1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Một số mặt trái của FDI tại Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (510.92 KB, 89 trang )


Trong liên doanh do bên Việt Nam chưa có khả năng để tạo ra những mẫu mã hàng hóa phù hợp với thị hiếu của khách hàng quốc tế và thiếu điều kiện để tiếp cận
với một số thị trường nước ngoài nên việc tiêu thụ sản phẩm gần như khốn trắng cho bên nước ngồi. Đây là cơ hội cho một số đối tác nước ngoài thực hiện hạch toán giá
bán sản phẩm thấp hơn thực tế để thu chênh lệch, gây thiệt hại cho bên Việt Nam.
Một số doanh nghiệp tồn tại trên danh nghĩa là liên doanh nhưng thực chất là bên Việt Nam hoạt động gia cơng cho bên nước ngồi nên chỉ được hưởng một số lợi ích
rất thấp. Trong một số liên doanh, bên nước ngoài đã cản trở việc xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp sang một số thị trường vốn là bạn hàng truyền thống của Việt Nam,
nếu ở đó đã có liên doanh sản xuất sản phẩm cùng loại của họ. Ví dụ, trước đây Trung Quốc là thị trường tương đối lý tưởng của bột giặt Viso, Nga là thị trường của xà
phòng thơm General thì khi tham gia liên doanh, các chủ đầu tư nước ngồi đã khơng cho thực hiện tiếp việc xuất khẩu vì ở hai nước đó đã có dự án đầu tư cùng loại tương
ứng của họ.

