1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Đầu tư trực tiếp nước ngoài với chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (510.92 KB, 89 trang )


ráp xe máy, ô tô; 44,3 trong ngành sản xuất sản phẩm bằng da và giả da; 100 trong ngành sản xuất tụ điện, máy in, máy giặt, tủ lạnh, điều hòa khơng khí, đầu video, sản
xuất sợi PE, PES; 67,6 trong ngành sản xuất radio, tivi, thiết bị truyền thông; 31 trong ngành sản xuất kim loại; 22,2 trong sản xuất thiết bị điện, điện tử; 20,1
trong ngành sản xuất hóa chất; 19,1 trong ngành may mặc và 18,6 trong ngành dệt. Các số liệu trên chứng tỏ khu vực FDI có vai trò thực sự quan trọng trong ngành công
nghiệp của nước ta và đang nắm giữ hầu hết các ngành ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến.

Đối với ngành nơng nghiệp
Tính đến nay, còn 298 dự án ĐTTTNN đang hoạt động trong lĩnh vực nông lâm nghiệp với tổng số vốn đăng ký gần 2 tỷ USD. Đầu tư nước ngồi đã góp phần nâng
cao năng lực sản xuất cho ngành nông nghiệp, chuyển giao cho lĩnh vực này nhiều giống cây, giống con, tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng cao, góp phần thúc đẩy q
trình đa dạng hóa sản xuất nơng nghiệp và khả năng cạnh tranh của nông lâm sản hàng hóa. Vốn FDI còn góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp theo yêu
cầu của nền kinh tế CNH-HĐH. Nếu như trước đây đầu tư nước ngoài chỉ chủ yếu tập trung vào lĩnh vực chế biến gỗ, lâm sản.. thì những năm gần đây nhiều dự án đã đầu tư
vào các lĩnh vực sản xuất giống, trồng trọt, sản xuất thức ăn chăn ni, mía đường, trồng rừng, sản xuất nguyên liệu giấy, chăn nuôi...
Như vậy đầu tư trực tiếp nước ngồi đã đóng góp một phần rất lớn vào những thành tựu về tăng trưởng kinh tế mà chúng ta đạt được trong thời gian qua và đang
khẳng định vai trò quan trọng của mình trong sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước các giai đoạn tiếp theo.

3. Đầu tư trực tiếp nước ngoài với chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế


Trong các mục tiêu kinh tế vĩ mô, quan trọng hàng đầu là tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu có quan hệ mật thiết
với nhau: tăng trưởng khác nhau giữa các ngành, lĩnh vực và vùng lãnh thổ sẽ làm thay đổi cơ cấu kinh tế; ngược lại, chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ làm thay đổi tốc độ
tăng trưởng, nếu chuyển dịch cơ cấu theo hướng tiến bộ phù hợp với những điều kiện kinh tế đất nước và quan hệ quốc tế của mỗi thời kỳ sẽ thúc đẩy tăng trưởng nhanh,
hiệu quả cao và bền vững.
Trong điều kiện nền kinh tế mở, các quan hệ kinh tế quốc tế tạo ra động lực và điều kiện cho sự dịch chuyển nhanh cơ cấu kinh tế của các quốc gia. Trong đó
-
33
-
ĐTTTNN là một động lực mạnh mẽ, có ý nghĩa to lớn đến sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế. Đầu tư nước ngoài đã góp phần tích cực thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng
và chuyển dịch cơ cấu theo hướng tiến bộ, phù hợp với định hướng chiến lược CNH- HĐH của nước ta.
Bảng 13: Tốc độ tăng trưởng các ngành kinh tế
Năm Tốc độ tăng trưởng so với năm trước
Nông lâm nghiệp và thủy sản
Công nghiệp và xây
dựng Dịch vụ
1991 2.18
7.71 7.38
1992 6.88
12.79 7.58
1993 3.28
12.62 8.64
1994 3.37
13.39 9.56
1995 4.80
13.60 9.83
1996 4.40
14.46 8.80
1997 4.33
12.62 7.14
1998 3.53
8.33 5.08
1999 5.23
7.68 2.25
2000 4.04
10.07 5.57
Nguồn : Kinh tế VN và Thế giới 2000-2001 - Thời báo kinh tế Việt Nam
Đầu tư trực tiếp nước ngồi thúc đẩy sự phát triển của cơng nghiệp và các hoạt động dịch vụ trong nền kinh tế. Hai khu vực này ln có tốc độ tăng trưởng nhanh
hơn khu vực nông nghiệp, chỉ trừ năm 1998, nhịp tăng của dịch vụ trong tổng sản phẩm xã hội giảm xuống còn 5,08 và năm 1999 còn 2,25, thấp hơn so với khu vực
nông nghiệp mà nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp là do sự giảm sút luồng FDI đã ảnh hưởng đến vốn đầu tư, gián tiếp đến công ăn việc làm, thu nhập và như vậy làm giảm
sức mua trong nước. FDI giảm kéo theo lượng khách du lịch kết hợp với kinh doanh giảm, gián tiếp làm giảm doanh thu ngành vận tải, du lịch, khách sạn, nhà hàng... Điều
này một lần nữa cho thấy vai trò quan trọng của nguồn vốn FDI.
Cơ cấu vốn FDI ngày càng thay đổi phù hợp với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước, phân bố FDI thực hiện đến nay cho thấy: công nghiệp, xây dựng
chiếm 48,5; dịch vụ chiếm 47,5. Tính đến ngày 15032001, trong số các dự án FDI còn hiệu lực thì khu vực cơng nghiệp có 1715 dự án, với tổng vốn đầu tư
19430,413 triệu USD, chiếm 53,5 tổng vốn FDI cả nước; tiếp theo là ngành dịch vụ với 638 dự án và lượng vốn đầu tư 14796,008 triệu USD, chiếm 40,73; khu vực
nơng lâm nghiệp có 348 dự án với số vốn đầu tư 2103,353 triệu USD, chiếm 5,77.
- 34 -
Vốn đầu tư nước ngoài vào các ngành như trên đã biểu hiện phù hợp các chỉ số của cơ cấu kinh tế hiện đại, cơng nghiệp hóa: Cơng nghiệp - Dịch vụ - Nông nghiệp.
