1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Sự gia tăng hình thức đầu tư 100 vốn nước ngồi

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (510.92 KB, 89 trang )


trưởng dài hạn và lợi thế cạnh tranh của Việt Nam. Chính vì vậy mà khuyến khích chuyển giao cơng nghệ tiên tiến, tạo mọi điều kiện cho hoạt động nghiên cứu và triển
khai, hướng các ngành có vốn FDI vào xuất khẩu, phát triển cơ sở hạ tầng và đào tạo nguồn nhân lực là không thể thiếu được trong chiến lược thu hút FDI.
Như vậy cần phải thay đổi cách tiếp cận trong nỗ lực thu hút FDI của chúng ta. Cùng với việc nêu ra các tiềm năng nói chung như: lao động rẻ, vị trí địa lý thuận lợi,
tài nguyên thiên nhiên phong phú...cần xác định tiềm năng cụ thể của từng giai đoạn. Tiềm năng này chính là cơ sở đề ra các mục tiêu mang tính khả thi và cho phép hình
dung ra bức tranh về FDI trong từng thời kỳ. Cần phải chú ý nỗ lực mở rộng tiềm năng để thu hút FDI. Bên cạnh việc đổi mới thể chế, chính sách cần phải xác định
được giới hạn mà chính sách thể chế không thể vượt qua. Đồng thời trong so sánh với các nước về khả năng thu hút FDI cần chú ý đến chỉ tiêu trình độ phát triển kinh tế.
Sự ổn định chính trị – xã hội cùng với chính sách nhất quán và lâu dài của Việt Nam trong việc hội nhập với khu vực và thế gioứi và những lợi thế vốn có về tài
nguyên, con người sẽ vẫn là những thế mạnh của môi trường đầu tư Việt Nam. Các nỗ lực gần đây của Chính phủ để hệ thống chính sách ưu đãi và đảm bảo đầu tư ngày một
thông thoangs hơn so với nhiều nước trong khu vực cần phải có thời gian để kiểm chứng song chắc chắn sẽ phát huy tác dụng. Như vậy, Việt Nam vẫn sẽ là một thị
trường hấp dẫn và có nhiều cơ hội đầu tư, tất nhiên là phải với một tư duy và cách thức điều hành kinh tế đổi mới hơn.

2. Sự gia tăng hình thức đầu tư 100 vốn nước ngồi


Hình thức đầu tư 100 vốn nước ngồi là hình thức đầu tư mà chủ đầu tư người nước ngoài bỏ toàn bộ vốn thiết lập cơ sở sản xuất kinh doanh trên đất Việt Nam, trực
tiếp nắm quyền điều hành và quản lý các cơ sở này, chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh nhưng phải tuân thủ theo luật pháp Việt Nam. Hình thức này phù hợp với các
dự án có khả năng rủi ro cao, nhu cầu vốn lớn mà đối tác trong nước không đủ khả năng liên doanh hay hợp tác sản xuất.
Như đã chỉ ra ở các phần trên, trong giai đoạn 1988-1999, liên doanh là hình thức phổ biến nhất của đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, chiếm tới khoảng 60 số
dự án và 70 vốn đăng ký. Tuy nhiên, hiện nay trong số các dự án còn hiệu lực thì hình thức doanh nghiệp 100 vốn nước ngoài chiếm tỷ lệ lớn về số dự án với 1530
dự án tương đương 56,64 tổng số dự án còn hiệu lực, với lượng vốn đầu tư
-
49
-
10962,091 triệu USD, chiếm 30,17 tổng vốn đầu tư FDI. Nguyên nhân của sự gia tăng này đã được giải thích một phần ở mục cơ cấu FDI theo hình thức đầu tư. Ở đây
ta sẽ xem xét sâu hơn về thực chất nội dung của sự gia tăng đó và định hướng chiến lược của chúng ta đối với các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Trong thời gian gần đây hình thức liên doanh đã bộc lộ nhiều nhược điểm về việc quản lý điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh dự án. Bên cạnh đó, Nhà nước ta đã
thực sự cởi mở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực cho các dự án 100 vốn nước ngoài và đối xử cơng bằng như đối với hình thức liên doanh nên đã khuyến khích các đối tác
