1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Một số quan hệ trong liên doanh Các yếu tố xác định FDI của ASEAN tại Việt Nam Yếu tố xác định quy mô đầu tư

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (510.92 KB, 89 trang )


dự án liên doanh đã thực hiện chuyển quyền sở hữu vốn giữa các bên, hay giữa bên đang tham gia liên doanh cho chủ mới. Trong số đó 59 dự án đã chuyển từ liên doanh
sang 100 vốn nước ngồi riêng năm 1999 có 25 dự án và 13 dự án chuyển từ liên doanh sang 100 vốn Việt Nam. Số lượng liên doanh chuyển cho chủ nước ngoài gấp
4,5 lần số lượng chuyển thành chủ Việt Nam, chứng tỏ vị thế của các doanh nghiệp Việt Nam trong liên doanh đang giảm đi một cách đáng kể. Đây cũng là tín hiệu báo
động cho chúng ta về khả năng phát triển bền vững của hoạt động và mục đích sử dụng đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài.

3.2. Một số quan hệ trong liên doanh


a. Quan hệ giữa phương thức góp vốn và lợi ích của các bên đối tác đầu tư


Về phương thức và thực trạng góp vốn là việc góp vốn của bên Việt Nam thường được thực hiện một lần ngay khi dự án bắt đầu triển khai xây dựng cơ bản, trong khi
việc góp vốn của bên nước ngồi thường thực hiện rải ra trong một thời gian dài. Như vậy có những thời kỳ tỷ lệ góp vốn thực tế của bên Việt Nam cao hơn hẳn bên nước
ngoài, nhưng theo quy định thì lợi ích mà hai bên được hưởng cũng như vị thế trong điều hành hoạt động của liên doanh lại tỷ lệ thuận với phần vốn pháp định đã ghi
trong giấy phép đầu tư. Điều này một mặt gây thua thiệt cho bên Việt Nam cả về kinh tế lẫn quyền điều hành liên doanh mặt khác, làm mất đi yếu tố kinh tế để ràng buộc và
thúc đẩy bên nước ngồi thực hiện việc góp vốn đầy đủ và đúng tiến độ. Việc góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, trong hoàn cảnh thiếu vốn và các nguồn lực khác, là
cách tạo thêm điều kiện kinh tế để chúng ta tham gia liên doanh, nhưng có nhược điểm là khi cần khuyến khích đầu tư chúng ta tiến hành giảm giá tiền thuê đất, điều
này cũng đồng nghĩa với việc chúng ta chấp nhận sự giảm xuống về quy mơ góp vốn của mình trong một liên doanh nhất định nào đó và việc này đã tồn tại ở một số cơ
quan, doanh nghiệp. Khi có được một diện tích đất đai nào đó, họ sẵn sàng tìm kiếm, mời chào, kêu gọi đầu tư nước ngoài bất chấp những dự án mà họ đàm phán liên
doanh có liên hệ gì đến chun mơn, hiểu biết, kinh nghiệm của cơ quan doanh nghiệp mình hay khơng. Còn có những trường hợp, vì tính tốn lợi ích cục bộ nên đã cạnh
tranh gay gắt cả với những doanh nghiệp Việt Nam có chun mơn phù hợp hơn với ngành nghề của đối tác nước ngoài liên doanh chắc chắn có hiệu quả hơn để miễn
sao họ trở thành bên Việt Nam trong liên doanh. Kết cục, hoạt động của liên doanh đó rất kém hiệu quả và có thể làm tổn hại đến lợi ích chung của đất nước; hơn nữa số cán
bộ bên Việt Nam ở dạng này do khơng có chun mơn và am hiểu, khơng có khả năng
-
55
-
điều hành liên doanh, đã trở thành những bên đối tác lệ thuộc và làm th cho chủ đầu tư nước ngồi.
Việc góp vốn bằng thiết bị, máy móc, nhà xưởng, giá trị quyền sở hữu cơng nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình cơng nghệ...chủ yếu là của bên nước ngoài. Do
thiếu chặt chẽ trong quản lý, yếu trong khả năng kiểm tra kiểm sốt nên vẫn tồn tại tình trạng bên nước ngồi đưa vào thực hiện dự án đầu tư những thiết bị kém chất