Những năm gần đây, đầu tư nước ngồi vào khu vực cơng nghiệp ngày càng gia tăng khoảng 23 nguồn vốn đầu tư đã nâng tỷ trọng khu vực FDI trong giá trị sản
xuất công nghiệp lên khoảng 34,7 vào năm 1999. Trong những năm 1996-1999, giá trị sản xuất công nghiệp ở khu vực có vốn đầu tư nước ngồi tăng khá cao đạt mức
22,3 bình qn năm. Nguồn vốn FDI cũng góp phần thúc đẩy ngành dịch vụ phát triển, nâng tỷ trọng của ngành này trong GDP lên trên 42 vào những năm 1995-
1997.
Cơ cấu ngành kinh tế đã có sự chuyển dịch đáng kể: nông nghiệp tăng khá về giá trị tuyệt đối, song tỷ trọng trong GDP giảm từ 38,7 năm 1990 xuống còn khoảng
25 vào năm 2000, tương ứng công nghiệp và xây dựng tăng từ 22,7 lên khoảng 34,5 và dịch vụ từ 38,6 lên 40,5.
Bảng 13: Cơ cấu ngành kinh tế qua các năm đơn vị Cơ cấu ngành kinh tế
Năm 1990
Năm Năm 2000
ước tính Thay đổi
sau 10 năm Tổng số
100,0 100,0
100,0
Nông lâm ngư nghiệp 38,7
27,2 25,0
- 13,7
Công nghiệp và xây dựng 22,7
28,8 34,5
+ 11,8
Dịch vụ 38,6
44,0 40,5
+ 1,90
Nguồn : Tổng kết tình hình thực hiện chiến lược 10 năm 1991-2000 - Bộ KH ĐT
Nhà nước ta đã có chính sách thu hút nhiều nguồn vốn khác nhau tài trợ cho các vùng chậm phát triển, vùng khó khăn. Xu hướng thu hút vốn đầu tư nước ngoài đã
từng bước lan ra các vùng ngoài các vùng phát triển trọng điểm. Nếu trong những năm đầu khi có Luật đầu tư nước ngồi, ở các tỉnh phía Bắc chỉ chiếm 25 số dự án với
20 tổng vốn đầu tư, thì đến hết năm 1999 các tỉnh phía Bắc thu hút trên 30 số dự án với trên 35 vốn đầu tư. Đến nay đã có 59 trong tổng số 61 tỉnh và thành phố trực
thuộc TW có dự án đầu tư nước ngồi. Tốc độ tăng vốn đầu tư bình quân hàng năm trong 10 năm qua, nhanh nhất là Trung du miền núi phía Bắc, khoảng 19 năm, các
vùng khác từ 15-17 năm.
Bên cạnh đó, ĐTTTNN còn góp phần chủ yếu đẩy nhanh q trình hình thành các khu cơng nghiệp KCN, khu chế xuất KCX, vùng kinh tế trọng điểm, ngành công
nghiệp mũi nhọn của nền kinh tế Việt Nam. Đến cuối tháng 71998, Việt Nam đã có 54 KCN, KCX trong đó 48 KCN-KCX đã đi vào hoạt động, phân bố rộng khắp từ Bắc
-
35
-
vào Nam. Đến hết tháng 61998 trong các KCN đã có 609 doanh nghiệp hoạt động với tổng vốn đầu tư khoảng 5,8 tỷ USD, vốn thực hiện 3,5 tỷ USD, thu hút 120.000 lao
động, đạt giá trị sản xuất công nghiệp 890 triệu USD, xuất khẩu 552 triệu USD trong 6 tháng đầu năm 1998. ĐTNN đã góp phần hình thành 3 vùng kinh tế trọng điểm của
3 miền Bắc-Trung-Nam, mỗi vùng là một khu vực kinh tế tăng trưởng nhanh, có tác dụng đầu tàu đối với kinh tế Việt Nam. Cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ bước đầu có
sự chuyển biến theo hướng khai thác thế mạnh của từng vùng, các vùng phát triển trọng điểm. Năm 1999, ba vùng kinh tế trọng điểm tạo ra khoảng 48 GDP, 69,2
giá trị gia tăng cơng nghiệp.
Như vậy, bên cạnh vai trò là nguồn bổ sung vốn quan trọng, góp phần đáng kể vào tăng trưởng GDP, hoạt động ĐTTTNN còn có tác động tích cực thúc đẩy quá trình
chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng CNH-HĐH.
4. Đầu tư trực tiếp nước ngoài với hoạt động xuất nhập khẩu và quá trình mở cửa, hội nhập nền kinh tế thế giới
Đầu tư trực tiếp nước ngồi thúc đẩy q trình mở cửa và hội nhập của nền kinh tế Việt Nam với thế giới, nó là một trong những phương thức đưa hàng hóa sản xuất
tại Việt Nam thâm nhập thị trường nước ngồi một cách có lợi nhất. Các nhà đầu tư nước ngồi thơng qua thực hiện dự án đầu tư đã trở thành “cầu nối”, là điều kiện tốt
để Việt Nam nhanh chóng tiếp cận và tiến hành hợp tác được với nhiều quốc gia, nhiều tổ chức quốc tế cũng như những trung tâm kinh tế, kỹ thuật, công nghệ mạnh
của thế giới.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giúp Việt Nam mở rộng hơn thị phần ở nước ngồi. Đối với những hàng hóa xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI, vơ hình chung
đã biến các bạn hàng truyền thống của các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thành bạn hàng của Việt Nam. Sự ra đời và hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài đã làm cho thị trường xuất khẩu của Việt Nam không ngừng được mở rộng. Từ các thị trường truyền thống thuộc khối các nước xã hội chủ nghĩa trước
đây mà chủ yếu là các nước Đông Âu, thị trường xuất khẩu đã mở rộng sang các nước Tây Âu, Bắc Mỹ và các nước NICs. Với sự giúp đỡ thơng qua uy tín và hệ thống
marketing sẵn có của các nhà đầu tư nước ngồi, các hàng hóa xuất khẩu của chúng ta có thể thâm nhập vào thị trường thế giới một cách dễ dàng hơn.
Trong những năm qua kim ngạch xuất khẩu của nước ta liên tục có sự tăng trưởng với tốc độ khá cao. Năm 2000 kim ngạch xuất khẩu tăng 24 so với năm 1999. Tỷ
trọng xuất khẩu GDP giai đoạn 1991-1999 cho thấy xu thế mở cửa của nền kinh tế
- 36 -
Việt Nam ngày càng gia tăng. Đến năm 1999, tỷ trọng xuất khẩu so với GDP đạt mức 40,7.