đầu tư vào hình thức này. Mặt khác, sau một thời gian đầu tư tại Việt Nam, nhiều nhà đầu tư đã có hiểu biết về pháp luật, chính sách, phong tục tập quán và cách thức hoạt
động kinh doanh ở Việt Nam. Do đó, các dự án mới được cấp phép thời gian gần đây chủ yếu là dự án 100 vốn nước ngoài VNN. Tuy nhiên, rất nhiều liên doanh lớn ở
Việt Nam cũng đã hoặc đang xin chuyển sang 100 VNN. Đây là một vấn đề cần được quan tâm xem xét nghiêm túc. Điển hình là PG Việt Nam liên doanh giữa
công ty PG Mỹ và công ty bột giặt Phương Đông, công ty Coca-Cola Việt Nam liên doanh giữa Coca-Cola Mỹ và công ty nước giải khát Chương Dương đang lỗ
lớn và đề nghị giải pháp chuyển sang 100 VNN. Công ty PG Việt Nam đã được phép thay đổi tỷ lệ góp vốn, phía nước ngồi từ 70 lên 93. Công ty Coca-Cola Việt
Nam đang trong thời gian xem xét song cũng đang có xu hướng thay đổi cơ cấu vốn đầu tư các bên. Công ty BGI Việt Nam sản xuất bia và nước giải khát, liên doanh giữa
công ty BGI Pháp với một công ty của Tiền Giang cũng lỗ nặng và đã chuyển sang công ty 100 VNN của BGI và nay thuộc công ty Foster của Úc. Công ty Prezioso
chuyên hoạt động trên lĩnh vực dịch vụ xây dựng của Pháp, cũng bắt đầu ở Việt Nam năm 1992 bằng liên doanh với một cơng ty Việt Nam. Sau đó, năm 1995 cơng ty đã
xin và được phép chuyển sang 100 VNN. Mới đây, công ty AB là liên doanh của công ty Đài Loan và công ty Việt Nam thông báo lỗ gần 6 triệu USD, cũng xin chuyển
thành 100 VNN. Như vậy, đã xuất hiện xu hướng các liên doanh đang hoạt động chuyển sang hình thức 100 VNN.
Trong vòng 3 năm trở lại đây, có hiện tượng các liên doanh có vốn FDI liên tục khai lỗ, trong khi liên doanh lại là hình thức đầu tư nước ngồi chủ yếu ở nước ta. Chỉ
riêng TP Hồ Chí Minh, địa phương có vốn FDI cao nhất nước, tỷ lệ này lên đến 70- 80. Số liệu dưới đây cho thấy rõ nét tình trạng hoạt động của các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngồi trong thời gian qua:
Tình trạng hoạt động của các cơng ty có vốn nước ngồi
- 50 -
Số DN \\ Năm 1996
1997 1998
Lãi 200
284 279
Lỗ 481
576 702
Nguồn : Thời báo kinh tế Việt Nam, Số 100, 15121999
Khơng ít ý kiến cho rằng các cơng ty nước ngồi đã lợi dụng thậm chí lừa gạt bên Việt Nam, để từ chỗ liên doanh, làm cho lỗ nặng rồi lại xin chuyển sang 100 VNN.
Công ty Việt Nam mất cả chì cả chài. Họ giúp phía nước ngồi lo các thủ tục pháp lý để liên doanh, lập văn phòng, xin phép khuyến mãi, giúp làm quen với thị trường Việt
Nam. Khi liên doanh rồi không được quyền điều hành, lúc lỗ khơng có vốn góp thêm, đành bán hết phần hùn vốn và cuối cùng là bị xố sổ doanh nghiệp, cả uy tín và có thể
cả vốn. Phía nước ngồi cậy thế góp nhiều vốn đã thao túng hoạt động của liên doanh, chi phí khơng theo kế hoạch của Hội đồng quản trị, kế hoạch đã được nhà nước duyệt
trước khi cấp giấy phép. Họ lợi dụng chiêu bài lỗ do các chính sách tiếp thị, quảng cáo, chi tiền lương cho người nước ngoài với các chi phí rất lớn để gạt bỏ dần sự có
mặt của các đối tác Việt Nam. Nổi bật như liên doanh Coca-Cola Chương Dương, chi phí quảng cáo, khuyến mại, phân phối sản phẩm, quản lý hành chính chiếm tới
41,77 doanh thu. Tiền chi cho quảng cáo là của liên doanh nhưng sản phẩm quảng cáo lại là sản phẩm của công ty mẹ. Nguyên liệu nhập khẩu của liên doanh hầu như
mua theo địa chỉ đã định của phía nước ngồi nên khơng thể tin vào chi phí đầu vào, có thể liên doanh lỗ mà công ty mẹ của đối tác lại lời. Nên khi chuyển sang 100