lượng hơn dự kiến, khơng những thế còn khai tăng giá so với giá trị thực của thiết bị, hoặc một số công nghệ đã thuộc loại phổ biến nhưng bên Việt Nam vẫn bị ép buộc
phải chấp nhận và chịu lệ phí chuyển giao cơng nghệ. Trong trường hợp này ta thấy sự thua thiệt hay thu lợi vận động theo cấp số nhân. Nếu việc tăng giá hay chịu lệ phí
chuyển giao cơng nghệ thực hiện trong việc mua bán thiết bị cơng nghệ thì mức độ có lợi thiệt hại chỉ diễn ra một lần qua trao đổi, nhưng khi nó được đưa vào góp vốn
trong liên doanh và nếu liên doanh hoạt động có lãi thì việc bên nước ngồi thu lợi còn bên Việt Nam chịu thiệt sẽ diễn ra trong cả quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh của dự án và bên nước ngồi lợi bao nhiêu thì bên Việt Nam thiệt bấy nhiêu. b. Mối quan hệ giữa thực lực với vị trí và một số tranh chấp trong liên doanh
Hầu hết cán bộ của bên Việt Nam trong các liên doanh đều là những người xuất thân hoặc từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc từ các doanh nghiệp Nhà nước ít năng
động và nhiều yếu kém hay nói cách khác đó là những cơ sở ít vốn, kỹ thuật cơng nghệ lạc hậu, chưa thích nghi được với cơ chế thị trường. Một bộ phận lớn còn thiếu
kiến thức trong giao dịch, thương lượng hợp đồng, tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh cũng như kiểm soát hoạt động của liên doanh. Sự chênh lệch về trình độ và
kinh nghiệm đã dẫn đến tình trạng bên Việt Nam mất quyền chi phối và lệ thuộc vào cách điều hành liên doanh của bên nước ngoài hoặc làm nảy sinh những mâu thuẫn,
tranh chấp khó giải quyết. Khi những đại diện của Việt Nam chưa khẳng định được vị trí của mình thì họ cũng dễ mất khả năng đứng ra bảo vệ các quyền lợi chính đáng của
cơng nhân Việt Nam. Trong khi đó với mục đích thu lợi nhuận cao nên một số nhà đầu tư nước ngồi đã cố tình khơng thực hiện một số chế độ theo quy định như kéo dài
thời gian lao động, trả lương thấp hơn mức tối thiểu, không thực hiện các chế độ bảo hiểm...không những thế họ còn có biểu hiện đối xử khơng tốt với người lao động Việt
Nam. Về phía Việt Nam còn có nhiều người thiếu am hiểu về pháp luật, nhất là luật lao động nên có những đòi hỏi khơng phù hợp với lợi ích hợp pháp của mình. Những
điều nêu trên là cơ sở chủ yếu của mâu thuẫn giữa giới chủ với người lao động dẫn đến việc tranh chấp căng thẳng trong một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- 56 -
Trong liên doanh do bên Việt Nam chưa có khả năng để tạo ra những mẫu mã hàng hóa phù hợp với thị hiếu của khách hàng quốc tế và thiếu điều kiện để tiếp cận
với một số thị trường nước ngoài nên việc tiêu thụ sản phẩm gần như khốn trắng cho bên nước ngồi. Đây là cơ hội cho một số đối tác nước ngồi thực hiện hạch tốn giá
bán sản phẩm thấp hơn thực tế để thu chênh lệch, gây thiệt hại cho bên Việt Nam.
Một số doanh nghiệp tồn tại trên danh nghĩa là liên doanh nhưng thực chất là bên Việt Nam hoạt động gia cơng cho bên nước ngồi nên chỉ được hưởng một số lợi ích
rất thấp. Trong một số liên doanh, bên nước ngoài đã cản trở việc xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp sang một số thị trường vốn là bạn hàng truyền thống của Việt Nam,
nếu ở đó đã có liên doanh sản xuất sản phẩm cùng loại của họ. Ví dụ, trước đây Trung Quốc là thị trường tương đối lý tưởng của bột giặt Viso, Nga là thị trường của xà
phòng thơm General thì khi tham gia liên doanh, các chủ đầu tư nước ngồi đã khơng cho thực hiện tiếp việc xuất khẩu vì ở hai nước đó đã có dự án đầu tư cùng loại tương
ứng của họ.

