1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Những lý do của tự do hoá thương mại

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (161.39 KB, 18 trang )


phải thông báo cho các doanh nghiệp biết và dự đoán được, chuẩn bị làm ăn. Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc đối xử cho nước này không kém hơn đối xử của
nước thứ ba. Không phân biệt đối xử. Ðối xử quốc gia dành cho doanh nghiệp nước ngoài đối xử không kém hơn đối xử doanh nghiệp trong nước. Mở cửa thị trường
hàng hóa, dịch vụ giúp cho thương mại tồn cầu phát triển, kinh tế phát triển. WTO có khoảng 18 hiệp định lớn và 1 bộ quy tắc. 18 hiệp định: hiệp định về thuế quan
GATT, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, trị giá hải quan, hiệp định về vấn đề hàng nông nghiệp, chống bán phá giá, chống trợ cấp, hiệp định về cấp phép nhập khẩu,
kiểm tra hàng trước khi xếp, kiểm dịch động thực vật, quy tắc xuất xứ, một số hiệp định khác; rào cản thương mại TBT. Toàn bộ quy tắc gói gọn trong 30 vạn trang.
Ðây là bộ quy tắc khổng lồ, giúp điều tiết toàn bộ thương mại toàn cầu.

1.3 Các nguyên tắc của WTO


Không phân biệt đối xử: khơng một nước nào được có sự phân biệt đối xử giữa các đối tác thương mại của mình nghĩa là phải dành cho họ một cách công bằng qui chế
“đối xử tối huệ quốc” hay còn gọi là quy chế MFN cũng như không được phân biệt đối xử giữa hàng hố, dịch vụ và người nước ngồi nghĩa là phải dành cho họ quy
chế “đối xử quốc gia”; Tự do hơn: xố bỏ rào cản thơng qua con đường đàm phán.
Dự đoán trước được: phải đảm bảo cho các cơng ty, các nhà đầu tư và chính phủ nước ngồi rằng sẽ khơng áp dụng một cách tuỳ tiện các rào cản thương mại gồm
hàng rào thuế quan và phi thuế quan; mức thuế quan và các cam kết mở cửa thị trường được “ràng buộc” tại WTO.
Cạnh tranh hơn: hạn chế những biện pháp thương mại không lành mạnh như trợ cấp xuất khẩu, bán phá giá, nghĩa là bán với giá thấp hơn giá thành sản phẩm nhằm
mục đích chiếm thị phần; Dành ưu đãi cho các nước kém phát triển: cho họ một thời hạn dài và linh động
hơn, cùng một số đặc quyền thương mại.

