1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng đối với hoạt động FDI tại Việt Nam Những ảnh hưởng thuận lợi của cuộc khủng hoảng đến FDI tại Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (510.92 KB, 89 trang )


- Sự khủng hoảng tài chính-tiền tệ kéo theo ảnh hưởng đến hoạt động chính trị sâu sắc : những cuộc bãi cơng, đình cơng nổ ra ở nhiều nước, thất nghiệp, mức
sống giảm, chính phủ bị mất lòng tin.
Đã có nhiều bài viết và cơng trình nghiên cứu về nguyên nhân của khủng hoảng, có thể tóm tắt những nét chính như sau :
Chính phủ khơng duy trì được thế cân bằng giữa các chính sách kinh tế vĩ mơ: - Q tập trung đầu tư cho chính sách hướng về xuất khẩu, lấy đó làm động lực để
tăng trưởng kinh tế, trong khi các sản phẩm xuất khẩu truyền thống đã lỗi thời, khả năng cạnh tranh thấp, kim ngạch xuất khẩu giảm.
- Sự tăng trưởng kinh tế ở mức cao cơ bản dựa vào nguồn vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là nguồn đầu tư ngắn hạn.
- Nợ nước ngoài so với GDP gia tăng qua các năm, đặc biệt là nợ quá hạn ở mức cao.
- Mất cân đối giữa cơ cấu đầu tư và mối quan hệ giữa đầu tư và tiêu dùng. Chính sách tài chính - tiền tệ khơng hợp lý, thể hiện là:
- Sự quản lý và điều hành yếu kém của hệ thống ngân hàng, các thị trường tài chính dễ đổ vỡ do tình trạng khơng minh bạch, khơng thực hiện các tiêu chuẩn phòng ngừa,
cơng tác giám sát và quản lý kém. - Chính sách tỷ giá hối đối duy trì cứng nhắc, gần như cố định phụ thuộc vào đồng
đơla Mỹ. - Thị trường chứng khốn, thị trường hối đối, mua bán ngoại tệ ít được kiểm soát.
Đầu cơ ngoại tệ : nạn đầu cơ ngoại tệ gây nên tình trạng thiếu hụt ngoại tệ đáp ứng yêu cầu dự trữ và đảm bảo khả năng thanh tốn cho nền kinh tế, góp phần làm mất
giá đồng bản tệ. Bất ổn về chính trị : sự xáo trộn trên chính trường ở nhiều nước cũng là nguyên
nhân thúc đẩy khủng hoảng tiền tệ nổ ra.

7.2. Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng đối với hoạt động FDI tại Việt Nam


Việt Nam là thành viên của khối ASEAN, có nhiều đặc điểm phát triển kinh tế và tài chính giống các nước có khủng hoảng. Hơn nữa, kim ngạch buôn bán của Việt Nam
với các nước trong khu vực chiếm trên 50 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam. Xét về cơ cấu nguồn vốn, 23 73 số dự án và 68,2 vốn đầu tư dòng vốn của
Việt Nam bắt nguồn từ các quốc gia Châu Á như Singapore, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc...cho nên khủng hoảng tiền tệ ở các nước này đã và sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến
các hoạt động kinh tế trong đó có hoạt động đầu tư FDI tại Việt Nam.
-
69
-

