1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Những chức năng chính của WTO Cơ hội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (405.36 KB, 90 trang )


về thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, các biện pháp đầu tư có liên quan tới thương mại, về thương mại hàng nông sản, hàng dệt may, về cơ chế giải
quyết tranh chấp. Với diện điều tiết của hệ thống thương mại đa biên được mở rộng, nên Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại GATT vốn chỉ là một
sự thỏa thuận có nhiều nội dung ký kết mang tính chất tùy ý đã tỏ ra khơng thích hợp. Do đó, ngày 1541994, tại Marrkesh Maroc, các bên đã kết thúc hiệp
định thành lập Tổ chức thương mại Thế giới WTO nhằm kế tục và phát triển sự nghiệp GATT. WTO chính thức được thành lập độc lập với hệ thống Liên
Hợp Quốc và đi vào hoạt động từ 111995. 1.2.Về cơ cấu tổ chức của WTO
Hiện nay WTO có 150 nước , lãnh thổ thành viên, chiếm 97 thương mại
toàn cầu và khoảng 30 quốc gia khác đang trong quá trình đàm phán gia nhập.Hầu hết các quyết định của WTO đều được thông qua trên cơ sở đồng
thuận. Trong một số trường hợp nhất định, khi khơng đạt được sự nhất trí chung, các thành viên có thể tiến hành bỏ phiếu. Khác với các tổ chức khác, mỗi thành
viên WTO chỉ có quyền bỏ một phiếu và các phiếu bầu của các thành viên có giá trị ngang nhau.
Cơ quan quyền lực cao nhất của WTO là Hội nghị Bộ trưởng, họp ít nhất 2 năm một lần. Dưới Hội nghị Bộ trưởng là Đại hội đồng - thường họp nhiều lần
trong một năm tại trụ sở chính của WTO ở Geneva. Nhiệm vụ chính của Đại hội đồng là giải quyết tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên và rà soát
các chính sách của WTO. Dưới Đại hội đồng là Hội đồng Thương mại hàng hóa, Hội đồng thương mại
dịch vụ và Hội đồng giám sát về các vấn đề liên quan đến quyền Sở hữu trí tuệ TRIPS.

1.3. Những chức năng chính của WTO


- Quản lý các hiệp định về thương mại quốc tế. - Diễn đàn cho các vòng đàm phán thương mại.
- Giải quyết các tranh chấp thương mại.
10
- Giám sát các chính sách thương mại. - Trợ giúp về kỹ thuật và đào tạo cho các nước đang phát triển..
- Hợp tác với các tổ chức quốc tế khác.

