1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Các cam kết và Lộ trình cắt giảm thuế hàng nơng sản của Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (161.39 KB, 18 trang )


Chiến lược trong sản xuất và xuất khẩu nông sản tốt nhất nên bắt đầu từ chính sách từ trên xuống. Chỉ có cách này mới tạo ra một nền cơng nghiệp thực sự trong nơng
nghiệp. Chính vì sự thiếu chiến lược tổng thể đó mà nền sản xuất nơng nghiệp vẫn cứ manh mún, nhỏ lẻ và rời rạc như những mảnh vườn của người nông dân. Những
mảnh vườn muôn màu sắc đem lắp ghép lại không thể thành bức tranh muôn màu, mà chỉ làm nổi rõ hơn sự pha tạp.

2.2. Các cam kết và Lộ trình cắt giảm thuế hàng nông sản của Việt Nam


- Việt Nam cam kết không áp dụng trợ cấp xuất khẩu đối với nông sản từ thời điểm gia nhập. Tuy nhiên, ta bảo lưu quyền được hưởng một số quy định riêng của WTO
dành cho nước đang phát triển trong lĩnh vực này. Đối với loại hỗ trợ mà WTO quy định phải cắt giảm nhìn chung ta duy trì được ở mức khơng q 10 giá trị sản
lượng. Ngồi mức này, ta còn bảo lưu thêm một số khoản hỗ trợ nữa vào khoảng 4.000 tỷ đồng mỗi năm. Các loại trợ cấp mang tính chất khuyến nơng hay trợ cấp
phục vụ phát triển nông nghiệp được WTO cho phép nên ta được áp dụng không hạn chế.
- Thuế suất cam kết cuối cùng đối với các mặt hàng của ta trong WTO là 13,4, giảm so với mức hiện hành là 23. Lộ trình giảm thuế này của ta là 3-5 năm, có mặt
hàng 7-11 năm. - Đối với hàng nông sản, thuế suất cam kết cuối cùng là 21, mức cắt giảm so với
hiện hành là 10,6. So với tổng thể mức thuế tơi nói ở trên là 23, nơng sản là 10,6, chứng tỏ đã có một sự quan tâm nhất định về bảo hộ hàng nông sản.
- Mặt hàng nơng sản nào hiện có thuế suất 40-50, ví dụ một số mặt hàng nơng sản chế biến thì sẽ phải giảm xuống, có mặt hàng cắt giảm ngay.
Ví dụ thuế hiện hành của cá và sản phẩm cá là 29,3 thì thuế tại thời điểm gia nhập là 29,1, còn thuế suất cam kết cuối cùng là 18,1 và thời hạn cắt giảm kéo dài tới 5
năm. Hay thịt bò giảm từ 20 xuống 14 sau 5 năm, thịt lợn từ 30 xuống 15 sau 5 năm, sữa nguyên liệu giảm khi gia nhập là 20, nhưng thuế cuối cùng là 18 sau 2
năm, sữa thành phẩm giảm 30 xuống 25 sau 5 năm..
13
CHƯƠNG 3 NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI HÀNG NÔNG SẢN VIỆT NAM
3.1 Thách thức 3.1.1.Thách thức của việc cắt giảm thuế và mở cửa thị trưởng đối với sản xuất nông nghiệp
- Việc giảm thuế nhập khẩu hàng nông sản theo thỏa thuận với Mỹ mà trước hết là thịt bò, thịt heo, thì sản phẩm trong nước cạnh tranh sẽ rất khó khăn, bởi giá thành
chăn nuôi trong nước hiện rất cao. Chưa kể hàng loạt mặt hàng nông sản chế biến từ nhiều nước khác, nhất là từ Trung Quốc sẽ khiến nơng sản nước ta cũng khó địch
nổi ngay trên sân nhà. Trong lĩnh vực sản phẩm chăn ni có thể gặp khó khăn, nhất là các hộ chăn ni
nhỏ lẻ trong nước sẽ khó cạnh tranh lại với các sản phẩm cao cấp của Mỹ. Riêng đối với thịt gà của các doanh nghiệp trong nước sẽ thua lớn, bởi vì vì ưu thế lớn nhất của
Mỹ là chỉ tiêu thụ phần ức gà, còn lại là xuất khẩu nên giá thành rẻ. Người ni bò, heo thì có thể sống cầm chừng vì người tiêu dùng hiện chưa quen với việc sử dụng
thịt heo, bò đơng lạnh. Tuy nhiên, không phải bây giờ chúng ta mới mở cửa thị trường, cạnh tranh. Ta đã
tham gia AFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN từ năm 1996; đã ký BTA - Hiệp định thương mại Việt-Mỹ với Mỹ; tham gia Hiệp định tự do hóa thương mại
ASEAN-Trung Quốc, đặc biệt trong hiệp định này ta có những cam kết song phương với Trung Quốc để giảm thuế rất nhiều mặt hàng nông sản chưa chế biến xuống 0.