a. Những ảnh hưởng thuận lợi của cuộc khủng hoảng đến FDI tại Việt Nam


- Tạo động lực kích thích các cấp quản lý vĩ mô nghiên cứu những bài học và kinh nghiệm khắc phục hậu quả của khủng hoảng tiền tệ ở các nước trong khu vực để
mau chóng đề xuất những giải pháp cải tổ nền kinh tế và ngăn chặn cuộc khủng hoảng tài chính- tiền tệ, cải thiện môi trường đầu tư ở Việt Nam để tăng cường thu hút vốn
đầu tư trong và ngoài nước.
- Kích thích cải tổ lại chiến lược thu hút vốn đầu tư, chuyển hướng thu hút vốn đầu tư sang các cơng ty, tập đồn Bắc Mỹ, Tây Âu và Bắc Âu để tạo sự cân bằng giữa
các lực lượng đầu tư, thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước: đa dạng hóa thị trường đa phương hóa mối quan hệ kinh tế.
- Đối với các nhà đầu tư FDI sử dụng vật tư, nguyên vật liệu nhập khẩu từ các nước trong khu vực, do có cuộc khủng hoảng, giá nguyên liệu, giá thiết bị máy nhập
khẩu sẽ giảm. Ví dụ: nguyên liệu nhựa giảm 10-20, linh kiện điện tử giảm 10-30; bông, sợi phục vụ cho ngành dệt giảm từ 20-30...Việc giá nhập khẩu giảm giúp cho
các doanh nghiệp giảm giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trong và ngồi nước.
- Cạnh tranh khó khăn trên thị trường quốc tế khi xuất khẩu, cạnh tranh với hàng nhập khẩu với giá rẻ trên thị trường nội địa kích thích các nhà đầu tư nước ngồi thay
đổi chiến lược đầu tư cơng nghệ, hợp lý hóa sản xuất của các dự án đầu tư vào Việt Nam.
- Cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ là cơ hội giúp cho Việt Nam rút ngắn khoảng cách trong phát triển kinh tế với các nước trong khu vực. Vì theo các chun gia có uy
tín, các nước Châu Á đang gặp khủng hoảng cần ít nhất 5 đến 10 năm để phục hồi sự phát triển. Đây chính là một khía cạnh tăng sức hấp dẫn của mơi trường thu hút vốn
FDI tại Việt Nam.
b. Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng hoạt động FDI tại Việt Nam. - Hoạt động thu hút vốn đầu tư giảm sút nghiêm trọng từ sau khi khủng hoảng nổ
ra cả về số lượng dự án đầu tư và số vốn đầu tư. Đến năm 1999 và 2000, bắt đầu có sự gia tăng trở lại số dự án đầu tư nhưng quy mô vốn đầu tư so với các năm trước còn rất
nhỏ bé. Số liệu cụ thể đã được trình bày ở thực trạng cấp giấy phép đầu tư trực tiếp nước ngoài trong phần trên. Những dự án đã được cấp giấy phép triển khai chậm và
xin dãn và lùi tiến độ triển khai xây dựng lên tới gần 6 tỷ USD.
Nguyên nhân có thể do các cơng ty mẹ phá sản hoặc khơng còn khả năng tài chính, đồng tiền bản tệ mất giá nghiêm trọng, thị trường trong nước thu hẹp...nên
- 70 -
nhiều quốc gia bị khủng hoảng phải quay lại dồn sức củng cố cơ sở trong nước; một số khác đã chuyển phần đầu tư sang một vài nước được coi là nằm ngồi tầm ảnh hưởng
của khủng hoảng là Hồng Kơng, Trung Quốc hoặc Singapore...
- Nhiều dự án đang hoạt động gặp khó khăn, đặc biệt là các dự án làm hàng xuất khẩu vì một mặt thị trường xuất khẩu bị thu hẹp, mặt khác đồng tiền Việt Nam bị mất
giá ít hơn nên giá thành sản xuất cao, khả năng cạnh tranh suy giảm. Kinh doanh khách sạn, nhà hàng, văn phòng cho thuê bị ế ẩm, hiệu quả kinh doanh kém. Nhiều dự án
triển khai đang trong quá trình trả nợ các khoản vay bằng ngoại tệ, trong điều kiện làm ăn chưa có lãi, tỷ giá hối đối tăng nên các doanh nghiệp này gặp khó khăn.
- Thu hẹp quy mô sản xuất của nhiều dự án FDI dẫn tới dãn thợ khoảng 10 nghìn nhân cơng; lương người lao động bị cắt giảm làm cho đời sống kinh tế - xã hội gặp
nhiều khó khăn.
- Cuộc khủng hoảng tiền tệ của các nước trong khu vực đặt Việt Nam vào tình thế cạnh tranh gay gắt với các nước trong khu vực để thu hút vốn đầu tư vì nước nào cũng
đều cần vốn để phục hồi và phát triển kinh tế, nên nhiều nước như: Malaixia, Singapore, Trung Quốc...đều thực hiện nhiều biện pháp tích cực cải thiện môi trường
