1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Cơ cấu đầu tư theo hình thức đầu tư

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (510.92 KB, 89 trang )


cuối 1999, trong lĩnh vực này đã có tới 74 dự án đầu tư nước ngoài bị giải thể trước thời hạn với số vốn 287 triệu USD. Trong đó 35 dự án thuộc lĩnh vực trồng trọt và chế
biến nông sản, 39 dự án chế biến gỗ và lâm sản.
Vốn đầu tư nước ngoài vào các ngành như trên đã biểu hiện phù hợp các chỉ số của cơ cấu kinh tế hiện đại, cơng nghiệp hóa: Cơng nghiệp - Dịch vụ - Nông nghiệp.
Tuy vậy, trong điều kiện ở giai đoạn đầu tiến hành CNH-HĐH và với đặc trưng của nền kinh tế trong đó nơng nghiệp nhiệt đới đang là một trong những thế mạnh của Việt
Nam thì tình hình thu hút đầu tư nước ngồi vào lĩnh vực này như hiện nay còn khoảng cách khá xa so với yêu cầu, mong muốn và mục tiêu mà chúng ta đặt ra. Sở dĩ
như vậy là vì đối với Việt Nam, nông nghiệp là một trong những lĩnh vực đang có nhiều tiềm năng mà chúng ta chưa có điều kiện để khai thác. Và, từ đặc điểm phân bố
dân cư, lao động, việc làm như hiện nay thì sự thành cơng trong phát triển nơng thơn, nông nghiệp là một trong những chỉ tiêu cơ bản để đánh giá thành công của sự nghiệp
CNH-HĐH. Thực hiện CNH-HĐH trong nông thôn, nông nghiệp cũng tức là tạo được việc làm và thu nhập cho số đông lao động cũng như tác động làm chuyển biến đáng
kể đến sản xuất và đời sống của đa số nhân dân Việt Nam.