4. Một số mặt trái của FDI tại Việt Nam


Sau hơn 10 năm thu hút FDI, chúng ta đã thu được những kết quả đáng khích lệ, góp phần thiết thực vào cơng cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam. Tuy nhiên, cũng như ở
tất cả các nước có đầu tư trực tiếp nước ngồi, FDI ở nước ta còn nhiều mặt trái và đang đặt ra nhiều vấn đề cần suy nghĩ.
Vấn đề lớn nhất mà FDI gây ra trong những năm qua là khơng ít những cơng
nghệ và thiết bị lạc hậu đã bị thải loại đã được nhập vào Việt Nam với giá đắt hơn giá thị trường từ 15-20. Một cuộc khảo sát của ngành công nghiệp nhẹ ở 42 xí nghiệp
có vốn nước ngồi năm 1993 cho biết: 76 số máy mới nhập thuộc thế hệ những năm 1950-1960, 70 số máy nhập đã hết khấu hao, 50 là đồ cũ tân trang lại. Riêng việc
định giá cao hơn giá thực tế từ 15-20 của các công nghệ do nước ngồi đưa vào dưới hình thức liên doanh đã gây thiệt hại cho ta khoảng 50 triệu USD. Điều tra của
Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam công bố năm 1995 cho biết hệ thống CO
2
ở liên doanh bia BGI do Pháp chế tạo năm 1979, đã lắp ở Camơrun năm 1980. Việc chuyển
giao công nghệ lạc hậu, thiếu đồng bộ đang báo động nguy cơ nước ta trở thành bãi rác thải công nghệ của các nước phát triển, gây ra ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng
đến sức khoẻ của người lao động và có nguy cơ gia tăng mức độ lạc hậu. Chẳng hạn như: việc nhập công nghệ cũ của ngành phân bón đã làm cho nồng độ hóa chất gây
hơi, các loại khí độc gấp nhiều lần cho phép, làm ơ nhiễm môi trường xung quanh.
-
57
-
Hoặc công nghệ tạo bọt PVC từ hóa chất Alkysbenen là chất dễ gây ung thư cũng đã được nhập vào nước ta.
Nguyên nhân chính của tình hình trên là do Việt Nam thiếu thơng tin về các loại cơng nghệ nhập, trình độ kỹ thuật còn thấp, trình độ quản lý và kiểm sốt còn yếu.
Quan trọng hơn là các chính sách về chuyển giao công nghệ, bảo vệ môi trường, phát triển nguồn nhân lực.. còn nhiều vấn đề cần hồn thiện.
Hai là, có khơng ít nhà đầu tư đã lợi dụng quan hệ hợp tác đầu tư hay sự sơ hở
trong chính sách và kiểm tra, kiểm sốt để bn lậu, trốn thuế, gây thiệt hại không nhỏ cho nước ta. Chẳng hạn như vụ bn lậu 1,2 triệu gói “Caraven A” của công ty trách
nhiệm hữu hạn hàng hải Lizenna năm 1993. Hoặc như vụ nhà máy thuốc lá LOTABA và nhà máy thuốc lá Khánh Hòa hợp tác sản xuất Marlboro giả để xuất khẩu sang Hà
