1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Khủng hoảng tiền tệ của các nước Châu Á

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (510.92 KB, 89 trang )


đầu tư ra bên ngoài của một nước. Kết quả ước lượng mơ hình cho ta phương trình hồi quy mẫu:
LnFDI = -2,9714 + 0,55962
×
LnODI + 2,6074
× D1 + 3,134
× D2 + 2,8936
× D3
Ta thấy, ngoại trừ biến Si khơng được đưa vào mơ hình, tất cả các biến số có mặt trong mơ hình đều có ý nghĩa. Hệ số của các biến trong mơ hình đều khác khơng một
cách thực sự và có dấu phù hợp với kết quả phân tích định tính ở trên. Các kiểm định cho thấy kết quả ước lượng mơ hình có thể chấp nhận được. Hệ số a
2
nhỏ hơn 1 cho thấy dòng FDI vào Việt Nam tăng lên với tỷ lệ nhỏ hơn so với tỷ lệ trung bình trên
tồn thế giới trong điều kiện các yếu tố khác không đổi. Dấu của hệ số a
3
dương hàm ý rằng yếu tố vị trí địa lý dường như có ý nghĩa trong xác định FDI. Các nhà đầu tư sẽ
đầu tư nhiều hơn ở những nơi họ có thể tối thiểu hóa các chi phí vận chuyển, giao dịch và tương đồng về văn hóa, phong tục tập quán...nếu các yếu tố khác là như nhau. Hệ số
a
4
và a
5
đều dương, chứng tỏ có mối quan hệ giữa trình độ phát triển kinh tế với lượng vốn đầu tư ra nước ngoài. Các nước có thu nhập cao và thu nhập trung bình sẽ thực
hiện đầu tư ra ngồi nhiều hơn so với các nước có thu nhập thấp. Tuy nhiên, ta cũng thấy rằng, do các nhân tố “đẩy” đối với FDI vào Việt Nam hầu hết là khơng thể lượng
hóa, do đó các yếu tố trong mơ hình mới chỉ giải thích được một phần sự khác nhau về lượng vốn đầu tư giữa các nhà đầu tư, hệ số R
2
của mơ hình bằng 0,615. Như vậy, trong những năm qua, cả nhân tố “đẩy” và nhân tố “kéo” đều có tác
động rất tích cực đối với việc gia tăng dòng FDI vào Việt Nam. Chúng ta cần kết hợp khai thác cả hai nhóm nhân tố này để thu hút có hiệu quả hơn nguồn vốn FDI. Cần
phải thấy rằng các ưu thế về tài nguyên thiên nhiên, chi phí lao động sẽ dần mất đi. Do đó, chính phủ cần phải có các biện pháp chủ động hơn nữa trong việc tạo ra một môi
trường đầu tư hấp dẫn để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, đáp ứng đủ nhu cầu về vốn cho nền kinh tế.
Một chính sách thu hút FDI hữu hiệu là một chính sách được xây dựng trên cơ sở căn cứ vào thực trạng cụ thể của mơi trường chính trị và kinh tế đất nước, chọn đúng
đối tác đầu tư, nắm bắt được phương châm, chiến lược của chủ đầu tư và một điều hết sức quan trọng là phải hiểu thấu đáo các yếu tố quyết định đến dòng vốn đầu tư.
7. Tác động của khủng hoảng tài chính-tiền tệ khu vực tới hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài

