1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Đầu tư trực tiếp nước ngoài với tăng trưởng GDP

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (510.92 KB, 89 trang )


Điều này thực sự có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế của nước ta vì chỉ thơng qua việc nâng cao tỷ lệ tích lũy, chúng ta mới có thể tạo ra khả
năng tự lực về kinh tế cho mình trong các giai đoạn phát triển tiếp theo. Để có thể làm được điều này thì việc thu hút mạnh mẽ hơn nữa nguồn vốn FDI là một trong những
yêu cầu cấp bách.
Những kết quả phân tích trên cho thấy trong những năm qua, vốn đầu tư nước ngoài là nguồn vốn bổ sung quan trọng giúp Việt Nam phát triển một nền kinh tế cân
đối, bền vững theo yêu cầu của công cuộc cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa.

2. Đầu tư trực tiếp nước ngoài với tăng trưởng GDP


Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngồi đã góp phần tạo ra những năng lực sản xuất mới, ngành nghề mới, sản phẩm mới, công nghệ mới và phương thức sản xuất
kinh doanh mới, từ đó làm tăng năng suất lao động xã hội, tăng tổng sản phẩm quốc nội và làm cho nền kinh tế nước ta từng bước chuyển biến theo hướng kinh tế thị
trường hiện đại.
Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngồi ln có chỉ số phát triển cao hơn chỉ số phát triển của các thành phần kinh tế khác và cao hơn hẳn chỉ số phát triển chung của
cả nước. Năm 1995, chỉ số phát triển của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngồi là 114,98 thì chỉ số phát triển chung của cả nước là 109,54. Số liệu tương ứng của
năm 1996 là 119,42 và 109,34, của năm 1997 là 120,75 và 108,15, của năm 1998 là 116,88 và 105,8. Đầu tư trực tiếp nước ngồi đã góp phần đưa nền kinh tế
đạt tốc độ tăng trưởng cao. Trong giai đoạn 1991-1997, nước ta đạt mức tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm khoảng 8,4. Trong giai đoạn này nguồn vốn FDI chiếm
khoảng 26 -30 tổng vốn đầu tư phát triển tồn xã hội. Những tính tốn sơ bộ cho thấy nếu thời gian qua khơng có nguồn vốn này thì mức tăng trưởng có thể khơng
vượt q 5 bình qn năm và nếu khơng có cả nguồn ODA thì mức tăng trưởng hàng năm có thể chỉ khoảng 3 - 4 trong điều kiện phát huy tốt nội lực.
Tỷ trọng đóng góp của khu vực FDI trong GDP ngày càng gia tăng và có xu hướng tương đối ổn định, từ 2 năm 1992 lên trên 9 năm 1997 và đạt 12,7 năm
2000. Điều đó cho thấy hoạt động FDI giữ vai trò ngày càng quan trọng đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế nước ta.
Bảng 11: Tốc độ tăng trưởng GDP qua các năm Năm
1992 1993
1994 1995
1996 1997
1998 1999
2000
Tốc độ
8.7 8.08
8.83 9.54
9.34 8.15
5.76 4.77
6.75
- 30 -
Đóng góp của
FDI
2.0 3.6
6.1 6.3
7.39 9.07
10.03 11.75 12.7
Nguồn : Kinh tế VN và Thế giới 2000-2001 - Thời báo kinh tế Việt Nam
Bên cạnh đó, ta thấy có mối quan hệ giữa sự gia tăng của GDP và xu hướng vận động của dòng vốn FDI. Hệ số tương quan Pearson bằng 0,882 cho thấy mối quan hệ
này tương đối chặt chẽ và là tương quan thuận chiều, nghĩa là sự tăng lên của vốn đầu tư nước ngoài sẽ làm tăng GDP.
Từ sự phân tích này, ta sẽ xem xét mối quan hệ giữa tổng sản phẩm quốc nội và vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi thơng qua ước lượng mơ hình với các biến GDP và
VNN vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi. Trong mơ hình còn có mặt biến xu thế T vì ta thấy tổng sản phẩm trong nước theo các năm là một chuỗi có tính xu thế, tăng dần
theo thời gian. Dưới đây là kết quả ước lượng mơ hình bằng phương pháp OLS:
LnGDP = 9,5712 + 0,14459 ✕ T + 0,20277 ✕ LnVNN
hay GDP = e
9,5712 9
✕ VNN
0,20277