Lan...Các hiện tượng này có ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh kinh tế nước ta. Bên cạnh đó là sự chèn ép bên Việt Nam trong các liên doanh, khai báo lỗ giả để bên Việt
Nam gánh chịu còn họ hưởng lợi về thuế và giá công nghệ, nguyên liệu nhập khẩu. Liên doanh Liver-Viso, liên doanh Coca-Cola Ngọc Hồi, bia BGI Đà Nẵng đã từng
chịu hậu quả này. Sự lũng đoạn về cổ phần và kỹ thuật của phía đối tác nước ngồi trong các doanh nghiệp FDI còn có thể tạo nên mối đe doạ đối với an toàn và nâng cấp
một số ngành còn non yếu trong nước. Đặc biệt, khi nước ngồi kiểm sốt những ngành, những địa bàn trọng yếu, những kỹ thuật quan trọng.. có thể ảnh hưởng xấu
đến chủ quyền quốc gia.
Ba là, mục đích của các nhà đầu tư là nhằm thu lợi nhuận càng cao càng tốt. Vì
vậy, họ ln tìm cách khai thác lợi thế tương đối của nước chủ nhà. Một lợi thế lớn nhất của Việt Nam là giá nhân công rẻ. Vì vậy các nhà đầu tư đã khai thác triệt để lợi
thế này gây nhiều thiệt thòi cho người lao động. Chẳng hạn như, ở một số xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các nhà đầu tư đã tăng cường độ lao động, cắt xén điều
kiện lao động, thậm chí xúc phạm nhân phẩm của họ, mua chuộc hoặc phản ứng với các cán bộ cơng đồn. Vì vậy đã có nhiều cuộc tranh chấp lao động xảy ra ở các xí
nghiệp này 14 trong số hơn 700 xí nghiệp đang hoạt động, số liệu năm 98. Nếu tính từ 1990 đến nay đã xảy ra gần 200 vụ đình cơng ở các doanh nghiệp. Nhiều vụ tranh
chấp đã phải đưa ra Hội đồng trọng tài lao động xét xử, làm thiệt hại không nhỏ và ảnh hưởng đến uy tín cho cả hai phía như vụ tranh chấp lao động ở công ty chế tạo
biến thế ABB Hà Nội gần đây.
Chúng ta vẫn khẳng định FDI là một tất yếu kinh tế trong điều kiện quốc tế hóa sản xuất và lưu thơng, một yếu tố cần thiết cho quá trình phát triển kinh tế của mỗi
- 58 -
quốc gia và được coi là nguồn lực quốc tế cần khai thác để từng bước hòa nhập vào cộng đồng quốc tế, góp phần giải quyết các vấn đề về công nghệ và vốn, một cách
thông minh để bước nhanh trên con đường CNH và HĐH đất nước. Tuy nhiên, cũng cần phải nhìn nhận từ mặt trái của vấn đề FDI để góp phần tìm ra đối sách hạn chế và
đẩy lùi tiêu cực trong thu hút FDI và làm lành mạnh hơn nữa quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế của Việt Nam.