Bảng 14: Tình hình xuất khẩu của Việt Nam thời gian qua Năm
1992 1993
1994 1995
1996 1997
1998 1999
2000
Xuất khẩu triệu USD
2581 2985
4054 5449
7256 9145
9361 11540
14308
Xuất khẩu s
o
G D
P 26,1
23,3 26,1
26,3 29,5
35 34,3
40.7 _
Tốc độ tăng trưởng
23,7 15,7
35,8 34,4
33,2 26,6
1,9 23,3
24
Nguồn : Cơ sở khoa học của một số vấn đề trong chiến lược phát triển KT-XH Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 - Viện chiến lược phát triển
Nhờ có những lợi thế trong hoạt động thị trường thế giới nên tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu KNXK của các doanh nghiệp có vốn FDI cao hơn tốc độ tăng
KNXK của cả nước và cao hơn hẳn KNXK của các doanh nghiệp trong nước. Năm 1996, KNXK của các doanh nghiệp FDI tăng 78,6 so với năm trước, thì KNXK của
cả nước tăng 33,2, còn KNXK của các doanh nghiệp trong nước chỉ tăng 29,5. Số liệu tương ứng của năm 1997 là: 127,7; 26,6 và 14; của năm 1998 là: 10,7;
2,4 và 1,8; năm 1999 là: 30,2; 23 và 21,1. Về số tuyệt đối, KNXK của các doanh nghiệp FDI đã tăng một cách đáng kể qua các năm. Nếu năm 1991 đạt 52 triệu
USD, năm 1995 đạt 445 triệu USD, năm 1997 đạt 1790 triệu USD thì năm 1999 đạt 2590 triệu USD và năm 2000 đạt tới 3320 triệu USD. Như vậy, KNXK của các doanh
nghiệp loại này đạt được trong năm 2000 gấp 7,4 lần của năm 1995 và gần bằng 64 lần của năm 1991.
-
37
-
Dưới đây là số liệu về tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI :
Năm
92 93
94 95
96 97
98 99
Tóc độ tăng
115 129
37 25
79 128
11 30
Nguồn : Vụ Quản lý dự án - Bộ KH-ĐT
Về số tương đối, tỷ trọng KNXK của các doanh nghiệp có vốn FDI trong tổng KNXK của cả nước đang có xu hướng tăng lên. Năm 1992 chiếm 4,3, năm 1996
chiếm 12,7 và đến năm 2000 đã chiếm 23,2 tổng KNXK của cả nước.
Bảng 15: Xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI Năm
1992 1993
1994 1995
1996 1997
1998 1999
2000
Xuất khẩu triệu USD
112 269
352 445
920 1790
1982 2590
3320
So với cả n
ư ớ
c 4,3
9 8,7
8,1 12,7
19,6 21,2
22,4 23,2
Nguồn : Vụ Quản lý dự án - Bộ KH-ĐT
Theo số liệu của Vụ quản lý dự án đầu tư nước ngoài thuộc Bộ KH-ĐT, trong số hơn 6 tỷ USD giá trị xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI thu được trong vòng 10 năm
trở lại đây, không kể phần xuất khẩu dầu thô của liên doanh VietsoPetro và xuất khẩu dịch vụ, thì giá trị xuất khẩu của các nhà đầu tư công nghiệp nhẹ là lớn nhất 3 tỷ
USD, tiếp đến là các nhà đầu tư công nghiệp nặng gần 2,3 tỷ USD, sau đó đến cơng nghiệp thực phẩm 405 triệu USD, nơng lâm nghiệp 325 triệu USD, dầu khí 101
triệu USD và thủy sản 67 triệu USD. Ưu điểm hơn hẳn của hàng hóa xuất khẩu của các doanh nghiệp ĐTNN so với hàng hóa xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước ở
chỗ chúng chủ yếu là hàng công nghiệp chế biến và chế tạo, trong đó có nhiều sản phẩm thuộc công nghệ cao như bản mạch in điện tử, máy thu hình, video...
- 38 -
Như vậy, các doanh nghiệp ĐTTTNN đang đóng vai trò quan trọng trong sản xuất và xuất khẩu hàng hóa ở nước ta. Kết quả đáng khích lệ đó một phần do nỗ lực của
bản thân các doanh nghiệp, một phần do chính sách Nhà nước ngày một thơng thống nhằm khuyến khích mạnh mẽ các doanh nghiệp FDI tham gia sản xuất và xuất khẩu.
Khoảng gần 23 số dự án mới cấp phép trong hơn một năm nay là đầu tư tại các khu công nghiệp, khu chế xuất và đều gắn với mục tiêu xuất khẩu ít nhất từ 50 sản phẩm
trở lên. Điều đó báo hiệu khả năng gia tăng xuất khẩu của nước ta nói chung, của khu vực doanh nghiệp FDI nói riêng trong những năm tới.
Tuy nhiên phải thấy rằng nếu khơng kể xuất khẩu dầu khí thì tỷ trọng xuất khẩu qua các dự án FDI so với tổng kim ngạch xuất khẩu còn khá bé, chứng tỏ các nhà đầu
tư vẫn tập trung vào các ngành sản xuất hàng thay thế nhập khẩu nhiều hơn là hướng về xuất khẩu. Chúng ta cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư,
chú trọng phát triển năng lực xuất khẩu của nền kinh tế để đưa nước ta ngày càng hòa nhập với kinh tế khu vực và thế giới.
5. Đầu tư trực tiếp nước ngoài với giải quyết công ăn việc làm, nâng cao năng lực của người lao động
Hoạt động của các dự án ĐTTTNN đã tạo ra một số lượng lớn chỗ làm việc trực tiếp và gián tiếp có thu nhập cao, đồng thời góp phần hình thành cơ chế thúc đẩy việc
nâng cao năng lực cho người lao động Việt Nam.
Tính đến ngày 31-12-2000, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo ra cho Việt Nam khoảng 349.000 chỗ làm việc trực tiếp và khoảng 1 triệu lao động gián
tiếp bao gồm công nhân xây dựng và các ngành sản xuất, dịch vụ phụ trợ có liên quan - theo tính tốn của Ngân hàng thế giới. Như vậy, số lao động làm việc trong
các bộ phận có liên quan đến hoạt động của các dự án đầu tư nước ngoài bằng khoảng 39 tổng số lao động bình quân hàng năm trong khu vực nhà nước. Ngành công
nghiệp nhẹ là ngành tạo ra nhiều việc làm nhất, với hơn 15 vạn chỗ làm việc, chiếm gần 50 số lao động trong khối FDI. Đây là một kết quả nổi bật của hoạt động đầu tư
trực tiếp nước ngoài.