Thực tế, chưa tính đến hội nhập thì nhiều mặt hàng nông sản của các nước đã sang VN, nông sản VN cũng đã cạnh tranh được và nông sản ngoại chưa lấn át được.
Vấn đề là giúp cho nông dân phát triển được những vùng sản xuất hàng hóa để nâng cao sức cạnh tranh, tìm thị trường cho họ, giảm chi phí khác hay giúp họ cơng nghệ
sau thu hoạch
3.1.2 Thách thức đối với việc xố bỏ trợ cấp đối với hàng nông sản
Theo cam kết đa phương của VN trong các phiên đàm phán gia nhập WTO, các trợ cấp xuất khẩu đối với hàng nông sản sẽ phải được bỏ ngay lập tức.
14
Tuy nhiên, với cam kết này, các mặt hàng nông sản Việt Nam cũng hầu như khơng có ảnh hưởng vì các hỗ trợ từ phía Nhà nước để giữ giá, trữ hàng đều đã được bỏ từ
nhiều năm trước. Hình thức hỗ trợ xuất khẩu còn lại hiện nay là thưởng xuất khẩu nhằm khuyến khích doanh nghiệp tìm được thị trường mới, mặt hàng mới... cũng
được Bộ Thương mại thông báo xóa bỏ trong năm nay do vậy việc cam kết bỏ trợ cấp xuất khẩu thật ra không ảnh hưởng nhiều đến các loại hàng nông sản.
3.2 Biện Pháp tháo gỡ 3.2.1 Đối với chính phủ - những biện pháp mang tầm vĩ mô
Nông nghiệp là lĩnh vực nhạy cảm và dễ bị tổn thương hơn cả khi thực hiện cam kết cắt giảm thuế nông sản. Thực hiện sự chỉ đạo của Chính phủ, Đồn đàm phán đã kiên
trì và thận trọng trong việc mở cửa thị trường nông sản. Mặc dầu vậy, nông nghiệp vẫn là lĩnh vực bị sức ép cạnh tranh khá lớn, nhất là trong điều kiện nông nghiệp
nước ta vẫn là nền sản xuất nhỏ, phân tán, công nghệ lạc hậu, năng suất kém, chất lượng sản phẩm khơng cao, bình qn đất nông nghiệp trên một lao động thấp.
Để giải quyết vấn đề này phải thực hiện theo 2 hướng: Một là: Đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong đó có cơ cấu kinh tế
trong nơng nghiệp và nông thôn, từng bước chuyển lao động nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp và dịch vụ; đưa các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động, yêu cầu
đào tạo không cao về nông thôn; phát triển các làng nghề sản xuất tiểu thủ cơng nghiệp và dịch vụ; hình thành các thị trấn, thị tứ mới ở nông thôn. Đây là hướng phát
triển quan trọng nhất. Hai là: Tăng ngân sách đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn cùng với việc dành toàn
bộ các nguồn vốn hỗ trợ trước đây cho khuyến khích xuất khẩu nơng sản để đầu tư phát triển thuỷ lợi, giao thông nông thôn. Nhà nước hỗ trợ việc xây dựng hệ thống
kho tàng, các cơ sở bảo quản, phơi sấy nhằm giảm hao hụt, bảo đảm chất lượng sản phẩm sau thu hoạch, tạo điều kiện điều tiết lượng hàng hố lưu thơng trên thị trường
nhằm ổn định giá cả, phát triển chợ nông thôn. Đầu tư mạnh vào việc phát triển, cải tạo các loại giống có năng suất cao, chất lượng
tốt để cung cấp cho nơng dân có sự hỗ trợ giá từ ngân sách nhà nước. Phát triển và tổ chức lại hệ thống khuyến nông trên cả 4 cấp: trung ương, tỉnh, huyện, xã và hợp tác
xã. Phát triển các doanh nghiệp, các hợp tác xã cổ phần sản xuất nông nghiệp và kinh
doanh dịch vụ ở nông thôn, thông qua đó mà thúc đẩy q trình hình thành các vùng sản xuất hàng hố lớn trong nơng nghiệp, bảo đảm tiêu thụ nông sản và cung ứng vật
tư cho nơng dân. Khuyến khích nơng dân trở thành cổ đơng của các doanh nghiệp và các hợp tác xã cổ phần, là đồng sở hữu các nhà máy chế biến nông sản, bảo đảm thu
nhập của nông dân và cung cấp ổn định nguyên liệu cho công nghiệp chế biến.
15
Hỗ trợ phù hợp với quy tắc WTO Để hội nhập WTO một cách hiệu quả, trước hết, Nhà nước cần có ngay chính sách hỗ
trợ phát triển nơng nghiệp. Hỗ trợ theo lối mới, phù hợp với quy tắc chung của WTO. Cụ thể, Nhà nước cần chăm lo phát triển kết cấu hạ tầng nông nghiệp và nông thôn