đầu tư để hấp dẫn và cạnh tranh với các nước khác trong thu hút nguồn vốn FDI. Hơn nữa, do giá bất động sản, giá trái phiếu của các nước ASEAN bị giảm mạnh kèm theo
là khả năng đầu tư mở cửa hơn của các nước này sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài vào mua đầu cơ bất động sản, chứng khoán để chờ thời cơ bán đi khi giá tăng.
Cạnh tranh gay gắt thu hút vốn vừa là khó khăn vừa là động lực giúp các ngành, các cấp, các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam phải mau chóng đề xuất và thực hiện những
giải pháp cải thiện tình hình khó khăn do cuộc khủng hoảng tiền tệ khu vực gây ra.
7.3. Mặt trái của việc sử dụng vốn nước ngoài và bài học từ cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ khu vực Châu Á
Dòng chảy của vốn tư bản vận động theo quy luật từ nơi có tỷ suất lợi nhuận thấp đến nơi có tỷ suất lợi nhuận cao hơn. Vì vậy nước có nhu cầu đầu tư có thể thu hút
nguồn vốn to lớn để tạo ra động lực tăng trưởng bằng phát huy lợi thế so sánh về chi phí tư bản, thỏa mãn nhu cầu lợi nhuận của nhà đầu tư. Mặt khác khi mục tiêu tối
thượng đó khơng được đảm bảo, dòng vốn này có thể bất ngờ chuyển chiều để rút ra khỏi nơi đầu tư khơng còn hấp dẫn, khơng có triển vọng mong đợi. Đặc biệt nguồn
vốn đầu tư gián tiếp và ngắn hạn có tính chất linh hoạt rất cao, nó có thể vào nhanh và tháo chạy cũng rất nhanh tạo ra cú sốc cho nền kinh tế nước sở tại. Thực tế vừa qua,
chỉ trong vòng 3 - 4 tháng các nhà tư bản đã rút khỏi Đông Nam Á trên 250 tỷ USD là
-
71
-
một bằng chứng. Không chỉ riêng nguồn đầu tư ngắn hạn mà ngay cả đối với đầu tư trực tiếp FDI, nếu khơng thấy có triển vọng phát triển thì doanh nghiệp nước ngồi
cũng sẽ rút vốn về nước thay vì đầu tư trở lại. Tuy nhiên vì là đầu tư dài hạn nên khơng thể rút ra một cách nhanh chóng như luồng vốn nóng ngắn hạn. Trong cơ cấu vốn đầu
tư của các nước Đông Nam Á chỉ khoảng 20-30 là vốn đầu tư trực tiếp, còn lại đều là vốn ngắn hạn theo luồng đầu tư gián tiếp. Nợ nước ngoài của các nước này cũng
chủ yếu là nợ ngắn hạn. Việc vay nợ nước ngoài qua nhiều lại chủ yếu là vốn ngắn hạn và sử dụng vốn vay tràn lan, kém hiệu quả là nguyên nhân gánh nặng nợ nần chồng
chất, thậm chí mất khả năng thanh tốn có thể dẫn đến lệ thuộc bên ngồi khơng chỉ về kinh tế mà cả về chính trị, suy giảm tính độc lập dân tộc. Mặt khác do vốn đầu tư nước
ngoài chiếm một phần quan trọng trong khu vực doanh nghiệp và việc chuyển thu nhập và lợi nhuận ra nước ngoài ngày càng tăng của các nhà đầu tư nước ngoài là nguyên
nhân chính tạo nên mất cân đối nghiêm trọng thâm hụt tài khoản vãng lai, khi tư bản nước ngồi rút ra ồ ạt như vừa qua thì các đồng nội tệ buộc phải phá giá và các NHTM
và các cơng ty ở các nước này rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Thực tế cho thấy trong điều kiện tự do hóa thị trường tài chính mà khơng có sự tăng cường kiểm
sốt và quản lý có hiệu lực thì rất mạo hiểm. Hệ thống ngân hàng ở nhiều nước đã khơng kiểm sốt các rủi ro tài chính mà họ phải gánh chịu và có những quyết định sai
lầm.
Như vậy ta thấy rằng thị trường vốn quốc tế rất khắc nghiệt và là thước đo phán quyết chính xác với các chính sách kinh tế của bất kỳ quốc gia nào. Duy trì một hệ
thống ngân hàng yếu kém trong một thế giới mà quá trình lưu chuyển vốn rất dễ biến động là điều cực kỳ nguy hiểm. Đồng thời, nền kinh tế muốn tăng trưởng một cách
bền vững cần dựa vào nội lực là chính, khơng nên q lạm dụng nguồn vốn nước ngồi.
Do đó cần thiết phải duy trì một tương quan hợp lý giữa vốn trong nước và vốn nước ngoài, đồng thời vốn đầu tư trực tiếp và vốn vay dài hạn phải chiếm phần lớn