Bảng 16: Giải quyết việc làm khu vực FDI 1000 người Năm
1996 1997
1998 1999
2000
Số việc làm 220
250 270
296 349
Nguồn : Vụ Quản lý dự án - Bộ KH-ĐT
-
39
-
Thu nhập bình quân của lao động làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi là 70 USD tháng tương đương khoảng 980.000 đồng, bằng khoảng
150 mức thu nhập bình quân của lao động trong khu vực nhà nước. Đây là yếu tố hấp dẫn đối với lao động Việt Nam, do đó đã tạo ra sự cạnh tranh nhất định trên thị
trường lao động. Tuy nhiên, lao động làm việc trong các doanh nghiệp này đòi hỏi cường độ lao động cao, kỷ luật lao động nghiêm khắc...đúng với yêu cầu của lao động
làm việc trong nền sản xuất hiện đại. Trong một số lĩnh vực còn yêu cầu đối với lực lượng lao động phải có trình độ cao về tay nghề, học vấn và ngoại ngữ. Các nhân viên
trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi đã tiếp thu được cơng nghệ quản lý hiện đại, nâng cao trình độ tin học, ngoại ngữ, có điều kiện cập nhật các kiến thức,
phương tiện, cơng cụ mới trong quản lý kinh tế, có điều kiện làm quen và tự rèn luyện tác phong công nghiệp, sử dụng thành thạo các máy móc thiết bị hiện đại.
Sự hấp dẫn về thu nhập cùng với đòi hỏi cao về trình độ là những yếu tố tạo nên cơ chế buộc người lao động Việt Nam có ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao trình
độ và tay nghề để có thể đủ điều kiện được tuyển chọn vào làm việc tại các doanh nghiệp loại này. Theo đánh giá của một số chuyên gia về lao động cho thấy, đến nay,
ngoại trừ một số ít lao động bỏ việc do mâu thuẫn với giới chủ, một số khác bị thải loại do không đáp ứng được yêu cầu chủ yếu do tay nghề yếu, số công nhân hiện còn
làm việc tại các doanh nghiệp FDI đều được bồi dưỡng trưởng thành và tạo nên một đội ngũ công nhân lành nghề, đáp ứng được yêu cầu đối với người lao động trong nền
sản xuất tiên tiến.
Sự phản ứng dây chuyền tự nhiên, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp trong nước trên thị trường lao động là nhân tố thúc đẩy lực lượng
lao động trẻ tự đào tạo một cách tích cực và có hiệu quả hơn, cũng như góp phần hình thành cho lao động Việt Nam nói chung một tâm lý tuân thủ nề nếp làm việc theo tác
phong cơng nghiệp hiện đại có kỷ luật.
Về đội ngũ các cán bộ quản lý, kinh doanh: trước khi bước vào cơ chế thị trường, chúng ta chưa có nhiều nhà doanh nghiệp giỏi có khả năng tổ chức sản xuất kinh
doanh có hiệu quả trong mơi trường cạnh tranh. Khi các dự án đầu tư nước ngoài bắt đầu hoạt động, các nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam những chuyên gia giỏi,
đồng thời áp dụng những chế độ quản lý, tổ chức, kinh doanh hiện đại nhằm thực hiện dự án có hiệu quả. Đây chính là điều kiện tốt một mặt để các doanh nghiệp Việt Nam
tiếp cận, học tập và nâng cao trình độ, kinh nghiệm quản lý; mặt khác, để liên doanh có thể hoạt động tốt, nhà đầu tư nước ngoài cũng buộc phải đào tạo cán bộ quản lý
- 40 -
cũng như lao động Việt Nam đến một trình độ đủ để đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật, công nghệ đang sử dụng trong các dự án. Như vậy dù không muốn thì các nhà đầu tư
nước ngồi cũng phải tham gia vào công tác đào tạo nguồn nhân lực Việt Nam. Đến nay, chúng ta có khoảng 6.000 cán bộ quản lý, 25.000 cán bộ kỹ thuật đang làm việc
tại các doanh nghiệp có vốn FDI. Họ chủ yếu là nước kỹ sư trẻ, có trình độ có thể cùng các chuyên gia nước ngoài quản lý doanh nghiệp, tổ chức sản xuất, kinh doanh
có hiệu quả và đủ khả năng để tiếp thu nhanh những công nghệ hiện đại thậm chí cả bí quyết kỹ thuật.
Như vậy, thơng qua việc thu hút và tạo ra thu nhập ổn định cho một lượng lớn lao động xã hội, ĐTTTNN đã góp phần đào tạo và nâng cao tay nghề cho người lao động
Việt Nam, chuyển đổi cơ cấu lao động xã hội theo hướng giảm lao động nông nghiệp, tăng lao động công nghiệp và dịch vụ cả về số lượng, tỷ trọng lẫn chất lượng, góp
phần giảm các tệ nạn xã hội cũng như giảm các tội phạm về kinh tế, tăng sự ổn định chính trị - xã hội của cả nước cũng như từng địa phương.
6. Đầu tư trực tiếp nước với hoạt động chuyển giao công nghệ, nâng cao trình độ kỹ thuật của nền sản xuất
Khi đầu tư vào Việt Nam, chủ đầu tư không chỉ chuyển vào nước ta vốn bằng tiền mà còn chuyển cả vốn hiện vật như máy móc, thiết bị, ngun vật liệu...còn gọi là
cơng nghệ cứng và vốn vơ hình như chun gia kỹ thuật cơng nghệ, tri thức khoa học, bí quyết quản lý...còn gọi là cơng nghệ mềm. Thơng qua hoạt động đầu tư trực
tiếp nước ngồi, q trình chuyển giao cơng nghệ được thực hiện tương đối nhanh chóng và thuận tiện cho cả bên Việt Nam và bên chủ đầu tư.
