1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Các yếu tố xác định fdi vào Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (510.92 KB, 89 trang )


nước thứ hai, bởi nếu khơng thì sẽ có khả năng tạo ra đối thủ cạnh tranh cho chính mình trong lĩnh vực đó.
Nghiên cứu về lợi thế so sánh của các nền kinh tế của các nước ASEAN một kết luận quan trọng là: trong các nước ASEAN, chỉ trừ nền kinh tế của Singapore và ở
mức độ nhất định là nền kinh tế của Malaixia, là có tính bổ sung nhất định đối với kinh tế Việt Nam, còn các nước có trình độ phát triển thấp hơn của khối này như Thái
Lan, Inđơnêxia và Philippin hiện còn có nhiều ngành có lợi thế so sánh giống Việt Nam như sản xuất nơng nghiệp, cơng nghiệp khai khống, một số ngành cơng nghiệp
nhẹ...Một ví dụ điển hình là cả ba nước trên đều vẫn đang có lợi thế so sánh trong các ngành công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều lao động như sản xuất dụng cụ thể thao-du lịch,
may mặc, giày thể thao. Trong khi đây cũng là những ngành mà Việt Nam có lợi thế so sánh khá lớn. Do vậy, điều cũng dễ hiểu là các nước ASEAN sẽ khơng đầu tư vào
các ngành đó trong giai đoạn hiện nay. Thực tế hiện nay, các nước NICs như Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông là những nước đầu tư nhiều nhất tại Việt Nam vào những
ngành đó, là nơi họ đang mất dần lợi thế so sánh để chuyển sang các ngành công nghệ cao.
Điều này hồn tồn khơng mâu thuẫn với việc các nước đầu tư vào lĩnh vực mà nó chun mơn hóa cao như đã nhận định ở phần trên vì đây là hai mặt của một vấn
đề. Bởi vì thường một nước có trình độ chun mơn hóa cao trong một lĩnh vực nào đó song đồng thời lại đang mất dần lợi thế so sánh trong lĩnh vực đó do chi phí và giá
thành sản xuất trong nước tăng nhanh, sẽ có xu hướng đầu tư ra nước ngồi vào ngành đó. Đây cũng là một cách để nước đầu tư chuyển giao cơng nghệ tỏ ra khơng còn phù
hợp, tạo điều kiện trang bị công nghệ mới.
Kết quả xem xét đối với các nước đầu tư ASEAN đặt ra vấn đề là trong quá trình thu hút FDI, Việt Nam cần phải nắm được những điểm mạnh và cả những hạn chế từ
phía các nhà đầu tư để có chiến lược và đối sách phù hợp. Việt Nam cần thu hút không chỉ lượng vốn đầu tư lớn hơn mà còn cả chất lượng đầu tư cao hơn từ Mỹ, Nhật Bản,
các nước EC và các nước công nghiệp phát triển khác như Úc, Canada...Những nước này, chỉ trừ Nhật Bản, hiện còn đầu tư một cách khá hạn chế vào Việt Nam.

6. Các yếu tố xác định fdi vào Việt Nam


FDI là một hoạt động kinh tế mà bản chất của nó là hoạt động đầu tư ra nước ngoài trên cơ sở khai thác lợi thế so sánh trong phân cơng lao động quốc tế nhằm tìm
kiếm lợi nhuận cao ở phạm vi toàn cầu. Hoạt động FDI chỉ được tiến hành khi xuất
-
63
-
hiện các điều kiện khách quan của nó. Các điều kiện đó chung quy là giữa các nước tồn tại sự khác nhau về khả năng tích luỹ, huy động vốn; trình độ cơng nghệ và khả
năng quản lý; tiền công lao động và giá cả các hàng hoá, dịch vụ; số lượng và chất lượng các nguồn lực của sản xuất cả tài nguyên con người; chính sách thuế; uy tín,
thể chế chính trị...