trong vốn nước ngoài. Chúng ta xác định, về lâu dài phải giữ được tương quan vốn trong nước vốn nước ngoài, nhưng đồng thời phải tận dụng vốn nước ngồi, tạo ra
tích lũy, tăng nguồn vốn trong nước, đưa nguồn vốn trong nước dần giữ vai trò chủ đạo.
Khơng ai nghi ngờ về vai trò to lớn của nguồn vốn nước ngồi nói chung và vốn đầu tư trực tiếp nói riêng đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế các các nước
- 72 -
nhận đầu tư. Song cần phải thấy những tác động tiêu cực của nó cũng khơng nhỏ nếu khơng biết kiểm sốt và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này.
Cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ trong khu vực vừa qua phần nào đã bộc lộ mặt trái đó và cho phép chúng ta rút ra một số bài học như sau :
• Việc xác định các mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế phải dựa trên cơ sở
các nguồn lực có thể có được và phải đảm bảo các cân đối kinh tế vĩ mô, kịp thời điều chỉnh mục tiêu cho phù hợp với những thay đổi nhằm đảm bảo sự hài
hòa giữa các yếu tố phát triển.
• Cần phải có chiến lược tài chính quốc gia hồn chỉnh, trong đó xác định rõ mục
đích của chính sách huy động và sử dụng vốn nước ngồi đẩy mạnh tiến trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Huy động đủ vốn với các điều kiện vay trả thuận lợi. - Vốn nước ngồi được sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả để đảm bảo khả
năng trả nợ. - Vốn nước ngồi khơng có tác động xấu đến sự ổn định mơi trường kinh tế vĩ
mơ và tính độc lập dân tộc.
• Cần xác định đúng đắn số lượng lợi dụng vốn nước ngoài : phải thường xuyên
xem xét giới hạn mắc nợ, nắm chắc số lượng, điều kiện mắc nợ để điều chỉnh về mặt vĩ mô. Cần quan tâm chú ý các giới hạn số lượng sau: chỉ tiêu tỷ suất mắc nợ tỷ lệ
giữa tổng số nợ và lãi của một nước phải trả cho nước ngoài với tổng giá trị sản lượng quốc dân cùng năm, chỉ tiêu tỷ suất vay nợ tỷ lệ giữa số dư mắc nợ còn lại sau khi trả
nợ và lãi trong năm so với thu nhập ngoại tệ từ xuất khẩu của nước ấy cùng năm, tỷ lệ giữa số lượng dự trữ ngoại tệ với hạn ngạch nhập khẩu mỗi năm. Giám sát có hiệu quả
khu vực tài chính, lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng và nâng cao khả năng quản lý nợ nước ngoài, nhất là nợ ngắn hạn.
• Cần giám sát chặt chẽ đầu tư nước ngồi thơng qua cổ phiếu, trái phiếu... tránh
tình trạng các nhà đầu tư bán tháo trái phiếu gây ảnh hưởng tới đồng nội tệ. •
Khi nguồn vốn nước ngồi lớn và đều đặn đổ vào trong nước, Chính phủ cần tăng cường thực hiện chính sách tiền tệ nhằm đối phó với những tác động tiêu cực về
giá cả, lạm phát: tăng cường hoạt động trên thị trường mở bằng cách phát hành trái phỉếu Chính phủ, tăng dự trữ bắt buộc các khoản tiền gửi để kéo dài thời hạn các
khoản tiền gửi và hạn chế luồng vốn nước ngoài vào hệ thống ngân hàng...
-
73
-

CHƯƠNG III MỘT SỐ GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VỐN FDI ĐÁP ỨNG YÊU CẦU


PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ I. MỘT SỐ VƯỚNG MẮC VÀ YẾU KÉM TRONG THU HÚT VÀ SỬ
DỤNG VỐN FDI THỜI GIAN VỪA QUA
Hoạt động của đầu tư trực tiếp nước ngồi trong thời gian qua đã thực sự có tác động tích cực, có vị trí quan trọng, góp phần làm chuyển biến nền kinh tế Việt Nam
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ảnh hưởng tích cực của loại hình hoạt động kinh tế này đang ngày càng rõ nét và lan rộng trên nhiều mặt của đời sống kinh
tế xã hội nước ta. Tuy vậy, không thể bất cứ ở đâu, thời gian nào hoạt động đầu tư nước ngoài cũng đưa lại những kết quả như mong muốn và nếu so với mục tiêu mà
chúng ta đề ra cho đầu tư trực tiếp nước thì đâu phải dự án nào cũng đạt được. Điều này là khó tránh khỏi đối với chúng ta trong giai đoạn đầu của lĩnh vực hoàn toàn mới
- 74 -

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (89 trang)

×