1.4. Những lý do của tự do hoá thương mại


Quan điểm kinh tế về một hệ thống thương mại mở trên cơ sở những nguyên tắc được thoả thuận đa biên tương đối đơn giản và chủ yếu xuất phát từ xu hướng chung
của thương mại. Khơng những thế, nó còn được ủng hộ bởi thực tiễn thương mại thế giới và sự tăng trưởng kinh tế từ sau chiến tranh thế giới thứ hai. Thuế quan đối với
hàng công nghiệp đã giảm nhanh chóng và hiện nay trung bình ở dưới mức 5 tại các nước phát triển. Trong vòng 25 năm sau chiến tranh thế giới thứ hai, tăng trưởng
kinh tế thế giới đạt mức bình quân 5năm, một phần là nhờ việc giảm bớt các rào cản thương mại. Thương mại thế giới tăng trưởng với tốc độ nhanh hơn, với tỷ lệ
trung bình khoảng 8 trong giai đoạn nói trên.
4
Số liệu thống kê cho thấy có một mối liên hệ không thể phủ nhận giữa tự do hoá thương mại và tăng trưởng kinh tế. Theo học thuyết kinh tế, mối liên hệ này được lý
giải một cách hết sức khoa học. Tất cả các nước, kể cả các nước nghèo đều có những nguồn lực như nhân lực, công nghiệp, tài nguyên thiên nhiên, tài chính mà họ có thể
khai thác để sản xuất hàng hoá và dịch vụ phục vụ thị trường nội địa hoặc nước ngoài. Khoa học kinh tế cho thấy chúng ta có thể thu lợi khi hàng hố và dịch vụ
được thương mại hố. Nói một cách đơn giản, ngun tắc “lợi thế so sánh” chỉ ra rằng các nước làm giàu
trước tiên bằng cách tận dụng các nguồn lực sẵn có để tập trung sức lực vào những lĩnh vực mà họ có điều kiện sản xuất tốt nhất, tiếp đến bằng cách trao đổi những sản
phẩm này lấy những sản phẩm mà những nước khác có thể sản xuất với những điều kiện tốt nhất.
Nói cách khác, chính sách thương mại tự do hay chính sách đảm bảo cho hàng hố và dịch vụ tự do lưu thơng là làm gia tăng cạnh tranh, khuyến khích khả năng sáng tạo
và tạo ra thành cơng. Chính sách thương mại tự do này giúp người ta thu được thêm nhiều lợi nhuận từ việc sản xuất ở điều kiện tốt nhất, với kế haọch hoàn hảo nhất và
giá thành thấp nhất. Tuy nhiên, thành công trong thương mại không phải là một hiện tượng tĩnh. Một
doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh hoàn hảo đối với một sản phẩm nào đó có thể trở nên kém cạnh tranh hơn một doanh nghiệp khác khi thị trường phát triển hay khi
công nghệ mới cho phép tạo ra những sản phẩm với giá rẻ hơn và chất lượng tốt hơn. Nhà sản xuất được khuyến khích thay đổi để tự thích nghi từng bước và tránh bị tổn
thất. Họ có thể tạo ra các sản phẩm mới, tìm thấy cơ hội làm ăn mới trong lĩnh vực hoạt động sẵn có của mình hay lao vào một lĩnh vực hồn tồn mới mẻ.
Kinh nghiệm cho thấy khả năng cạnh tranh cũng có thể chuyển từ nước này sang nước khác. Một nước có nhiều điều kiện thuận lợi nhờ giá nhân cơng rẻ hoặc nguồn
tài nguyên thiên nhiên phong phú có thể bị mất khả năng cạnh tranh đối với một số hàng hoá và dịch vụ với sự phát triển của nền kinh tế. Tuy nhiên, nhờ tác dụng
khuyến khích của việc mở cửa nền kinh tế, nước này có thể lại trở nên cạnh tranh đối với hàng hoá hay dịch vụ khác. Nói chung, đây là một q trình dần dần.
Tuy nhiên, ý định từ chối đương đầu với thách thức mà các mặt hàng nhập khẩu có khả năng cạnh tranh đặt ra vẫn tồn tại dai dẳng. Và chính phủ các nước giàu có thể bị
cám dỗ bởi các biện pháp bảo hộ nhằm có được lợi thế về mặt chính trị ngắn hạn thơng qua việc trợ cấp, đề ra những thủ tục hành chính rắc rối, viện cớ vì các mục
đích chung hợp pháp như gìn giữ mơi trường hay bảo vệ người tiêu dùng nhằm bảo hộ cho các nhà sản xuất trong nước
5
Bảo hộ làm cho các nhà sản xuất trong nước trở nên cồng kềnh, không hiệu quả, cung cấp cho người tiêu dùng những sản phẩm lỗi thời hoặc kém hấp dẫn. Và cuối cùng,
mặc dù được nhà nước bảo hộ và trợ cấp, các nhà máy vẫn phải đóng cửa và cắt giảm việc làm. Nếu chính phủ các nước khác trên thế giới cũng áp dụng những chính sách
tương tự thì thị trường sẽ bị thu hẹp và hoạt động kinh tế thế giới sẽ trở nên trì trệ. Một trong những mục tiêu mà chính phủ các nước theo đuổi tại các cuộc đàm phán
WTO là ngăn chặn để khơng bị trượt vào vòng xốy bảo hộ, vốn được xem là một biện pháp đi ngược lại với mục đích mà các quốc gia thành viên đang tìm kiếm
Lợi thế so sánh Giả sử rằng nước A giỏi hơn nước B về chế tạo ô tô và nước B làm bánh mì ngon hơn
nước A các nhà lý luận cho rằng so sánh như vậy là khập khiễng. Rõ ràng, vì lợi ích của mình, A sẽ chun vào việc sản xuất ơ tơ còn B chun vào việc làm bánh mì, sau
đó hai bên trao đổi sản phẩm với nhau. Đây là ví dụ về lợi thế tuyệt đối. Nhưng điều gì xảy ra nếu một nước khơng có thế mạnh trong bất cứ một lĩnh vực
nào? Vậy thì thương mại có gạt bỏ tất cả các nhà sản xuất của nước này ra khỏi thị trường khơng? Theo Ricardo thì khơng. Điều này được lý giải bằng nguyên tắc lợi
thế so sánh. Theo nguyên tắc này, các nước A và B luôn luôn mong muốn trao đổi thương mại với
nhau, ngay cả khi A giỏi về mọi mặt. Nếu A là một nước sản xuất ô tô rất giỏi và chỉ là một nước sản xuất bành mì tương đối giỏi, A sẽ ln mong muốn đầu tư vào lĩnh
vực mà mình giỏi hơn cả - nghĩa là sản xuất ô tô - và xuất khẩu ô tô sang B, nước tiếp tục đầu tư vào lĩnh vực mà mình nắm rõ nhất - nghĩa là làm bánh mì - và bán sản
phẩm đó sang A, cho dù B làm bánh không giỏi bằng A. Như vậy thương mại vẫn có lợi cho cả hai bên. Một nước không cần phải giỏi trong lĩnh vực nào mới có thể tận
dụng được thương mại. Đó là lợi thế so sánh. Học thuyết này do nhà kinh tế học Đavi Ricardo tìm ra. Đây là một trong những học
thuyết được nhiều nhà kinh tế chấp nhận nhất. Học thuyết này cũng gây ra nhiều nhầm lẫn nhất đối với giới kinh tế khơng chun vì họ ln nhầm học thuyết này với
lợi thế tuyệt đối. Chẳng hạn chúng ta thường nghe nói rằng một số nước chẳng có lợi thế so sánh nào cả. Thực tế, điều này khơng bao giờ xảy ra.
1.5. Tóm tắt các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam 1.5.1 Cam kết đa phương

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (18 trang)

×