Về vấn đề những công nghệ đang được sử dụng ở các doanh nghiệp FDI thuộc ngành cơng nghiệp nói riêng và trên tồn bộ nền kinh tế Việt Nam nói chung cũng còn
nhiều ý kiến đánh giá khác nhau. Nhưng qua đánh giá thực tế của một số cơ quan chuyên môn và phân tích theo logic ta thấy rằng:
- Các nhà đầu tư nước ngoài bao giờ cũng đặt lợi nhuận và thời gian thu hồi vốn làm mục tiêu hàng đầu. Những thiết bị công nghệ mà họ đưa vào sử dụng tại các dự
án đầu tư ở ta tuy có thể đã đến lúc cần thay thế ở nước họ, nhưng vì đi cùng với những thiết bị, cơng nghệ này thường là một số lượng nhất định tiền vốn phải bỏ ra,
xuất phát từ sự gắn liền với lợi ích của mình như vậy nên khi chuyển thiết bị, cơng nghệ vào nước ta, bên nước ngoài cũng cân nhắc tính tốn kỹ. chúng ta tin rằng họ chỉ
chuyển vào những thiết bị cơng nghệ mà họ thấy còn phù hợp với trình độ và phát huy
-
41
-
được hiệu quả tại Việt Nam, để chí ít họ cũng còn khả năng thu hồi được vốn và có lãi tất nhiên ta không loại trừ những trường hợp cá biệt, ngoại lệ.
- Thực tế, những thiết bị, cơng nghệ của nước ngồi chuyển vào thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam lâu nay chưa phải là những loại thuộc thế hệ hiện đại nhất của thế
giới nhưng phần lớn là hiện đại hơn rất nhiều những thiết bị có trước đây tại Việt Nam.
Kết quả hoạt động chuyển giao công nghệ qua các dự án FDI thời gian qua đã góp phần nâng cao một cách rõ rệt trình độ công nghệ của sản xuất trong nước so với thời
kỳ trước. Nhiều công nghệ mới đã được thực hiện và nhiều sản phẩm mới đã được sản xuất trong các xí nghiệp FDI. Một số ngành đã tiếp thu được cơng nghệ tiên tiến, tiếp
cận với trình độ hiện đại của thế giới như ngành bưu chính viễn thơng, thăm dò và khai thác dầu khí...Hầu hết các trang thiết bị được đưa vào các xí nghiệp FDI tương
đối đồng bộ và là các thiết bị có trình độ cơ khí hóa trung bình, cao hơn các trang thiết bị cùng loại đã có trong nước và thuộc loại phổ cập ở các nước trong khu vực. Phần
lớn các thiết bị được trang bị các bộ gá chuyên dùng kèm theo các phương tiện nâng- hạ-vận chuyển phục vụ cho dây chuyền sản xuất chun mơn hóa. Một số dây chuyền
được trang bị các thiết bị riêng lẻ có trình độ tự động hóa cao, như các dây chuyền lắp ráp các bản mạch điện tử, tổng đài điện thoại kỹ thuật số, lắp ráp các mặt hàng điện
tử. Một số ít có các thiết bị tự động hóa hồn toàn, sản phẩm thiết kế và sản xuất được điều khiển bằng kỹ thuật vi tính.
Hoạt động chuyển giao cơng nghệ trong đầu tư nước ngoài đã tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng tốt và hình thức, mẫu mã đẹp, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị
trường trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài. Đồng thời hạn chế đến mức tối đa các loại hàng trước đây ta phải nhập khẩu với khối lượng lớn như bia, sắt thép xây dựng,
sứ vệ sinh, xi măng...
Chất lượng các loại sản phẩm của khu vực FDI hầu hết đạt tiêu chuẩn Việt Nam TCVN, một số đạt tiêu chuẩn quốc tế ISO.
Một vấn đề có ý nghĩa nữa là nếu như trước đây, các doanh nghiệp Việt Nam chỉ biết sản xuất kinh doanh thụ động, theo sự chỉ định kế hoạch của cấp trên, không cần
đầu tư, cải tiến, khơng cần tìm hiểu thị trường, quảng cáo, tiếp thị sản phẩm, sản phẩm sản xuất ra không bị cạnh tranh...thì sự xuất hiện của các doanh nghiệp có vốn FDI đã
thực sự trở thành nhân tố tác động mạnh làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất- kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam theo hướng tích cực và ngày càng thích
nghi với nền kinh tế thị trường.
- 42 -
Sự xuất hiện của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi đã đương nhiên đặt các doanh nghiệp Việt Nam trong hoàn cảnh bắt buộc tham gia vào cuộc cạnh tranh về
mọi mặt để xác định khả năng tồn tại hay phá sản. Để có thể tồn tại được, các doanh nghiệp Việt Nam chỉ còn con đường là phải thay đổi một cách căn bản từ công nghệ,
phương thức sản xuất kinh doanh, trình độ của người lao động..Nhiều doanh nghiệp trong nước đã cố gắng đổi mới công nghệ, nhập các thiết bị cơng nghệ mới và đã tạo
ra sản phẩm có chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, giá cả hợp lý, không thua kém hàng nhập.
Như vậy, bên cạnh một số tồn tại, các công nghệ và thiết bị được nhập vào nước ta qua các dự án đầu tư nước ngồi là những cơng nghệ đã ổn định và phổ cập ở các
nước đang phát triển, phù hợp với quy mô sản xuất và thị trường tiêu thụ sản phẩm ở nước ta. Các cơng nghệ này đã nhanh chóng tạo ra lợi nhuận, phù hợp với giai đoạn
phát triển ban đầu của nền kinh tế thị trường, tạo ra công ăn việc làm cho người lao động, đáp ứng nhu cầu của đời sống xã hội. Đồng thời hoạt động đầu tư nước ngồi
cũng có tác động thúc đẩy phát triển cơng nghệ trong nước trong bối cảnh có sự cạnh tranh của cơ chế thị trường.
Nước ta có lợi thế so sánh về nguồn lực con người nên trước mắt, các cơng nghệ hiện đại có thể tác động không tốt đến công ăn việc làm nhưng về lâu dài, chúng ta
cần phải có chính sách chú trọng tìm kiếm, đầu tư và thu hút các nhà đầu tư có cơng nghệ tiên tiến, kỹ thuật cao để đưa nền sản xuất nước ta theo kịp sự phát triển của khu
vực và thế giới.
Trên đây là những tác động chủ yếu của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với nền kinh tế Việt Nam. Ngoài ra hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngồi còn có tác động đến
nhiều mặt, nhiều lĩnh vực khác của nền kinh tế như ảnh hưởng đến cán cân thanh toán quốc tế, tỷ giá hối đoái, phát triển cơ sở hạ tầng, mở rộng các mối quan hệ ngoại
giao... khó có thể đề cập hết trong khuôn khổ hạn hẹp của luận văn này.