Khối lượng FDI vào một nước phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố trong đó có các yếu tố chủ quan và các yếu tố khách quan. Các yếu tố chủ quan là các lợi thế về tài
nguyên thiên nhiên, nguyên nhiên vật liệu, sự phát triển của cơ sở hạ tầng, chi phí và hiệu quả lao động, quy mơ và sự phát triển của thị trường, khả năng thu lợi nhuận,
mức độ mở cửa của nền kinh tế, các chính sách đối với FDI của Chính phủ, sự ổn định mơi trường kinh tế - chính trị của nước sở tại...Các nhân tố này có thể gọi là nhân tố
“kéo” đối với FDI ở Việt Nam.
Nước ta có vị trí địa lý chiến lược trong khu vực, thuận lợi cho các hoạt động kinh tế, trao đổi, buôn bán...Nguồn tài nguyên thiên nhiên của nước ta rất phong phú
và đa dạng, bao gồm tài nguyên rừng, tài nguyên biển và khoáng sản. Trong những năm qua, nguồn thu từ xuất khẩu dầu khí đã là nguồn ngoại tệ quý báu của đất nước,
chiếm tỷ lệ lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu và có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế của nước ta. Chúng ta còn có nhiều nguồn tài ngun chưa được khai
thác và sử dụng có hiệu quả. Với dân số gần 80 triệu người, trong đó khoảng một nửa là trong độ tuổi lao động, Việt Nam có nguồn lao động tương đối dồi dào, chi phí về
lao động rất thấp so với nhiều nước. Đồng thời, đây cũng là một thị trường lớn nhiều tiềm năng phát triển với sức mua ngày càng tăng. Chính sách đối với đầu tư nước
ngồi của chúng ta ngày càng thơng thống và cởi mở nhằm tạo mọi thuận lợi cho các nhà đầu tư nước vào hoạt động ở Việt Nam. Trong những năm qua, nước ta đã đảm
bảo được một môi trường kinh tế - chính trị ổn định, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư.
Như vậy, các nhân tố “kéo” đã và đang giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thu hút FDI vào Việt Nam.
Kết quả điều tra 35 công ty Australian đang hoạt động tại Việt Nam cho thấy triển vọng tăng trưởng cao và quy mô thị trường lớn là hai yếu tố quan trọng xác định FDI
của Australian. Kết quả này cũng ủng hộ quan điểm cho rằng chi phí lao động thấp và tài nguyên thiên nhiên phong phú là các nhân tố “kéo” có hiệu quả đối với FDI ở Việt
Nam. Thang điểm được sử dụng là từ 1 đến 5, trong đó 1 là ít quan trọng và 5 là quan trọng nhất.
- 64 -
Lý do đầu tư tại Việt Nam Điểm Thiết lập sự có mặt lâu dài 4.6
Triển vọng tăng trưởng cao 4.2 Quy mô của thị trường Việt Nam 3.5
Sự vắng mặt các đối thủ cạnh tranh của Mỹ 3.1 Thiết lập cơ sở xuất khẩu sang các nước Châu Á 2.6
Đi trước các đối thủ cạnh tranh 2.4 Chi phí lao động thấp 2.3
Tìm kiếm các nguồn ngun liệu thơ 2.3 Thiết lập cơ sở xuất khẩu sang Trung Quốc 1.4
Nguồn: Maitland, E., “Foreign Investors in Vietnam: An Australian Case Study”
Các nhân tố khách quan bao gồm các yếu tố thuộc về môi trường đầu tư quốc tế như tác động của quá trình phân công lao động quốc tế, tác động của cách mạng khoa
học - kỹ thuật, xu thế nhất thể hóa nền kinh tế thế giới... và một yếu tố hết sức quan trọng, đó là năng lực và các quyết định của nhà đầu tư. Bên cạnh các ràng buộc về
năng lực tài chính, trình độ cơng nghệ, việc đầu tư vào một quốc gia, một lĩnh vực phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm, tư duy kinh tế, khả năng nhìn nhận phán đốn và
cách thức ra quyết định của các nhà đầu tư. Đây có thể xem như là các nhân tố đẩy đối với FDI vào Việt Nam. Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, nước ta có được nhiều
thuận lợi từ các nhân tố “đẩy” này. Dòng FDI đang ngày càng tăng lên một cách nhanh chóng trên toàn thế giới. Nước ta lại nằm trong khu vực kinh tế vào loại năng động
nhất thế giới, thu hút được sự đầu tư mạnh mẽ của Nhật Bản, các nước công nghiệp mới Châu Á và các nước ASEAN. Các mối quan hệ quốc tế ngày càng được mở rộng,
cấm vận của Mỹ được bãi bỏ, nước ta tham gia ngày càng nhiều hơn vào các tổ chức kinh tế thế giới và hệ thống phân công lao động quốc tế .