VNN đương nhiên họ thu được vốn vơ hình là sản phẩm đã được người Việt Nam biết tới nghĩa là họ chiếm được một phần thị trường Việt Nam bằng chi phí quảng cáo
khuyến mại, tổ chức thị trường của liên doanh. Chưa kể họ đã tích lũy được kinh nghiệm kinh doanh ở Việt Nam và lại loại được hẳn một doanh nghiệp Việt Nam, với
những thương hiệu đã từng có một phần thị trường ra khỏi cuộc cạnh tranh. Hiện tượng bán phá giá sản phẩm để loại bỏ đối tác cạnh tranh, gạt bỏ đối tác liên doanh
cũng khá phổ biến mà điển hình là liên doanh Coca-Cola. Một thời gian dài, giá một két Coca-Cola chỉ là 26.000 đồng, thậm chí trong thời kỳ cạnh tranh gay gắt với Pepsi
giá còn hạ xuống 17.000 đồngkét nhưng hiện nay khi đã chiếm được thị phần đáng kể trên thị trường Việt Nam và liên doanh đã trở thành công ty 100 VNN thì mức giá
này nhanh chóng được điều chỉnh lên 46.000 đồng két. Như vậy các nhà đầu tư nước ngoài đã bắn một mũi tên trúng hai đích.
Tất nhiên, cũng không thể không thừa nhận rằng, nhiều liên doanh thực sự bị lỗ do nhiều nguyên nhân khách quan như nạn hàng nhái, hàng lậu, chính sách khơng phù
-
51
-
hợp của Chính phủ, yếu kém của các bên liên doanh, sai sót trong q trình lập luận chứng kinh tế-kỹ thuật của dự án...Phẩm chất đạo đức, trình độ của các cán bộ Việt
Nam trong liên doanh cũng là một nguyên nhân gây ra thực trạng trên ở các liên doanh. Nhiều cán bộ Việt Nam thiếu kiến thức chuyên môn, không nắm vững pháp
luật cũng như thương trường kinh doanh, lại chỉ lo vun vén cho lợi ích cá nhân, im lặng để mặc phía đối tác thao túng vận hành liên doanh.
Nhiều nhà đầu tư nước ngồi đã khơng phủ nhận ý định loại bỏ các đối tác Việt Nam từ trước. Theo một số chuyên gia ngành hóa mỹ phẩm cho biết, phía nước ngồi
thừa biết vốn đầu tư cho một doanh nghiệp ngành này để đủ sức cạnh tranh trên thị trường không thể là 10 hay 40 triệu USD như một số liên doanh ở Việt Nam đang lỗ
và đang xin chuyển sang 100 VNN, mà vốn thực sự cần gấp 2, 3 hoặc 5 lần như vậy. Song khi làm luận chứng ban đầu nếu đưa ra số vốn đó thì phía Việt Nam sẽ khơng đủ
tiềm lực để góp 30 vốn, nên họ đành “gửi từng chân một”. Tuy nhiên, cũng cần nói thêm, thời gian đó chúng ta chưa cho phép các DN nước ngoài đầu tư 100 VNN
kinh doanh ngành bia, nước ngọt, mỹ phẩm, dược phẩm..
Để có thể tham gia vào hoạt động liên doanh một cách có hiệu quả thì việc tìm hiểu mục tiêu mà các nhà đầu tư nước ngồi tìm kiếm ở đối tác Việt Nam là rất cần
thiết. Dưới đây là kết quả điều tra về động cơ mà các hãng tìm kiếm ở đối tác Việt Nam đối với 35 công ty Australian đang hoạt động ở Việt Nam, trong đó thang điểm
được sử dụng là từ 1 đến 5:
Nguyên nhân tìm kiếm đối tác Việt Nam Điểm
Vị trí chiến lược của đối tác 4. 2 Hiểu biết về thị trường nội địa 4.0
Hiểu biết về văn hóa, chính trị, xã hội 3.9 Đòi hỏi của Chính phủ Việt Nam 3.8
Tham gia vào hệ thống tiếp thị, phân phối 3.3 Mối quan hệ trước đó 3.1
Nguồn: Maitland, E., “Foreign Investors in Vietnam: An Australian Case Study”
Một nguyên nhân đặc biệt quan trọng nữa của các hiện tượng trên là sự chưa hoàn thiện của hành lang pháp lý, sự “vắng bóng” của một hệ thống văn bản hồn chỉnh để
quản lý các doanh nghiệp liên doanh nói riêng và các doanh nghiệp FDI nói chung. Đây cũng chính là “lỗ hổng” mà các nhà đầu tư nước ngoài tha hồ vũng vẫy, thao túng
doanh nghiệp.