Cần phải hiểu rằng, FDI không thể là phương thuốc thần kỳ có thể giúp giải quyết hết tất cả các vấn đề còn tồn tại của một nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi
như Việt Nam, và thậm chí nó còn gây ra nhiều tác động tiêu cực đang được xem xét và đánh giá cụ thể. Tuy nhiên, trong sự tăng trưởng kinh tế đáng khích lệ những năm
vừa qua, FDI đã giữ một vai trò hết sức quan trọng.
Những phân tích trên chưa thể đánh giá hết vai trò tích cực và tầm quan trọng của ĐTTTNN đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế của nước ta. Tuy nhiên ta có thể
khẳng định lại một điều đầu tư trực tiếp nước ngồi đã góp một phần tích cực và vơ cùng quan trọng trong công cuộc đổi mới kinh tế của Việt Nam hơn 10 năm qua, nó
-
43
-
như một nguồn năng lượng quyết định khởi động cho cỗ máy kinh tế Việt Nam đi vào quỹ đạo của sự tăng trưởng và phát triển. ĐTTTNN là một trong những điều kiện đảm
bảo cho sự thành công của công cuộc CNH-HĐH, là một kênh đưa kinh tế Việt Nam hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới.
III. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI FDI Ở NƯỚC TA 1. Sự sụt giảm của dòng FDI vào Việt Nam
Sau những năm phát triển mạnh mẽ, từ năm 1997 đầu tư trực tiếp nước ngồi vào Việt Nam có biểu hiện suy giảm, nhất là đến các năm 1998, 1999 thì xu hướng giảm
đó càng rõ rệt hơn. Nếu so với năm 1997 số dự án được duyệt của năm 1998 chỉ bằng 79,71; năm 1999 chỉ bằng 80,58. Số liệu tương ứng của vốn đăng ký là 83,83 và
30,01. Quy mơ dự án theo vốn đăng ký bình qn của năm 1999 nhỏ đi một cách đột ngột và ở mức thấp nhất từ trước đến nay 5,52 triệu USD dự án, bằng 41,19
quy mơ bình qn của thời kỳ 1988-1999. Đã có nhiều lý giải về nguyên nhân của xu hướng này:
• Kinh tế Mỹ, Nhật, Tây Âu đang phục hồi sau một thời gian suy thoái đã thúc
đẩy các chủ đầu tư trên thế giới đưa trên 70 tổng số vốn FDI vào các nước công nghiệp phát triển. Các nước đang phát triển cạnh tranh gay gắt với nhau để
thu hút 30 lượng vốn FDI còn lại, nhất là khu vực Đông Nam Á, Trung Quốc và Ấn Độ. Môi trường đầu tư của Việt Nam chưa phải là hấp dẫn so với các
nước khác dẫn tới thu hút FDI gặp khó khăn.
• Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực Châu Á.
• Việc Việt Nam gia nhập ASEAN, cùng xây dựng AFTA thống nhất vào năm
2006, khiến cho các nhà đầu tư nước ngồi phải tính tốn: nếu mơi trường đầu tư ở Việt Nam chưa hấp dẫn thì có thể đầu tư vào các nước thành viên khác của
ASEAN, vốn có mơi trường đầu tư tốt và quen thuộc hơn, hoặc mở rộng quy mô, năng lực sản xuất tại các cơ sở hiện có của họ tại các nước này, sau đó
thâm nhập vào thị trường Việt Nam bằng con đường thương mại.
• Việt Nam chưa phải thành viên của Tổ chức thương mại quốc tế WTO, chưa
được hưởng chế độ Tối huệ quốc của Mỹ, cũng là trở ngại cho các nhà đầu tư nước ngoài xây dựng cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu tại Việt Nam.
• Sau hơn mười năm kể từ ngày ban hành, Luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam
đã thay đổi hai lần và chi tiết thi hành luật đầu tư thay đổi 4 lần, đặc biệt chủ trương gần đây của Chính phủ điều chỉnh chính sách để đầu tư nước ngoài
- 44 -
hướng mạnh vào xuất khẩu, tăng tỷ lệ góp vốn của bên Việt Nam, quản lý chặt việc chuyển đổi ngoại tệ...khiến cho dư luận nước ngoài đánh giá chính sách
đầu tư thiếu ổn định và nhất quán, việc thắt chặt các điều kiện đầu tư không phù hợp với thơng lệ quốc tế .
• So với các nước trong khu vực, thuế lợi tức và giá nhân công của Việt Nam
thấp nhưng cường độ lao động và kỹ năng lao động của người Việt Nam cũng thấp, giá th dịch vụ văn phòng, cước phí viễn thơng cao, chi phí đền bù và
giải toả mặt bằng lớn.
• Còn có q nhiều lệ phí theo thống kê chưa đầy đủ, hiện có khoảng 200 loại lệ
phí đang thực hiện, một số lệ phí thậm chí còn cao hơn thuế gây cho nhà đầu tư cảm giác mình phải đóng quá nhiều thuế. Mức thuế xuất nhập khẩu ở nhiều
khâu bất hợp lý gây thiệt hại cho các doanh nghiệp. Thủ tục hải quan không rõ ràng, tùy tiện áp mã số để tính thuế.
• Thủ tục triển khai dự án phức tạp, kéo dài nhất là khâu cấp đất, giải phóng mặt
bằng, xét duyệt và sửa chữa thiết kế, thủ tục hải quan, đăng ký các loại hình kinh doanh sau giấy phép.
• Việc chưa cho phép các doanh nghiệp ngồi quốc doanh được góp vốn bằng
quyền sử dụng đất đai hợp pháp cũng hạn chế khả năng thu hút vốn đầu tư FDI.
• Quản lý đầu tư nước ngồi thiếu thống nhất, mỗi địa phương có lệ riêng, thêm
vào đó là nạn tham nhũng, khiến các nhà đầu tư nước ngồi khơng lường hết các khó khăn khi triển khai dự án đầu tư tại Việt Nam.
• Thiếu một quy hoạch thu hút vốn đầu tư thống nhất theo ngành và theo lãnh thổ
để hướng dẫn đầu tư, khiến nhiều dự án được cấp phép vào các ngành hàng còn dư thừa cơng suất, khâu triển khai sau giấy phép gặp khó khăn, nhiều dự án
hoạt động kém hiệu quả.
• Chính sách hai giá trong một số dịch vụ đối với người nước ngoài và Việt Nam
khiến cho nhà đầu tư cảm thấy bị đối xử không cơng bằng.
• Nhiều địa phương còn có tiềm năng lợi thế thu hút FDI nhưng cơ sở hạ tầng
yếu kém nên khơng hấp dẫn các nhà đầu tư.