e
0,14459 .T
Các kiểm định chẩn đốn cho thấy mơ hình đảm bảo được các giả thiết của ước lượng bình phương nhỏ nhất và khơng có khuyết tật. Các hệ số của mơ hình đều phù
hợp với nội dung kinh tế và đều khác 0 một cách thực sự. Hệ số của biến LnVNN bằng 0,20277 tức là trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, khi vốn ĐTTTNN tăng
lên 1 sẽ làm cho GDP của nước ta tăng lên 0,202. Đồng thời từ năm này sang năm
tiếp theo, GDP sẽ tăng lên gấp 1,119 lần e
0,14459
, với điều kiện các yếu tố khác giữ nguyên như năm trước. Đây thật sự là các kết quả có ý nghĩa, cho thấy vai trò to lớn
của vốn đầu tư nói chung và vốn đầu tư nước ngồi nói riêng trong sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế nước ta.
Một số lượng lớn các dự án FDI sau thời gian chuẩn bị triển khai và xây dựng cơ bản đã đi vào hoạt động, tạo ra sản phẩm và nguồn thu đáng kể. Doanh thu của khu
vực FDI liên tục gia tăng với tốc độ nhanh chóng, từ 151 triệu USD năm 1991 lên 2063 triệu USD năm 1995, 3910 triệu USD năm 1998 và đạt 5500 triệu USD trong
năm 2000. Tổng doanh thu thời kỳ 1998-2000 đạt 21.641 triệu USD. Khu vực có vốn đầu tư nước ngồi đã đóng góp một phần đáng kể vào ngân sách Nhà nước: 195 triệu
USD năm 1995, 263 triệu USD năm 1996, 317 triệu USD năm 1998. Trong giai đoạn
-
31
-
1988-2000, các doanh nghiệp FDI đã đóng góp vào ngân sách tổng cộng khoảng 1749 triệu USD, đây là một con số thực sự có ý nghĩa, góp phần làm giảm bớt tình trạng
thâm hụt và nâng cao khả năng chi cho đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước. Số liệu về doanh thu và nộp ngân sách Nhà nước của khu vực FDI:
Bảng 12: Doanh thu và nộp NSNN của khu vực FDI
Đơn vị : triệu USD
Năm 1992
1993 1994
1995 1996
1997 1998
1999 2000
Doanh thu
228 505
1026 2063
2743 3851
3910 4600 5500
Nộp NSNN
- -
128 195
263 315
317 271
260
Nguồn : Kinh tế VN và Thế giới 2000-2001 - Thời báo kinh tế Việt Nam
Ta sẽ đi xem xét cụ thể hơn vai trò của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngồi đối với sự tăng trưởng của các ngành kinh tế nước ta trong những năm vừa qua:

Đối với ngành công nghiệp
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi khơng những chiếm tỷ trọng cao mà còn có xu hướng tăng lên đáng kể trong tổng giá trị sản xuất của tồn ngành. Khu vực
FDI ln tạo ra hơn 25 giá trị sản xuất của tồn ngành cơng nghiệp. Tỷ trọng giá trị sản xuất của khu vực này đạt được từ 25,1 năm 1995; 26,73 năm 1996; 28,9 năm
1997 đã tăng lên 31,98 năm 1998; 34,73 năm 1999 và 35,5 năm 2000.
Tỷ trọng khu vực FDI trong GTSX công nghiệp Năm
1992 1993
1994 1995
1996 1997
1998 1999
2000
Tỷ trọng
26.2 26,4
26,2 25,1
26,7 28,9
32 34,7
35,5 Trong ngành cơng nghiệp khai thác, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi
đang có vị trí hàng đầu, với tỷ trọng 79 giá trị sản xuất của toàn ngành. Tiêu biểu mức tỷ trọng ở một số năm như sau: 77,8 năm 1995; 78 năm 1996; 77,7
năm 1997 và 81,4 năm 1998. Đặc biệt, giá trị sản xuất của ngành khai thác dầu thơ và khí tự nhiên chủ yếu do các doanh nghiệp có vốn FDI tạo ra, với các mức cụ thể
như sau: 99,7 năm 1995; 99,7 năm 1996; 99,8 năm 1997 và 99,8 năm 1998.
Trong công nghiệp chế biến, tỷ trọng giá trị sản xuất của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi chiếm khoảng 22 và có xu hướng ngày càng tăng, từ 18,1 năm
1995; 20,1 năm 1996; 22,9 năm 1997 lên 25,3 năm 1998. Trong đó, ở một số ngành quan trọng, tỷ trọng giá trị sản xuất của các doanh nghiệp FDI như sau: 71
trong ngành sản xuất và sửa chữa xe có động cơ trong đó 100 trong sản xuất và lắp
- 32 -
ráp xe máy, ô tô; 44,3 trong ngành sản xuất sản phẩm bằng da và giả da; 100 trong ngành sản xuất tụ điện, máy in, máy giặt, tủ lạnh, điều hòa khơng khí, đầu video, sản
xuất sợi PE, PES; 67,6 trong ngành sản xuất radio, tivi, thiết bị truyền thông; 31 trong ngành sản xuất kim loại; 22,2 trong sản xuất thiết bị điện, điện tử; 20,1
trong ngành sản xuất hóa chất; 19,1 trong ngành may mặc và 18,6 trong ngành dệt. Các số liệu trên chứng tỏ khu vực FDI có vai trò thực sự quan trọng trong ngành cơng
nghiệp của nước ta và đang nắm giữ hầu hết các ngành ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến.

Đối với ngành nông nghiệp
Tính đến nay, còn 298 dự án ĐTTTNN đang hoạt động trong lĩnh vực nông lâm nghiệp với tổng số vốn đăng ký gần 2 tỷ USD. Đầu tư nước ngồi đã góp phần nâng
cao năng lực sản xuất cho ngành nông nghiệp, chuyển giao cho lĩnh vực này nhiều giống cây, giống con, tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng cao, góp phần thúc đẩy q
trình đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp và khả năng cạnh tranh của nơng lâm sản hàng hóa. Vốn FDI còn góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp theo yêu
cầu của nền kinh tế CNH-HĐH. Nếu như trước đây đầu tư nước ngoài chỉ chủ yếu tập trung vào lĩnh vực chế biến gỗ, lâm sản.. thì những năm gần đây nhiều dự án đã đầu tư
vào các lĩnh vực sản xuất giống, trồng trọt, sản xuất thức ăn chăn ni, mía đường, trồng rừng, sản xuất ngun liệu giấy, chăn nuôi...
Như vậy đầu tư trực tiếp nước ngồi đã đóng góp một phần rất lớn vào những thành tựu về tăng trưởng kinh tế mà chúng ta đạt được trong thời gian qua và đang
khẳng định vai trò quan trọng của mình trong sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước các giai đoạn tiếp theo.

3. Đầu tư trực tiếp nước ngoài với chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (89 trang)

×