Các nhân tố “kéo” cũng như các nhân tố “đẩy” như phân tích ở trên hầu hết là các yếu tố khơng thể lượng hóa được do đó rất khó có thể đưa ra một phân tích định lượng
về các yếu tố xác định khối lượng FDI vào một quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng. Ta sẽ đi phân tích cụ thể hơn về các nhân tố “đẩy”.
Trong phần trên, ta đã phân tích và chỉ ra rằng, trình độ phát triển kinh tế trong đó tiêu chí quan trọng là GDP người và mức độ dư thừa tư bản có thể đại diện bằng
lượng dự trữ ngoại tệ là những yếu tố có ảnh hưởng đến việc xác định khối lượng FDI
-
65
-
của các nước ASEAN ở Việt Nam. Ta sẽ mở rộng sự xem xét cho một số nước chủ đầu tư ở các khu vực khác. Tuy nhiên, chúng ta không có được số liệu về mức dự trữ ngoại
tệ của các nước, ta sẽ thay thế bằng số liệu về tổng lượng dự trữ.
Ta thấy rằng phần lớn lượng FDI tại Việt Nam là của các nhà đầu tư Châu Á. Trong tổng số vốn đầu tư của 12 nước đầu tư lớn nhất thì có tới trên 70 là thuộc các
nước Châu Á. Điều đó chứng tỏ mơi trường đầu tư của Việt Nam hiện đang thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư Châu Á. Và trình độ, điều kiện, khả năng của các
nhà đầu tư Châu Á cũng phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển của Việt Nam trong thời gian qua. Các nhà đầu tư Châu Á còn có thuận lợi hơn các nhà đầu tư khác ở sự
gần gũi về vị trí địa lý, sự tương đồng về các điều kiện tự nhiên, bản sắc văn hóa, phong cách kinh doanh..., do đó giảm được nhiều khoản chi phí trong hoạt động đầu
tư. Như vậy, sẽ có sự khác biệt về khối lượng đầu tư vào Việt Nam giữa các nhà đầu tư Châu Á với các nhà đầu tư khác.
Để phân biệt trình độ phát triển kinh tế của các nước, ta sẽ chia các nhà đầu t thành 3 nhóm theo sự phân chia của UNCTAD năm 1997: thu nhập cao, thu nhập trung
bình, thu nhập thấp. Nước thu nhập cao là nước có GDP người trên 3500 USD, nước thu nhập trong bình là nước có GDP người trên 700 USD và dưới 3500 USD và nước
có thu nhập thấp là nước có GDP người dưới 700 USD.
Ngoài ra ta thấy lượng FDI vào Việt Nam của mỗi chủ đầu tư sẽ phụ thuộc chặt chẽ vào tổng lượng đầu tư ra bên ngoài của nước đó.
Với các số liệu có được, ta đi xem xét mơ hình sau:
LnFDIi = a1 + a2.LnODIi + a3.D1i + a4.D2i + a5.D3i + a6.LnS + ei
Trong đó : FDIi - Lượng FDI của nước đầu tư i tại Việt Nam.
ODI - Lượng đầu tư ra ngoài của nước đầu tư i D1i - Biến giả, nhận giá trị bằng 1 nếu nước đầu tư ở Châu Á
D2i - Biến giả, nhận giá trị bằng 1 nếu nước đầu tư có thu nhập trung bình.