• Năng lực của những người thi hành luật như: hải quan, thuế vụ còn yếu, cán bộ
quản lý bên phía Việt Nam tham gia các dự án liên doanh trình độ hạn chế. Đây cũng là những yếu tố ảnh hưởng xấu đến mơi trường đầu tư của Việt Nam.
-
45
-
• Thiếu nhiều luật cần thiết để đảm bảo cơ sở pháp lý vững chắc cho quá trình
đầu tư như: Luật ngân hàng, luật bảo hiểm, luật cạnh tranh...
Tuy nhiên, nhiều lý giải trong số trên mới chỉ dừng lại ở những suy luận bề ngồi và thiếu tính thuyết phục. Chúng ta cần phải có sự nghiên cứu, phân tích sâu sắc hơn,
có thể bắt đầu từ những vấn đề đặt ra dưới đây: - Khủng hoảng tiền tệ ở Châu Á mới xảy ra giữa năm 1997 mà dấu hiệu của sự
chững lại của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam lại có từ những tháng cuối năm 1996.
- Tại sao khủng hoảng tiền tệ ở các nước khác trầm trọng hơn nhiều ở Việt Nam mà các nhà đầu tư nước ngồi khơng chuyển vốn sang Việt Nam.
- Tại sao Việt Nam không giành được phần thắng trong cạnh tranh thu hút 30 FDI đầu tư vào các nước đang phát triển.
- Tại sao trước kia Việt Nam cũng chưa phải là thành viên của WTO, chưa được hưởng Tối huệ quốc của Mỹ mà đầu tư trực tiếp từ bên ngoài vẫn tăng đều.
- Tại sao các phiền tối về thủ tục, lệ phí trước kia cũng đã tồn tại nhưng không ảnh hưởng tới tốc độ tăng FDI của Việt Nam.
Cũng cần phải tỉnh táo với các phàn nàn của các nhà đầu tư nước ngoài. Trong bối cảnh tranh tối tranh sáng, các nhà tư bản thường khai thác được những kẽ hở để rồi
thu hút được món lời nhiều hơn so với phần bị thiệt hại. Thực tế ở Việt Nam trong thời gian qua, nhiều nhà đầu tư nước ngồi đã có lời lớn nhờ trốn thuế, nhờ đưa vào
liên doanh những thiết bị lạc hậu so với hợp đồng đã ký. Phải chăng đây là một lý do giải thích mặc dù thường bị xếp loại là môi trường làm ăn kém hiệu qủa, dễ rủi ro và
khó khăn nhất so với các nước trong khu vực nhưng Việt Nam vẫn có số vốn FDI khá cao, đứng hàng thứ ba sau Singapore và Malaixia , tính trong thời gian 1989-1994.
Do đó ta cần phải tiếp cận vấn đề cơ bản hơn là: Tìm hiểu sự chững lại của FDI vào Việt Nam hiện nay trong sự phát triển mạnh mẽ trước đó.
Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã có những nỗ lực chủ quan trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngồi. Sự nỗ lực đó biểu hiện cụ thể qua việc hàng loạt
các chủ trương chính sách đã được cụ thể hóa thành các văn bản pháp quy như Luật đầu tư nước ngoài, Luật đầu tư nước ngồi sửa đổi, Luật khuyến khích đầu tư nước
ngoài, các nghị định hướng dẫn chi tiết việc thực hiện các bộ luật, mở rộng điều kiện thu hút đầu tư nước ngồi.
Các chính sách trên khơng chỉ là tháo gỡ rào cản về mặt chính sách đối với đầu tư trực tiếp từ bên ngoài vào mà còn bày tỏ thiện chí của Chính phủ Việt Nam đối với
- 46 -
các nhà đầu tư nước ngoài. Thiện chí này đơi khi quan trọng hơn cả những nội dung, những điều khoản cụ thể trong các văn bản ban hành. Chính vì vậy, trong một thời
gian ngắn tình hình đầu tư trực tiếp vào Việt Nam đã diễn ra khá tích cực số dự án tăng, số vốn đầu tư tăng, mức nộp thuế tăng, cơ cấu đầu tư thay đổi... Rõ ràng các
nhà đầu tư nước ngoài đã ráo riết tận dụng cơ hội mở ra nhằm thu lợi nhuận trên miền đất mới. Và đương nhiên, cơ hội đầu tư càng được khai thác nhanh và nhiều bao nhiêu
thì xu hướng bão hòa càng đến gần bấy nhiêu.
Sự chững lại của đầu tư trực tiếp nước ngồi vào thời điểm năm 1997 chính là phần biểu hiện của xu hướng bão hòa giữa đầu tư bên ngoài và điều kiện hoạt động
kinh doanh của nền kinh tế trong nước. Chúng ta có thể thấy điều này qua một số khía cạnh sau:
∗ Các lĩnh vực, các mặt hàng vốn hấp dẫn hơn cả đối với đầu tư trực tiếp nước
ngồi nay đã có khá nhiều dự án như: khách sạn, văn phòng cho thuê, sản xuất thức ăn gia súc, lắp đặt và sản xuất xe hơi, xe gắn máy, hàng điện tử, may, sản
xuất chất tẩy rửa...Định hướng phát triển của Việt Nam những năm qua chủ yếu vẫn là thay thế nhập khẩu, có rất nhiều mặt hàng được hàng rào bảo hộ che
chắn kỹ càng. Vì lẽ đó mà có khơng ít chủ đầu tư đã coi đây là thị trường tiêu thụ nội địa hơn là nơi sản xuất hàng xuất khẩu. Trong khi đó, thị trường Việt
Nam được coi là lớn về tiềm năng với khoảng 80 triệu dân nhưng sức mua lại rất thấp do thu nhập bình quân đầu người thấp, chỉ khoảng 30 tỷ USD và gần
23 thu nhập dân cư được chi tiêu cho lương thực thực phẩm, quần áo và các dịch vụ cơ bản. Việc các nhà đầu tư liên tục đổ dồn vào các lĩnh vực sản xuất
thay thế nhập khẩu trong những năm 1997-1998 đã khiến hàng loạt các mặt hàng sản xuất ra rất khó tiêu thụ như: xi măng, sắt thép, hàng may mặc, công
nghệ ô tô, xe máy, tuy khu vực này là nơi có số vốn thực hiện cao nhất nền kinh tế. Đây có thể nói là kết quả của việc các nhà đầu tư nước ngoài đánh giá khả
quan quá mức dung lượng thị trường của Việt Nam về các mặt hàng này và cho thấy dấu hiệu bão hòa. Như vậy, việc giảm vốn cam kết và đình hỗn giải ngân
là khơng thể tránh khỏi.
