1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Hạn chế về vốn Hạn chế về trình độ cơng nghệ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (510.92 KB, 89 trang )


b. Yếu tố xác định lĩnh vực đầu tư


Để nghiên cứu lĩnh vực ưu tiên đầu tư, ta cần xem xét phân bố đầu tư theo ngành của từng nước ASEAN tại Việt Nam. Các dự án của Singapore tập trung nhiều nhất
vào lĩnh vực xây dựng - khách sạn - du lịch trên 50 số vốn đầu tư và các dự án lớn nhất của Singapore cũng ở lĩnh vực này. Singapore có ngành du lịch - dịch vụ rất phát
triển, song tiền công lao động tăng cao và sự khan hiếm đất đai buộc đảo quốc nhỏ bé này mở rộng đầu tư ra nước ngoài ở lĩnh vực này. Trong khi đó, các dự án lớn của cả
Malaixia và Inđơnêxia thì đều ở lĩnh vực khai thác dầu khí. Cả hai nước này đều là những nước khai thác và xuất khẩu dầu khí lớn. Còn Thái Lan tập trung đầu tư vào
lĩnh vực chế biến và khai khống, cũng là lĩnh vực mà nước này có trình độ chun mơn hóa cao.
Như vậy, có thể nêu nhận định là lĩnh vực ưu tiên đầu tư của các nước ASEAN vào Việt Nam là lĩnh vực mà từng nước có chun mơn hóa cao.

5.2. Hạn chế của các nước chủ đầu tư


Những hạn chế của Việt Nam - nước tiếp nhận đầu tư, đã được nêu nhiều trong các tài liệu của cả Việt Nam và nước ngồi. Có thể tóm tắt lại một số điểm chủ yếu là:
hệ thống pháp luật chưa hồn chỉnh và ln luôn thay đổi, cơ sở hạ tầng yếu kém, thủ tục hành chính rắc rối và nạn tham nhũng khá nặng nề, sự yếu kém về năng lực quản
lý điều hành của các cán bộ Việt Nam trong liên doanh..Song, cho đến nay, những hạn chế của các nước đầu tư còn được nêu lên rất ít và hầu như chưa được phân tích và
đánh giá một cách thoả đáng.
Trên thế giới hiện nay, đối với mỗi nước đều có hai dòng đầu tư : từ ngồi vào và từ trong ra. Xu hướng chung là các nước càng phát triển cao thì càng có xu hướng đầu
tư ra ngồi nhiều hơn. Điều đó cho thấy trong các nước tham gia thực hiện đầu tư FDI, có rất nhiều nước còn bị hạn chế về trình độ phát triển kinh tế , trình độ cơng nghệ.
Các chủ đầu tư cũng bị ràng buộc bởi nhiều yếu tố như hạn chế về vốn, trình độ phát triển kinh tế , hạn chế do sự giống nhau về lợi thế so sánh, luật pháp của nước chủ đầu
tư, quan hệ giữa nước có chủ đầu tư và nước nhận đầu tư... Đầu tư của ASEAN tại Việt Nam bị hạn chế bởi những yếu tố cơ bản sau:

a. Hạn chế về vốn


Nếu so với Việt Nam thì có thể nói các nước ASEAN có lượng dự trữ ngoại tệ khá dồi dào. Song nếu so với các nước công nghiệp phát triển chẳng hạn như Mỹ,
Nhật, các nước EC, hay thậm chí so với các nước cơng nghiệp mới-NICs, thì hầu hết các nước ASEAN chỉ trừ Singapore cũng là một NICs đều đang còn là các nước
-
61
-
đang phát triển và chưa có nhiều vốn để đầu tư ra nước ngồi. Bản thân các nước ASEAN, kể cả Singapore hiện vẫn đang là những nước nhận đầu tư lớn, chủ yếu từ
các nước công nghiệp phát triển và các nước NICs. Do vậy họ cũng đang cạnh tranh lẫn nhau và với các nước đang phát triển khác, trong đó có Việt Nam để thu hút luồng
đầu tư này.
Tất nhiên, cũng cần lưu ý là, đối với mỗi nước đều có 2 dòng đầu tư: từ ngồi vào và từ trong ra. Xu hướng chung là các nước càng phát triển cao thì càng có xu hướng
đầu tư ra ngồi nhiều hơn, trong khi các nước kém phát triển hơn thì thường nhận đầu tư vào nhiều hơn. Các nước ASEAN trừ Singapore hiện tại vẫn tiếp nhận đầu tư từ
bên ngoài nhiều hơn là phát triển đầu tư ra nước ngoài. Singapore chiếm tới gần 69 đầu tư của ASEAN vào Việt Nam, song một phần khá lớn vốn đầu tư đó là của các
cơng ty đa quốc gia có trụ sở tại Singapore đầu tư.

b. Hạn chế về trình độ công nghệ


Trừ Singapore , hiện tại các nước ASEAN khác cũng chỉ mới vừa hoàn thành giai đoạn đầu cơng nghiệp hóa, nên trình độ cơng nghệ của họ cũng tương đối hạn chế.
Bản thân họ cũng đang tìm cách thu hút công nghệ cao từ các nước phát triển thơng qua FDI vào nước họ. Do đó, các nước ASEAN khó có khả năng đầu tư ra nước ngồi
vào các lĩnh vực sản xuất có hàm lượng cơng nghệ cao, chẳng hạn công nghiệp chế tạo điện tử, hóa chất, cơ khí chính xác. Các nước ASEAN hiện nay chủ yếu đầu tư vào
các ngành khơng có hàm lượng công nghệ cao, như khách sạn, du lịch, lắp ráp, chế biến...Ngay cả Singapore là nước có trình độ phát triển cao nhất khu vực cũng chỉ đầu
tư chủ yếu vào lĩnh vực xây dựng, khách sạn, du lịch chiếm quá nửa tổng số vốn đầu tư.
Do vậy, nếu coi công nghệ cao là một yếu tố quan trọng để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và tránh được nguy cơ tụt hậu, thì đầu tư của ASEAN khơng có hiệu
quả kinh tế cao và khó có khả năng mang lại tính cạnh tranh cao cho hàng hóa. Điều mà ta mong đợi ở các dự án đầu tư của các nước ASEAN có lẽ chỉ là sự đóng góp nhất
định vào tăng trưởng kinh tế trong thời gian hiện tại và tương lai trước mắt, chứ khơng phải là sự đóng góp trực tiếp vào hiện đại hóa đất nước và sự tăng trưởng dựa trên
cơng nghệ cao.

c. Hạn chế do sự giống nhau về lợi thế so sánh


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (89 trang)

×