đông Bắc 4,46
8. Tây Bắc 0,15
Nguồn : Những vấn đề kinh tế thế giới, Số 2 64 2000.
Cũng trong thời kỳ này, nếu như hai thành phố lớn là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh đã chiếm tới hơn nửa 50,3 tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi của cả nước thì
10 địa phương có điều kiện thuận lợi cũng chiếm tới 87,8. TP Hồ Chí Minh chiếm 26,6 tổng vốn đăng ký của cả nước. Số liệu tương ứng của các địa phương tiếp theo
như sau : Hà Nội: 21,15; Đồng Nai: 12,5; Bình Dương: 6,4. Đến nay, phần lớn các tỉnh, thành phố đều đã có hoạt động hợp tác đầu tư với nước ngồi. Tuy nhiên, trừ
hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí ở thềm lục địa, vốn đầu tư tập trung nhiều vào 3 vùng kinh tế trọng điểm là những nơi có nhiều thuận lợi. Vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam, với ưu thế vượt trội về cơ sở hạ tầng, sự thuận lợi về giao thông thủy, bộ, hàng không và năng động trong kinh doanh là vùng thu hút được nhiều vốn FDI nhất,
1.378 dự án, chiếm 57 tổng số dự án của cả nước, vốn đầu tư đăng ký đạt 17,3 tỷ USD, chiếm đến 48 tổng vốn đăng ký cả nước. Đây cũng là vùng kinh tế sôi động
nhất của cả nước, chiếm đến 66 giá trị doanh thu và 84 giá trị xuất khẩu của khu vực FDI năm 1999. Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, đứng đầu là thủ đơ Hà Nội,
trung tâm chính trị và kinh tế của cả nước là vùng thu hút FDI thứ hai, với 493 dự án còn hiệu lực chiếm 20,5 về số dự án và 30 tổng vốn đăng ký, là đầu tàu phát triển
của cả khu vực phía Bắc. Trên địa bàn kinh tế trọng điểm miền Trung, tính riêng dự án lọc dầu Dung Quất với tổng số vốn đầu tư đăng ký 1,3 tỷ USD đã cao hơn tổng vốn
đăng ký của 113 dự án tại đồng bằng sông Cửu Long là 300 triệu USD. Dưới đây là số liệu về 10 địa phương có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cao nhất:
Bảng 4: Mười địa phương có vốn đầu tư cao nhất
Tính đến 15032001 - chỉ tính các dự án còn hiệu lực
-
15
-
Đơn vị : triệu USD
STT Địa phương
Số dự án
Tổng vốn đầu tư
Vốn pháp định
Đầu tư thực hiện
1 TP Hồ Chí Minh
921 9673,464
4610,524 4641,441
2 Hà Nội
365 7684,434
3364,454 2773,569
3 Đồng Nai
287 4534,895
1741,576 2119,190
4 Bình Dương
393 2325,312
1083,049 1057,800
5 Dầu khí
24 1788,000
1263,000 1955,487
6 Quảng Ngãi
5 1327,723
813,000 555,458
7 Hải Phòng
86 1283,294
570,218 915,483
8 Bà Rịa-Vũng Tàu
67 1203,097
502,946 397,702
9 Lâm Đồng
46 841,767
101,305 86,155
10 Quảng Ninh
38 617,021
218,516 174,283
Nguồn : Vụ Quản lý dự án - Bộ KH-ĐT
Các số liệu trên cũng phần nào nói lên rằng vấn đề thu hút vốn đầu tư nước ngoài theo vùng lãnh thổ để kết hợp hoạt động này với việc khai thác các tiềm năng trong
nước đạt kết quả chưa cao. Cơ cấu FDI theo vùng còn nhiều bất hợp lý. Như vậy, đây cũng là một trong những vấn đề rất cần được chú ý để điều chỉnh hoạt động của chúng
ta trong thời gian tới đối với lĩnh vực này.

1.4. Cơ cấu đầu tư theo ngành kinh tế


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (89 trang)

×