5. Đầu tư trực tiếp nước ngoài của ASEAN ở Việt Nam


Đầu tư trực tiếp nước ngoài của các nước ASEAN tại Việt Nam đang phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây và hiện đang đóng một vai trò nhất định đối
với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Tình hình thực hiện FDI của ASEAN tại Việt Nam đã được đề cập nhiều ở các mức độ khác nhau. Trong phần này, chúng ta
không đi sâu vào phân tích, đánh giá q trình thực hiện FDI của các nước ASEAN tại Việt Nam mà tập trung vào xem xét “yếu tố xác định FDI của ASEAN ở Việt Nam là
gì” và “FDI của ASEAN ở Việt Nam có những hạn chế gì”. Đây là những vấn đề rất quan trọng nhưng hầu như chưa được đề cập đến.

5.1. Các yếu tố xác định FDI của ASEAN tại Việt Nam


a. Yếu tố xác định quy mô đầu tư



Trình độ phát triển của nền kinh tế
Một xu hướng lớn hiện nay trên thế giới, kể cả đối với các nước ASEAN, nước nào có trình độ phát triển kinh tế càng cao thì càng có xu hướng đầu tư ra nước ngoài
nhiều hơn. Điều này cũng dễ hiểu vì nước có trình độ phát triển càng cao thì càng có động cơ đầu tư ra nước ngồi để tăng tỷ suất lợi nhuận bằng cách: mở rộng hơn nữa
thị trường tiêu thụ sản phẩm của mình; giảm giá thành sản phẩm do công lao động và các chi phí khác đang tăng nhanh; chuyển những cơng nghệ đã bắt đầu lạc hậu sang
các nước khác...Có nhiều tiêu chuẩn để xếp loại trình độ phát triển của một nền kinh tế, một trong những tiêu chí quan trọng là mức GDP trên đầu người. Thường nước
càng phát triển càng có GDP trên đầu người cao.
Trừ trường hợp ngoại lệ của Bruney do khai thác được nguồn dầu lửa khổng lồ của mình, điều này có lẽ là đúng với tất cả các nước ASEAN như Singapore,
Malaixia, Inđơnêxia, Philippin. Singapore có mức GDP đầu người cao nhất 21493 USD đồng thời cũng được coi là nước phát triển nhất khu vực. Tiếp theo là Malaixia
có mức thu nhập đầu người đứng thứ hai 8763 USD và cũng được xem là nước phát
-
59
-
triển thứ hai trong nhóm này. Tương tự như vậy đối với các nước Thái Lan, Philippin và Inđônêxia.
Điều quan trọng là xét về mức độ đầu tư vào Việt Nam thì các nước ASEAN cũng theo thứ tự xếp hạng như vậy. Điều đó cho phép nêu nhận định là một trong những
yếu tố quan trọng xác định mức độ đầu tư của các nước thuộc ASEAN vào Việt Nam là trình độ phát triển kinh tế, được đánh giá bằng mức GDP đầu người.

Mức độ dư thừa tư bản Một tiêu chí của mức độ dư thừa tư bản của một nền kinh tế là nguồn dự trữ ngoại
tệ của nước đó. Thơng thường nước nào có tích lũy nhiều và dư thừa tư bản càng cao thì có nguồn dự trữ càng lớn. Trong ASEAN, Singapore có nguồn dự trữ lớn nhất
69,4 tỷ USD, tiếp theo là Thái Lan 37,6 tỷ USD, Malaixia 25,1 tỷ USD, Inđônêxia 14,7 tỷ USD và Philippin 8,3 tỷ USD. Xét theo mức độ đầu tư vào Việt
Nam, các nước ASEAN cũng cơ bản có thứ tự xếp hạng như vậy, chỉ trừ trường hợp của Malaixia và Thái Lan có sự đổi thứ tự cho nhau. Có thể giải thích là tuy Thái Lan
có mức dự trữ cao hơn của Malaixia, song về mức độ phát triển thì còn thua khá xa Malaixia, nên nếu xét đồng thời cả hai yếu tố thì Malaixia vẫn có thế mạnh hơn Thái
Lan trong việc đầu tư ra nước ngoài. Dưới đây là các số liệu đến năm 1996 của các nước ASEAN
Nước GDP người
USD Dự trữ ngoại tệ
tỷ USD Vốn đầu tư tại VN
triệu USD
Singapore 21493
69. 4 2500
Malaixia 8763
25.1 1000
Thái Lan 6870
37.6 700
Philippin 3690
14.7 240
Inđônêxia 2800
8.3 226
Tổng 4666
Nguồn : Asiaweek, 7-6-1996 và Việt Nam Economic Times 12-1996
Phân tích trên cho phép có thêm một nhận định nữa là mức độ dư thừa tư bản có lẽ cũng là một yếu tố quan trọng nữa xác định mức độ đầu tư của các nước ASEAN
vào Việt Nam. Do thiếu số liệu về dự trữ ngoại tệ của các nước nên chúng ta không kiểm tra được nhận định này trong những năm gần đây. Tuy nhiên, nhận định về vai
trò của trình độ phát triển kinh tế trong việc đầu tư ra nước ngoài của các nước ASEAN vẫn đúng với số liệu các năm gần đây.
- 60 -

b. Yếu tố xác định lĩnh vực đầu tư


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (89 trang)

×