7.1. Khủng hoảng tiền tệ của các nước Châu Á


Cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ ở các nước Châu Á khởi đầu từ Thái Lan vào tháng 71997 và sau đó như một phản ứng dây chuyền lan rộng ra các nước láng
-
67
-
giềng, phủ bóng đen lên hầu hết các nền kinh tế trong khu vực, làm cho kinh tế nhiều nước vùng Đông và Đông Nam Á bị ảnh hưởng nặng nề trên các khía cạnh, thể hiện:
- Tốc độ tăng trưởng bị giảm sút : Khu vực Đơng Nam Á trong suốt thập niên qua có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới 9-10 năm nhưng do bị ảnh hưởng bởi
cuộc khủng hoảng tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm mạnh: năm 1997, Thái Lan giảm còn 0,6, Malaixia 7,5, Philippin 4,5, Inđơnêxia 3, Hàn Quốc 6, Nhật Bản
1,1... - Đồng tiền bị giảm giá :
Sự sụt giá các đồng tiền của khu vực có thể thấy qua bảng số liệu dưới đây. Ta thấy ngay cả đồng Yên Nhật cũng bị mất giá liên tục so với đồng đôla Mỹ: đầu năm
1997, 1USD = 100 Yên đến tháng 81998, 1USD = 143 Yên, mất giá 43.
Tỷ giá một số đồng tiền khu vực trong năm 1997 Tỷ giá
12.1996 9.1.1998
Thái Lan 26,63
53,55 Malaixia
2528 4625
Inđônêxia 2362
8075 Philippin
26,30 44,65
Hàn Quốc 885
1740
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
- Hàng vạn doanh nghiệp bị phá sản, tỷ lệ thất nghiệp lớn : tỷ lệ thất nghiệp trong năm 1997 và nửa đầu năm 1998 lên đến gần 30 tổng số người trong độ tuổi lao
động.
- Thị trường chứng khoán chao đảo, rối loạn : Hệ thống ngân hàng suy yếu,
một số cơng ty chứng khốn bị phá sản, chỉ số chứng khoán ở nhiều nước bị giảm sút.
Chỉ số giá chứng khoán của một số nước Châu Á Chỉ số
12.1996 9.1.1998
Thái Lan 831,57
349,67 Malaixia
1237 491,6
Inđônêxia 637,43
342,97 Philippin
3170 1518
Hàn Quốc 651,22
440,78
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
- Tính hấp dẫn thu hút vốn FDI của khu vực bị giảm sút : sự khủng hoảng về
kinh tế, tài chính kéo theo sự bất ổn về chính trị, làm cho tính rủi ro của môi trường đầu tư tăng cao, tốc độ thu hút vốn đầu tư bị chậm lại.
- 68 -
- Sự khủng hoảng tài chính-tiền tệ kéo theo ảnh hưởng đến hoạt động chính trị sâu sắc : những cuộc bãi cơng, đình cơng nổ ra ở nhiều nước, thất nghiệp, mức
sống giảm, chính phủ bị mất lòng tin.
Đã có nhiều bài viết và cơng trình nghiên cứu về nguyên nhân của khủng hoảng, có thể tóm tắt những nét chính như sau :
Chính phủ khơng duy trì được thế cân bằng giữa các chính sách kinh tế vĩ mơ: - Q tập trung đầu tư cho chính sách hướng về xuất khẩu, lấy đó làm động lực để
tăng trưởng kinh tế, trong khi các sản phẩm xuất khẩu truyền thống đã lỗi thời, khả năng cạnh tranh thấp, kim ngạch xuất khẩu giảm.
- Sự tăng trưởng kinh tế ở mức cao cơ bản dựa vào nguồn vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là nguồn đầu tư ngắn hạn.
- Nợ nước ngoài so với GDP gia tăng qua các năm, đặc biệt là nợ quá hạn ở mức cao.
- Mất cân đối giữa cơ cấu đầu tư và mối quan hệ giữa đầu tư và tiêu dùng. Chính sách tài chính - tiền tệ khơng hợp lý, thể hiện là:
- Sự quản lý và điều hành yếu kém của hệ thống ngân hàng, các thị trường tài chính dễ đổ vỡ do tình trạng khơng minh bạch, khơng thực hiện các tiêu chuẩn phòng ngừa,
cơng tác giám sát và quản lý kém. - Chính sách tỷ giá hối đối duy trì cứng nhắc, gần như cố định phụ thuộc vào đồng
đơla Mỹ. - Thị trường chứng khốn, thị trường hối đối, mua bán ngoại tệ ít được kiểm soát.
Đầu cơ ngoại tệ : nạn đầu cơ ngoại tệ gây nên tình trạng thiếu hụt ngoại tệ đáp ứng yêu cầu dự trữ và đảm bảo khả năng thanh tốn cho nền kinh tế, góp phần làm mất
giá đồng bản tệ. Bất ổn về chính trị : sự xáo trộn trên chính trường ở nhiều nước cũng là nguyên
nhân thúc đẩy khủng hoảng tiền tệ nổ ra.

7.2. Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng đối với hoạt động FDI tại Việt Nam


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (89 trang)

×