D3i - Biến giả, nhận giá trị bằng 1 nếu nước đầu tư có thu nhập cao. Si - Tổng lượng dự trữ của nước đầu tư i.
Do có nhiều hạn chế nên các số liệu sử dụng trong mơ hình chỉ mới có đến năm 1995 và chỉ có của 27 nước. Qua hồi quy thử nghiệm ta thấy biến Si hầu như không có
tác động đến biến FDIi, điều này có thể giải thích là do lượng dự trữ ngoại tệ và tổng lượng dự trữ có vai trò hồn tồn khác nhau trong việc tác động đến khối lượng vốn
- 66 -
đầu tư ra bên ngoài của một nước. Kết quả ước lượng mơ hình cho ta phương trình hồi quy mẫu:
LnFDI = -2,9714 + 0,55962
×
LnODI + 2,6074
× D1 + 3,134
× D2 + 2,8936
× D3
Ta thấy, ngoại trừ biến Si khơng được đưa vào mơ hình, tất cả các biến số có mặt trong mơ hình đều có ý nghĩa. Hệ số của các biến trong mơ hình đều khác khơng một
cách thực sự và có dấu phù hợp với kết quả phân tích định tính ở trên. Các kiểm định cho thấy kết quả ước lượng mơ hình có thể chấp nhận được. Hệ số a
2
nhỏ hơn 1 cho thấy dòng FDI vào Việt Nam tăng lên với tỷ lệ nhỏ hơn so với tỷ lệ trung bình trên
tồn thế giới trong điều kiện các yếu tố khác không đổi. Dấu của hệ số a
3
dương hàm ý rằng yếu tố vị trí địa lý dường như có ý nghĩa trong xác định FDI. Các nhà đầu tư sẽ
đầu tư nhiều hơn ở những nơi họ có thể tối thiểu hóa các chi phí vận chuyển, giao dịch và tương đồng về văn hóa, phong tục tập quán...nếu các yếu tố khác là như nhau. Hệ số
a
4
và a
5
đều dương, chứng tỏ có mối quan hệ giữa trình độ phát triển kinh tế với lượng vốn đầu tư ra nước ngoài. Các nước có thu nhập cao và thu nhập trung bình sẽ thực
hiện đầu tư ra ngoài nhiều hơn so với các nước có thu nhập thấp. Tuy nhiên, ta cũng thấy rằng, do các nhân tố “đẩy” đối với FDI vào Việt Nam hầu hết là khơng thể lượng
hóa, do đó các yếu tố trong mơ hình mới chỉ giải thích được một phần sự khác nhau về lượng vốn đầu tư giữa các nhà đầu tư, hệ số R
2
của mơ hình bằng 0,615. Như vậy, trong những năm qua, cả nhân tố “đẩy” và nhân tố “kéo” đều có tác
động rất tích cực đối với việc gia tăng dòng FDI vào Việt Nam. Chúng ta cần kết hợp khai thác cả hai nhóm nhân tố này để thu hút có hiệu quả hơn nguồn vốn FDI. Cần
phải thấy rằng các ưu thế về tài nguyên thiên nhiên, chi phí lao động sẽ dần mất đi. Do đó, chính phủ cần phải có các biện pháp chủ động hơn nữa trong việc tạo ra một môi
trường đầu tư hấp dẫn để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, đáp ứng đủ nhu cầu về vốn cho nền kinh tế.
Một chính sách thu hút FDI hữu hiệu là một chính sách được xây dựng trên cơ sở căn cứ vào thực trạng cụ thể của mơi trường chính trị và kinh tế đất nước, chọn đúng
đối tác đầu tư, nắm bắt được phương châm, chiến lược của chủ đầu tư và một điều hết sức quan trọng là phải hiểu thấu đáo các yếu tố quyết định đến dòng vốn đầu tư.
7. Tác động của khủng hoảng tài chính-tiền tệ khu vực tới hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài

7.1. Khủng hoảng tiền tệ của các nước Châu Á


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (89 trang)

×