- 52 -
Như vậy, phải thấy rằng sự gia tăng hình thức đầu tư 100 VNN cũng như việc chuyển các liên doanh sang 100 VNN đang trở thành một xu thế. Các nhà hoạch
định chính sách đầu tư, các doanh nghiệp Việt Nam đang tìm đối tác liên doanh, các đối tác Việt Nam đang trong liên doanh cần phải suy nghĩ và rút ra những kinh nghiệm
cho riêng mình.
Nên chăng nhà nước có thể khuyến khích hơn nữa hình thức đầu tư 100 VNN. Hình thức này có ưu điểm là các nhà đầu tư tự chịu trách nhiệm trực tiếp về hiệu quả
sản xuất kinh doanh của mình, giá trị vốn cố định được xác định đúng với giá trị thực của nó. Tuy nhiên, ta khó có thể học tập được kinh nghiệm quản lý kinh doanh và tiếp
thu cơng nghệ hiện đại của đối tác nước ngồi, đồng thời cũng khó mà kiểm sốt được đúng thực chất hoạt động của nó.
Đồng thời, tạo mọi điều kiện hỗ trợ các doanh nghiệp liên doanh khắc phục khó khăn, duy trì hoạt động như thay đổi mục tiêu hoạt động, điều chỉnh thuế suất, áp
dụng các biện pháp hỗ trợ sản xuất hợp lý...Đối với các doanh nghiệp liên doanh khơng nằm trong danh mục đầu tư có điều kiện, được phép chuyển sang hình thức
100 vốn nước ngồi thay vì giải thể hoặc tuyên bố phá sản. Tuy nhiên, cần lưu ý đàm phán chuyển đổi hình thức đầu tư để bảo vệ lợi ích tổng thể của phía Việt Nam.
Hình thức liên doanh có những lợi ích mà các hình thức đầu tư khác khơng thể có được nhưng chỉ nên tham gia vào những liên doanh mà bên Việt Nam có đủ năng lực
về quản lý và tài chính để hoạt động có hiệu quả, đảm bảo được vị thế trong liên doanh. Ta phải có một nguồn nhân lực đủ mạnh để có thể góp tiếng nói có trọng lượng
trong điều hành quản lý cơng ty, trong cơng tác kiểm tra tài chính của cơng ty từ các khoản chi phí về quảng cáo, tiếp thị đến lương bổng của người lao động, kể cả cán bộ
nhân viên nước ngoài... nâng cao năng lực giám định vốn đầu tư, giám định máy móc thiết bị mà đối tác nước ngồi đưa vào Việt Nam góp vốn.
Mỗi hình thức đầu tư có những ưu nhược điểm riêng, chúng đan xen và bổ sung cho nhau. Vấn đề quan trọng là các nhà quản lý phải xem xét từng lĩnh vực, từng điều
kiện cụ thể, có các quyết định phù hợp đối với từng đối tác đầu tư của cả bên nước ngoài lẫn bên Việt Nam để đảm bảo hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngồi tại Việt
Nam thực sự góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước.