1.5. Cơ cấu đầu tư theo hình thức đầu tư


Trong giai đoạn 1988-1999, liên doanh là hình thức phổ biến nhất của đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, chiếm tới khoảng 60 số dự án và 70 vốn đăng ký.
Hiện nay, trong số các dự án còn hiệu lực thì hình thức doanh nghiệp 100 vốn nước ngoài chiếm tỷ lệ lớn về số dự án 56,64, tuy nhiên vốn đầu tư chỉ chiếm 30,17
tổng vốn đầu tư FDI. Đối với hình thức liên doanh, các con số này là 38,47 và 58,33.
Bảng 6: Đầu tư trực tiếp nước ngồi theo hình thức đầu tư
Tính đến 15032001 - chỉ tính các dự án còn hiệu lực
Đơn vị : triệu USD
Hình thức đầu tư Số DA Tổng VĐT
Vốn PĐ Vốn TH
Tỷ lệ
BOT
4 415,125
140,030 37,112
1.14
Hợp đồng hợp tác KD
128 3762,541
3156,998 2645,37
10,36
100 vốn nước ngoài
1530 10962,092
4863,514 5236,300
30,17
Liên doanh
1039 21190,017
8204,284 9923,542
58.33
Tổng số 2701
36329,775 16364,826
17842,325
100 Nguồn : Vụ Quản lý dự án ĐTNN - Bộ KH-ĐT
Sở dĩ hình thức liên doanh chiếm tỷ lệ lớn là do thời kỳ đầu, các thủ tục để triển khai dự án còn đòi hỏi nhiều giấy tờ, lại phải thông qua nhiều khâu, nhiều nấc và rất
phức tạp, người nước ngồi còn ít hiểu biết về các điều kiện kinh tế-xã hội và pháp
- 18 -
luật của Việt Nam, họ thường gặp khó khăn trong giao dịch, quan hệ cùng một lúc với khá nhiều cơ quan chức năng của Việt Nam để có được đầy đủ các điều kiện triển khai
xây dựng cơ bản cũng như tổ chức thực hiện dự án đầu tư. Trong hoàn cảnh như vậy, đa số các nhà đầu tư thích lựa chọn hình thức liên doanh để bên Việt Nam đứng ra lo
các thủ tục pháp lý cho sự hoạt động của doanh nghiệp hiệu quả hơn.
Sau một thời gian hoạt động trong môi trường đầu tư ở Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nhà đầu tư Châu Á có điều kiện hiểu biết hơn về pháp luật,
chính sách, phong tục tập quán và cách thức hoạt động kinh doanh ở Việt Nam. Vì vậy, nhu cầu có đối tác Việt Nam giảm đi một cách đáng kể. Không những thế, khi
tham gia liên doanh, khả năng của phía Việt Nam thường yếu cả về vốn đóng góp lẫn cán bộ quản lý, mặt khác nhiều nhà đầu tư nước ngoài không muốn chia sẻ quyền điều
hành doanh nghiệp với bên Việt Nam nên họ thấy khơng cần thiết phải có đối tác Việt Nam trong hoạt động đầu tư. Do đó, số dự án đầu tư trực tiếp nước ngồi vào Việt
Nam dưới hình thức 100 vốn nước ngồi ngày càng có xu hướng tăng lên cả tuyệt đối lẫn tương đối. Các dự án 100 vốn nước ngoài tập trung chủ yếu trong các khu
công nghiệp và khu chế xuất vì đảm bảo các điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật, tránh được nhiều thủ tục hành chính phức tạp.
Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh đến nay chỉ chiếm 4,74 số dự án và 10,36 tổng vốn đầu tư, chủ yếu trong lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí, các
dịch vụ viễn thơng. Hợp đồng BOT là hình thức chúng ta đưa vào áp dụng từ năm 1993 với mong muốn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng. Mặc
dù Nhà nước đã có nhiều ưu đãi như không thu tiền thuê đất, hưởng các mức thuế thấp nhất, được chuyển đổi ngoại tệ... nhưng số dự án thuộc hình thức này vẫn còn rất
ít. Đến nay mới chỉ có 4 dự án đầu tư nước ngồi theo hình thức BOT với số vốn đăng ký hơn 415 triệu USD. Điều này chủ yếu là do các bên chưa thực sự gặp nhau trong
các ý tưởng khi thương lượng, như khơng thống nhất được cách tính giá cả đầu vào, đầu ra đối với các đối tác cung ứng nguyên, nhiên vật liệu và mua sản phẩm...
2. Tình hình thực hiện của các dự án Đầu tư trực tiếp nước ngoài 2.1. Tiến độ thực hiện vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Sau hơn mười năm thực hiện Luật đầu tư nước ngoài, nhiều dự án được cấp giấy phép đã hoàn thành giai đoạn xây dựng, đi vào hoạt động, có sản phẩm tiêu thụ tại
Việt Nam và xuất khẩu đến nhiều nước trên thế giới, đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội của nước ta.
-
19
-
Có 1067 dự án sau một thời gian triển khai có nhu cầu xin được tăng vốn, mở rộng quy mô sản xuất. Tổng số vốn đã được phê duyệt tăng thêm là 6034 triệu USD
bằng 32,8 số dự án được cấp giấy phép và 16,6 tổng vốn đăng ký ban đầu. Như vậy tổng số vốn cấp mới và bổ sung đến thời điểm hết năm 2000 đạt khoảng 44.587
triệu USD.
Trong số các dự án đã nêu trên, đã có 30 dự án hết thời hạn thực hiện hợp đồng với số vốn hết hạn là 291 triệu USD. Bên cạnh đó, đã có một số lượng đáng kể dự án
bị giải thể, rút giấy phép đầu tư 645 dự án, lượng vốn giải thể là 7952 triệu USD, chiếm gần 21 tổng lượng vốn đăng ký. Nguyên nhân dẫn đến các dự án bị rút giấy