như đường sá, điện, thủy lợi, ứng dụng công nghệ mới, cung cấp thông tin thị trường, phát triển nguồn nhân lực...
Một trong những tín hiệu khá lạc quan là đang có nhiều doanh nghiệp lập chương trình tiếp sức cho nông dân. Hệ thống siêu thị bán sỉ Metro đã ký hợp đồng tiêu thụ
sản phẩm của 12 nhà sản xuất nông sản ở TP.HCM. Đây là kết quả từ đơn đặt hàng của UBND TP.HCM trong việc hỗ trợ chương trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nơng
nghiệp thành phố. Cục Bảo vệ thực vật cũng phối hợp với Công ty cổ phần bảo vệ thực vật An Giang AGGPS triển khai chương trình huấn luyện nơng dân sản xuất
rau an tồn theo quy trình sản xuất tốt GAP dành cho nơng dân 22 tỉnh thành phía Nam, nhằm giúp nơng dân nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật để sản xuất rau an
toàn theo tiêu chuẩn quốc tế. Hội Nơng dân VN tổ chức chương trình tơn vinh những sản phẩm nông nghiệp nhằm
tạo cơ hội cho nơng dân nâng cao khả năng cạnh tranh. Trong đó giải thưởng Trâu vàng đất Việt lần đầu tiên được xây dựng trên tất cả các lĩnh vực, sản phẩm phục vụ
cho nông nghiệp được xem là bước tiến lớn trong việc tạo thương hiệu cho nông sản VN.
3.2.2 Đối với doanh nghiệp
Theo lý thuyết của lợi thế sơ sánh, Các Doanh nghiệp Việt Nam nên tập chung vào các ngành có thế mạnh như cà phê, điều, hồ tiêu, chè, gạo...tiếp tục phát huy tác dụng
do khả năng tiếp cận thị trường mở rộng. Tuy nhiên, vấn đề không chỉ nằm ở đó, mà là chúng ta phải chuyển từ sản xuất thô lên chế biến của các doanh nghiệp nội địa có
thương hiệu riêng, tăng giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị toàn cầu. Hiện nay chúng ta đang phải đối mặt lao động dư thừa, ứ đọng trong nông thôn. Giải
quyết vấn đề này bản thân một mình nơng nghiệp khơng làm được, mà đòi hỏi cả khu vực công nghiệp và dịch vụ phát triển để hút lao động ra, tạo thuận lợi cho tích tụ đất
đai, sản xuất hàng hố lúc đó nơng nghiệp mới có thể tăng được năng lực cạnh tranh và có lợi nhuận cao.
16
KẾT LUẬN
Tóm lại, tồn cầu hố là một tất yếu khách quan và Việt Nam không phải là ngoại lệ. Khi VN gia nhập WTO, những lợi ích tiềm năng bao gồm như mở rộng thị trường
cho những mặt hàng xuất khẩu truyền thống như nông nghiệp và thuỷ sản, đồng thời VN có cơ hội tiếp cận cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO giúp tránh được những
xử kiện vô lý như là cá ba sa giữa Việt Nam và Mỹ. Khi là thành viên của WTO, VN sẽ tiếp tục thu hút được đầu tư nước ngồi đồng thời cũng có tiếng nói cùng với 149
nước khác khi WTO thảo luận các quy chế mới của WTO. Tuy nhiên thách thức đối với nông nghiệp và phát triển nông thôn, đặc biệt là đối với xố đói giảm nghèo là rất
lớn. VN vẫn là một nước 69 lực lượng lao động vẫn thuộc lĩnh vực nông nghiệp và 45 dân số sống tại nông thôn sống dưới mức nghèo. Những thách thức lớn như là
mức độ cạnh tranh thấp, hay phải đương đầu với trợ cấp xuất khẩu của các nước giàu, năng lực của VN thực thi các điều khoản cam kết, việc cắt giảm thuế quan và
các trợ cấp nông nghiệp, việc VN không được tiếp cận đối với cơ chế tự vệ đặc biệt cho các sản phẩm chăn nuôi... là những điểm không thể một sớm một chiều giải
quyết được mà cần thời gian và hỗ trợ của các bên để giảm thiểu những rủi ro này. Trong khuôn khổ bài viết này, người viết chỉ mong muốn bày tỏ những hiểu biết một
cách khái quát nhất về tổ chức thương mại thế giới WTO và những thách thức mà hàng nông sản Việt Nam sẽ phải đối mặt khi tham gia từ đó chúng ta có những giải
pháp thích hợp để khắc phục và chủ động hơn khi tham gia vào thị trường toàn cầu này.
17
MỤC LỤC
18

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (18 trang)

×