3. vấn đề góp vốn giữa các bên đối tác và một số quan hệ trong liên doanh 3.1. Vấn đề góp vốn của hai bên đối tác
Theo quy định của Luật Đầu tư nước ngồi tại Việt Nam thì đối tác nước ngồi có thể góp vốn vào liên doanh bằng tiền nước ngồi, tiền Việt Nam, thiết bị máy móc nhà
-
53
-
xưởng...giá trị quyền sở hữu cơng nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình cơng nghệ, dịch vụ kỹ thuật. Đến nay, tất cả các thiết bị và các quyền sở hữu của bên nước ngoài
chuyển vào thực hiện tại Việt Nam đều được quy đổi thành tiền. Số tiền vốn thực hiện mà chúng ta thống kê được như trên là bao gồm cả vốn thực hiện của các doanh
nghiệp 100 vốn nước ngoài và cả số tiền “khai vống giá trị tài sản” của đối tác nước ngoài khi đưa thiết bị vào thực hiện dự án đầu tư. Bên nước ngồi góp vốn chủ yếu
bằng tiền mặt và trang thiết bị do đó trong giai đoạn đầu triển khai dự án, thực hiện các công việc xây dựng cơ bản phụ thuộc rất nhiều vào tiến độ góp vốn của bên nước
ngoài. Trong giai đoạn xây dựng cơ bản, đối tác nước ngoài gần như nắm quyền điều hành tồn bộ các hoạt động của liên doanh. Do trình độ cán bộ, nên ít liên doanh mà
cán bộ của đối tác Việt Nam giành được tiếng nói chi phối các hoạt động này. Đến nay, các đối tác nước ngoài đã đưa vốn vào thực hiện các dự án đầu tư tại Việt Nam là
17654 triệu USD gấp 7,6 lần số vốn của Việt Nam tham gia vào hoạt động này. Cũng theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì bên Việt Nam có thể góp vốn tham
gia liên doanh bằng tiền, giá trị quyền sử dụng đất, các nguồn tài nguyên, giá trị mặt nước, mặt biển, thiết bị máy móc, nhà xưởng, giá trị quyền sở hữu cơng nghiệp, bí
quyết kỹ thuật, quy trình cơng nghệ, các dịch vụ. Thực tế lâu nay, Việt Nam góp vốn tham gia liên doanh chủ yếu bằng giá trị quyền sử dụng đất và giá trị thiết bị nhà
xưởng hiện có. Tất cả những thứ này thường được chuyển một lần ngay vào thời điểm bắt đầu triển khai thực hiện dự án đầu tư, do đó nếu theo giấy phép đăng ký thì bên
Việt Nam góp 21,9, bên nước ngồi góp 78,1 nhưng trên thực tế việc góp vốn thực hiện trong liên doanh thời kỳ 1988-1997 bên Việt Nam đã góp tới 31,3. Số vốn góp
của bên Việt Nam ở thời điểm này gồm 74 bằng giá trị quyền sử dụng đất, 15 bằng giá trị nhà xưởng thiết bị, 11 là bằng tiền mặt, nguyên vật liệu và các dịch vụ.
Bên nước ngồi góp 76,6 bằng tiền mặt, 154,4 bằng giá trị thiết bị, máy móc, phần còn lại là bằng các dịch vụ tư vấn công nghệ.
Xét tổng thể hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngồi trên lãnh thổ Việt Nam thì tỷ trọng vốn nước ngoài đang chiếm phần lớn 85 trong tổng số vốn hoạt động và tỷ
trọng vốn nước ngoài đang có xu hướng tăng lên trong khi tỷ trọng vốn của Việt Nam đã thấp lại đang có xu hướng giảm. Sự giảm sút này có thể được giải thích bởi đặc
điểm góp vốn của bên Việt Nam như đã đề cập ở trên, hơn nữa vốn của bên nước ngoài bao gồm cả các doanh nghiệp 100 vốn nước ngồi.. Tuy vậy, nó cũng đặt ra
vấn đề cần nghiên cứu về khả năng chi phối và lợi ích mà bên Việt Nam có thể thu được qua hoạt động kinh tế đặc biệt này. Qua thực tế hoạt động, cho đến nay, đã có 76
- 54 -
dự án liên doanh đã thực hiện chuyển quyền sở hữu vốn giữa các bên, hay giữa bên đang tham gia liên doanh cho chủ mới. Trong số đó 59 dự án đã chuyển từ liên doanh
sang 100 vốn nước ngoài riêng năm 1999 có 25 dự án và 13 dự án chuyển từ liên doanh sang 100 vốn Việt Nam. Số lượng liên doanh chuyển cho chủ nước ngoài gấp
4,5 lần số lượng chuyển thành chủ Việt Nam, chứng tỏ vị thế của các doanh nghiệp Việt Nam trong liên doanh đang giảm đi một cách đáng kể. Đây cũng là tín hiệu báo
động cho chúng ta về khả năng phát triển bền vững của hoạt động và mục đích sử dụng đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài.

3.2. Một số quan hệ trong liên doanh


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (89 trang)

×