4. Một số mặt trái của FDI tại Việt Nam


Sau hơn 10 năm thu hút FDI, chúng ta đã thu được những kết quả đáng khích lệ, góp phần thiết thực vào công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam. Tuy nhiên, cũng như ở
tất cả các nước có đầu tư trực tiếp nước ngồi, FDI ở nước ta còn nhiều mặt trái và đang đặt ra nhiều vấn đề cần suy nghĩ.
Vấn đề lớn nhất mà FDI gây ra trong những năm qua là khơng ít những công
nghệ và thiết bị lạc hậu đã bị thải loại đã được nhập vào Việt Nam với giá đắt hơn giá thị trường từ 15-20. Một cuộc khảo sát của ngành cơng nghiệp nhẹ ở 42 xí nghiệp
có vốn nước ngoài năm 1993 cho biết: 76 số máy mới nhập thuộc thế hệ những năm 1950-1960, 70 số máy nhập đã hết khấu hao, 50 là đồ cũ tân trang lại. Riêng việc
định giá cao hơn giá thực tế từ 15-20 của các cơng nghệ do nước ngồi đưa vào dưới hình thức liên doanh đã gây thiệt hại cho ta khoảng 50 triệu USD. Điều tra của
Tổng Liên đồn lao động Việt Nam cơng bố năm 1995 cho biết hệ thống CO
2
ở liên doanh bia BGI do Pháp chế tạo năm 1979, đã lắp ở Camơrun năm 1980. Việc chuyển
giao công nghệ lạc hậu, thiếu đồng bộ đang báo động nguy cơ nước ta trở thành bãi rác thải công nghệ của các nước phát triển, gây ra ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng
đến sức khoẻ của người lao động và có nguy cơ gia tăng mức độ lạc hậu. Chẳng hạn như: việc nhập cơng nghệ cũ của ngành phân bón đã làm cho nồng độ hóa chất gây
hơi, các loại khí độc gấp nhiều lần cho phép, làm ô nhiễm môi trường xung quanh.
-
57
-
Hoặc cơng nghệ tạo bọt PVC từ hóa chất Alkysbenen là chất dễ gây ung thư cũng đã được nhập vào nước ta.
Ngun nhân chính của tình hình trên là do Việt Nam thiếu thông tin về các loại công nghệ nhập, trình độ kỹ thuật còn thấp, trình độ quản lý và kiểm sốt còn yếu.
Quan trọng hơn là các chính sách về chuyển giao cơng nghệ, bảo vệ mơi trường, phát triển nguồn nhân lực.. còn nhiều vấn đề cần hồn thiện.
Hai là, có khơng ít nhà đầu tư đã lợi dụng quan hệ hợp tác đầu tư hay sự sơ hở
trong chính sách và kiểm tra, kiểm sốt để bn lậu, trốn thuế, gây thiệt hại khơng nhỏ cho nước ta. Chẳng hạn như vụ buôn lậu 1,2 triệu gói “Caraven A” của cơng ty trách
nhiệm hữu hạn hàng hải Lizenna năm 1993. Hoặc như vụ nhà máy thuốc lá LOTABA và nhà máy thuốc lá Khánh Hòa hợp tác sản xuất Marlboro giả để xuất khẩu sang Hà
Lan...Các hiện tượng này có ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh kinh tế nước ta. Bên cạnh đó là sự chèn ép bên Việt Nam trong các liên doanh, khai báo lỗ giả để bên Việt
Nam gánh chịu còn họ hưởng lợi về thuế và giá cơng nghệ, nguyên liệu nhập khẩu. Liên doanh Liver-Viso, liên doanh Coca-Cola Ngọc Hồi, bia BGI Đà Nẵng đã từng
chịu hậu quả này. Sự lũng đoạn về cổ phần và kỹ thuật của phía đối tác nước ngồi trong các doanh nghiệp FDI còn có thể tạo nên mối đe doạ đối với an tồn và nâng cấp
một số ngành còn non yếu trong nước. Đặc biệt, khi nước ngồi kiểm sốt những ngành, những địa bàn trọng yếu, những kỹ thuật quan trọng.. có thể ảnh hưởng xấu
đến chủ quyền quốc gia.
Ba là, mục đích của các nhà đầu tư là nhằm thu lợi nhuận càng cao càng tốt. Vì
vậy, họ ln tìm cách khai thác lợi thế tương đối của nước chủ nhà. Một lợi thế lớn nhất của Việt Nam là giá nhân cơng rẻ. Vì vậy các nhà đầu tư đã khai thác triệt để lợi
thế này gây nhiều thiệt thòi cho người lao động. Chẳng hạn như, ở một số xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các nhà đầu tư đã tăng cường độ lao động, cắt xén điều
kiện lao động, thậm chí xúc phạm nhân phẩm của họ, mua chuộc hoặc phản ứng với các cán bộ cơng đồn. Vì vậy đã có nhiều cuộc tranh chấp lao động xảy ra ở các xí
nghiệp này 14 trong số hơn 700 xí nghiệp đang hoạt động, số liệu năm 98. Nếu tính từ 1990 đến nay đã xảy ra gần 200 vụ đình cơng ở các doanh nghiệp. Nhiều vụ tranh
chấp đã phải đưa ra Hội đồng trọng tài lao động xét xử, làm thiệt hại khơng nhỏ và ảnh hưởng đến uy tín cho cả hai phía như vụ tranh chấp lao động ở công ty chế tạo
biến thế ABB Hà Nội gần đây.
Chúng ta vẫn khẳng định FDI là một tất yếu kinh tế trong điều kiện quốc tế hóa sản xuất và lưu thông, một yếu tố cần thiết cho quá trình phát triển kinh tế của mỗi
- 58 -
quốc gia và được coi là nguồn lực quốc tế cần khai thác để từng bước hòa nhập vào cộng đồng quốc tế, góp phần giải quyết các vấn đề về công nghệ và vốn, một cách
thông minh để bước nhanh trên con đường CNH và HĐH đất nước. Tuy nhiên, cũng cần phải nhìn nhận từ mặt trái của vấn đề FDI để góp phần tìm ra đối sách hạn chế và
đẩy lùi tiêu cực trong thu hút FDI và làm lành mạnh hơn nữa quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế của Việt Nam.

5. Đầu tư trực tiếp nước ngoài của ASEAN ở Việt Nam


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (89 trang)

×