∗ Cơ cấu đầu tư còn thể hiện một mặt là sự manh mún, dàn trải của một số ngành
trên nhiều địa phương với mục tiêu thúc đẩy công nghiệp hóa, mặt khác lại quá tập trung nhiều ngành, lĩnh vực vào một số địa phương. Các địa bàn kinh tế được coi là
hấp dẫn đối với đầu tư trực tiếp nước ngồi thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Bình Dương, Đồng Nai... đã trở nên khá chật hẹp.
-
47
-
∗ Hình thức đầu tư quan trọng là xí nghiệp liên doanh đang bộc lộ những hạn chế
như đối tác chủ yếu phía Việt Nam là các xí nghiệp quốc doanh vốn yếu kém về khả năng quản lý, điều hành, thiếu vốn tỷ lệ góp vốn thấp, chủ yếu bằng quyền sử dụng
đất, nhà xưởng làm cho nhiều liên doanh hoạt động thiếu hiệu quả, lâm vào tình trạng thua lỗ.
∗ Tỷ lệ giữa vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài đã tăng từ 1981
năm 1991 lên 33,9 66.1 năm 1995 và tương đối ổn định ở tỷ lệ hơn 2 đồng vốn trong nước mới có một đồng vốn nước ngồi trong các năm tiếp sau. Xét về nhiều
khía cạnh, tỷ lệ này là phù hợp và nếu duy trì được trong những năm tới là điều khá lý tưởng.
∗ Tỷ lệ thoát mù chữ ở Việt Nam đạt trên mức 90 nhưng chất lượng giáo dục,
dạy nghề sau xoá mù chữ lại thấp. Do đó, hiện nay mặc dù dư thừa lao động nói chung nhưng vẫn thiếu lao động có tay nghề cao và đủ trình độ đáp ứng yêu cầu của
các nhà đầu tư nước ngoài.
Một trong những ngun nhân chính của sự bão hòa này là do cơ cấu phân bổ đầu tư không hợp lý, cộng với những đánh giá có phần lạc quan của nhiều nhà đầu tư. Bên
cạnh đó, có rất nhiều lĩnh vực có tiềm năng mà các chủ đầu tư Âu, Mỹ có thể tham gia nhưng Việt Nam lại tỏ ra kém cỏi trong việc thu hút. Tất cả những điều trên cộng với
sức cạnh tranh của Việt Nam đã không cao lại đang giảm sút so với các nước trong khu vực đang rất năng động để thốt ra ngồi khủng hoảng, có thể nói rằng thu hút
FDI vào Việt Nam sẽ không khả quan hơn trong một vài năm trước mắt.
Tuy nhiên, tính chất bão hòa ở đây khơng có nghĩa là tiềm năng thu hút FDI của Việt Nam đã hoàn toàn cạn kiệt. Trái lại sự bão hòa này gắn liền với giới hạn của trình
độ phát triển hiện tại của nền kinh tế nước ta. Nó đánh dấu một mốc quan trọng: giai đoạn thu hút FDI dựa trên trình độ sẵn có đã hết, cần chuyển sang một giai đoạn mới,
giai đoạn thu hút FDI dựa trên những bước phát triển mới của nền kinh tế. Chú trọng xây dựng nền tảng mới thu hút FDI gắn liền với trình độ phát triển mới của nền kinh
tế, có thể cụ thể hóa trên các mặt: chuyển mạnh sang chiến lược hướng về xuất khẩu, phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, phát triển
nguồn nhân lực, đổi mới khu vực kinh tế quốc doanh...Trong số những nhân tố cấu thành của môi trường đầu tư: cơ sở pháp lý, thủ tục hành chính, nguồn nhân lực, cơ sở
hạ tầng, tài nguyên thiên nhiên...thì nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng theo nghĩa rộng bao gồm cả khoa học cơng nghệ, ngân hàng, tài chính, giao thơng, liên lạc thơng tin...
giữ vai trò quan trọng vì đó chính là những nhân tố cơ bản quyết định quá trình tăng
- 48 -
trưởng dài hạn và lợi thế cạnh tranh của Việt Nam. Chính vì vậy mà khuyến khích chuyển giao công nghệ tiên tiến, tạo mọi điều kiện cho hoạt động nghiên cứu và triển
khai, hướng các ngành có vốn FDI vào xuất khẩu, phát triển cơ sở hạ tầng và đào tạo nguồn nhân lực là không thể thiếu được trong chiến lược thu hút FDI.
Như vậy cần phải thay đổi cách tiếp cận trong nỗ lực thu hút FDI của chúng ta. Cùng với việc nêu ra các tiềm năng nói chung như: lao động rẻ, vị trí địa lý thuận lợi,
tài nguyên thiên nhiên phong phú...cần xác định tiềm năng cụ thể của từng giai đoạn. Tiềm năng này chính là cơ sở đề ra các mục tiêu mang tính khả thi và cho phép hình
dung ra bức tranh về FDI trong từng thời kỳ. Cần phải chú ý nỗ lực mở rộng tiềm năng để thu hút FDI. Bên cạnh việc đổi mới thể chế, chính sách cần phải xác định
được giới hạn mà chính sách thể chế không thể vượt qua. Đồng thời trong so sánh với các nước về khả năng thu hút FDI cần chú ý đến chỉ tiêu trình độ phát triển kinh tế.
Sự ổn định chính trị – xã hội cùng với chính sách nhất quán và lâu dài của Việt Nam trong việc hội nhập với khu vực và thế gioứi và những lợi thế vốn có về tài
nguyên, con người sẽ vẫn là những thế mạnh của môi trường đầu tư Việt Nam. Các nỗ lực gần đây của Chính phủ để hệ thống chính sách ưu đãi và đảm bảo đầu tư ngày một
thông thoangs hơn so với nhiều nước trong khu vực cần phải có thời gian để kiểm chứng song chắc chắn sẽ phát huy tác dụng. Như vậy, Việt Nam vẫn sẽ là một thị
trường hấp dẫn và có nhiều cơ hội đầu tư, tất nhiên là phải với một tư duy và cách thức điều hành kinh tế đổi mới hơn.

2. Sự gia tăng hình thức đầu tư 100 vốn nước ngồi


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (89 trang)

×