phép trước hết là do ta chọn nhầm đối tác, nhất là những năm đầu thực hiện Luật đầu tư. Đó là những cơng ty môi giới buôn bán hợp đồng, khi không thực hiện được mục
đích này, họ khơng trở lại Việt Nam thực hiện dự án. Tiếp theo là sự thiếu hụt tài chính của bên nước ngồi, khơng thực hiện được cam kết góp vốn, huy động vốn vay; sự
biến động phức tạp của thị trường và giá cả làm đảo lộn tính tốn ban đầu của dự án; sự phá sản của bên nước ngoài ở các địa bàn khác làm cho họ khơng có khả năng hoạt
động ở Việt Nam...Ngồi ra những yếu kém trong cơng tác quản lý nhà nước cũng góp phần làm tăng thêm số dự án đổ vỡ như không chọn lựa kỹ, dễ dãi trong bố trí cán bộ
Việt Nam tham gia liên doanh, không kịp thời nhắc nhở và xử lý những vi phạm pháp luật và giấy phép đầu tư, khơng có biện pháp hữu hiệu hòa giải các bất đồng, tranh
chấp; sự thay đổi chính sách sử dụng nguyên vật liệu...
Như vậy, tính đến ngày 15032001, trên lãnh thổ Việt Nam còn 2701dự án đầu tư trực tiếp nước ngồi đang hoạt động với tổng vốn đăng ký kể cả phần vốn bổ sung
của các dự án còn hiệu lực là 36.329,775 triệu USD.
Tính đến 31 tháng 12 năm 2000, số vốn đã thực hiện của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài bằng 44,82 của tổng số vốn đăng ký bao gồm cả vốn bổ sung,
trong đó 88,34 vốn thực hiện là của phía đối tác nước ngồi, 11,66 là vốn của doanh nghiệp Việt Nam. Tỷ lệ vốn thực hiện trên tổng vốn đăng ký của các dự án
100 vốn nước ngoài và dự án Hợp đồng hợp tác kinh doanh cao hơn nhiều so với hình thức liên doanh.
Các dự án trong lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí đạt tỷ lệ thực hiện cao hơn vốn cam kết 4, do trong ngành dầu khí, cam kết trên giấy phép chỉ là vốn tối thiểu.
Ngành tài chính ngân hàng, do tính đặc thù phải nộp ngay vốn pháp định mới được phép triển khai hoạt động nên tỷ lệ giải ngân cao 93. Nhìn chung, các dự án đầu tư
vào lĩnh vực công nghiệp xây dựng có tỷ lệ giải ngân cao nhất, trên 50. Các dự án
- 20 -
nông nghiệp đạt tỷ lệ giải ngân 43, trong khi các dự án thuỷ sản chỉ giải ngân được 36.
Dưới đây là số liệu về tình hình thực hiện dự án qua các thời kỳ:
Bảng 7: Tình hình thực hiện dự án qua các năm
Tính đến 31 tháng 12 năm 2000
Đơn vị : triệu USD Chỉ tiêu
Vốn thực hiện Trong đó chia ra
Vốn từ nước ngoài Vốn DN V.Nam
Tổng 88-2000 19984
17654 2330
1991 428
375 53
1992 575
492 83
1993 1118
931 187
1994 2241
1946 295
1995 2792
2343 449
5 năm 91-95 7153
6086 1067
1996 2923
2518 405
1997 3137
2822 315
1998 2364
2214 150
1999 2179
1971 208
2000 2228
2043 185
5 năm 96-2000 12831
11568 1263
Nguồn : Vụ Quản lý dự án ĐTNN - Bộ KH-ĐT
Trong điều kiện của một nền kinh tế kém phát triển, kết cấu hạ tầng lạc hậu, các nguồn lực cũng như chính sách đối với đầu tư nước ngồi còn nhiều biến động, thị
trường phát triển chưa đầy đủ...thì tỷ lệ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện được ở mức như vậy là không thấp. Tuy vậy, xuất phát từ đặc điểm, các dự án sau khi
-
21
-
phê duyệt thường chưa đủ các điều kiện để triển khai ngay, do đó số vốn thực hiện trong năm chủ yếu là của các dự án đã được phê duyệt từ các năm trước đó. Nếu so
sánh số vốn thực hiện của từng năm với số vốn đăng ký còn lại tổng số vốn đăng ký từ trước trừ đi số vốn đã thực hiện thì tỷ lệ vốn thực hiện diễn biến theo xu hướng
thiếu ổn định. Tỷ lệ này tăng nhanh từ đầu đến năm 1995 vốn thực hiện 1992vốn đăng ký 1988-1991 còn lại = 13,6; số tương ứng 1993=23,5; 1994=30,1;
1995=32,2 và sau đó giảm dần từ 1996 đến nay số liệu tương ứng 1996=21,8; 1997=18,1; 1998=10,1; 1999=7,1. Điều này một phần là do tác động của cuộc
khủng hoảng tiền tệ trong khu vực, một số nhà đầu tư thuộc các quốc gia xảy ra khủng hoảng đang còn số vốn mà họ chưa thực hiện lại phải dùng để đối phó với tình trạng
xấu, buộc họ phải dừng hoặc chấm dứt không thể tiếp tục đầu tư. Mặt khác, một số nhà đầu tư khi lập dự án đã tính tốn chưa thật sát với thực tế nên khi triển khai dự án
đã gặp phải một số vấn đề phát sinh vượt cả khả năng tài chính cũng như các yếu tố, điều kiện cho doanh nghiệp vận hành. Thậm chí có một số nhà đầu tư nước ngồi,
thực chất là yếu về năng lực tài chính nên mặc dù đã được cấp giấy phép đầu tư, nhưng không huy động được vốn đúng như dự kiến buộc họ phải triển khai thực hiện
dự án chậm, có khi mất khả năng thực hiện.

2.2. Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở một số lĩnh vực kinh tế tiêu biểu


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (89 trang)

×