1.4. Những nguyên tắc pháp lý của WTO


1.4.1.Nguyên tắc tối huệ quốc MFN Nguyên tắc tối huệ quốc còn gọi là chế độ tối huệ quốc hay chế độ ưu đãi
nhất, là chế độ mà các nước dành cho nhau trong quan hệ kinh tế và buôn bán về thuế quan, mặt hàng trao đổi, vận tải ngoại thương, quyền lợi của các pháp nhân
và thể nhân của nước này trên lãnh thổ của nước kia... theo nguyên tắc không phân biệt đối xử . Nghĩa là khi một nước cam kết cho một nước khác được
hưởng chế độ tối huệ quốc thì phải dành cho nước đó tất cả những ưu đãi mà mình dã và sẽ dành cho nước thứ ba. Để thống nhất quản lý nhà nước về Đối xử
tối huệ quốc và Đối xử quốc gia trên cơ sở bình đẳng trong Thương mại quốc tế,
ngày 2552002 Nhà nước ta đã ban hành pháp lệnh về đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia trong thương mại quốc tế.
Theo luật pháp thương mại quốc tế thì đây là một nguyên tắc điều chỉnh các mối quan hệ thương mại và kinh tế giữa các nước trên cơ sở hiệp định, hiệp ước
giữa các nước một cách bình đẳng, có đi có lại, hai bên cùng có lợi. Tuy nhiên, mục tiêu chủ yếu của chế độ tối huệ quốc là không phải cho nhau hưởng các đặc
quyền mà là nguyên tắc đảm bảo sự bình đẳng giữa các quốc gia có chủ quyền về các cơ hội giao dịch thương mại và kinh tế với mục đích thúc đẩy quan hệ
bn bán giữa các nước phụ thuộc vào mức độ thân thiện giữa các nước với nhau.
Hiện nay, nguyên tắc tối huệ quốc được các nước trên thế giới áp dụng theo hai cách khác nhau hay còn gọi là có hai loại chế độ tối huệ quốc, tuỳ thuộc vào
lợi ích kinh tế của từng nước : Chế độ tối huệ quốc vô điều kiện, Chế độ tối huệ quốc có điều kiện
1.4.2. Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia NF
Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia hay còn gọi là nguyên tắc ngang bằng dân tộc là chế độ có đi có lại được quy định cụ thể trong các hiệp định thương mại giữa hai
nước. Trong đó, các cơng dân và pháp nhân của hai nước tham gia trong quan hệ kinh tế, thương mại sinh sống trên lãnh thổ của nhau được hưởng quyền lợi
và nghĩa vụ như nhau trừ quyền bầu cử, ứng cử và tham gia nghĩa vụ quân sự . Nói cách khác, đây là chế độ mà một nước dành cho công dân và pháp
nhân của nước ngoài trên lãnh thổ của nước mình được đối xử ngang bằng như đối xử với công dân và pháp nhân của nước sở tại về mọi quyền lợi và nghĩa vụ,
trừ quyền bầu cử và ứng cử và nghĩa vụ quân sự. Chẳng hạn, mọi công dân và pháp nhân của nước A sinh sống, đặt trụ sở ở nước B thì được hưởng quyền lợi
và nghĩa vụ như công dân nước B và ngược lại. Nguyên tắc này đang có xu hướng áp dụng giữa các nước có cùng trình độ kinh tế phát triển như nhau.
1.4.3. Nguyên tắc mở cửa thị trường Thực chất đây là nguyên tắc tiếp cận thị trường. Các quốc gia đều mở cửa thi
trường cho hàng hoá, dịch vụ nước ngoài tràn vào, đặc biệt là thu hút vốn đầu tư nước ngoài để phát triển kinh tế trong nước. Hay nói cách khác là thực hiện tự
do hoá thương mại. Để thực hiện được nguyên tắc này các quốc gia cần phải có một hệ thống pháp luật hồn chỉnh, thống nhất, đồng bộ, có các cơ chế, chính
sách tạo mơi trường cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp, các đối tượng tham gia vào nền kinh tế. Có như vậy mới đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp
của các bên, mới thực sự tạo đà phát triển cho tất cả các bên. 1.4.4. Nguyên tắc cạnh tranh công bằng
Theo nguyên tắc này, các nước thực hiện cạnh tranh tự do trong những điều kiện bình đẳng như nhau. Khi đã tham gia vào cùng một sân chơi các bên cần
phải tuân thủ các ngun tắc đã đề ra. Nó được cơng nhận là án lệ của vụ án Uruguay kiện 15 nước phát triển năm 1962 về việc áp dụng các mức thuế
khác nhau đối với cùng một mặt hàng nhập khẩu.
1.5. Những lợi ích của Tổ chức Thương mại thế giới 1.5.1. WTO giúp gìn giữ hồ bình
12
Hồ bình-một thành quả của hai nguyên tắc cơ bản nhất của hệ thống thương mại: giúp thương mại được diễn ra một cách thuận lợi và đưa đến cho các nước
một lối thốt bình đẳng và mang tính xây dựng để giải quyết những bất đồng về các vấn đề thương mại. Đó cũng là một kết quả của sự hợp tác và lòng tin quốc
tế do WTO tạo ra và duy trì. Những cuộc chiến tranh trong lịch sử đã xảy ra một phần bắt nguồn từ những
tranh chấp thương mại. Một trong những ví dụ điển hình nhất là cuộc chiến tranh thương mại những năm 1930, khi các nước cạnh tranh với nhau nhằm tăng
thêm các hàng rào mậu dịch để bảo vệ các nhà sản xuất trong nước và để trả đũa rào cản của các nước khác. Điều này càng làm cho cuộc đại suy thoái thêm tồi tệ
và cuối cùng góp phần làm bùng nổ Chiến tranh Thế giới thứ 2. Sau chiến tranh thế giới thứ 2, nhờ có hai bước phát triển mới mà thế giới đã
tránh được nhiều tranh chấp trong thương mại. Thứ nhất, ở châu Âu, hợp tác quốc tế phát triển trong các ngành công nghiệp than, sắt và thép. Thứ hai, trên
phạm vi toàn cầu, Hiệp định chung về thương mại và thuế quan GATT đã hình thành. Cả hai bước phát triển trên đều tỏ ra thành công và hiện nay chúng được
mở rộng rất mạnh - một trở thành Liên minh châu Âu và một trở thành Tổ chức Thương mại Thế giới.
Các cuộc chiến tranh thương mại những năm 1930 là bằng chứng cho thấy rằng chủ nghĩa bảo hộ có thể dễ dàng đẩy các nước vào một tình thế trong đó
khơng có kể thắng mà chỉ toàn người thua. Quan điểm bảo hộ thiển cận cho rằng việc bảo vệ một số khu vực nhất định chống lại hàng nhập khẩu là rất có lợi.
Những quan điểm này lại lờ đi chuyện các nước khác sẽ phản ứng như thế nào. Thực tế cho thấy rằng một bước bảo hộ của một quốc gia có thể dễ dàng dẫn đến
hành động trả đũa từ các quốc gia khác, dẫn đến mất mát niềm tin vào thương mại tự do hơn và làm cho tất cả, bao gồm cả các khu vực được bảo hộ ngay từ
đầu sa vào rắc rối kinh tế nghiêm trọng. Khi các chính phủ đều tin tưởng rằng các nước khác sẽ không tăng cường các
hàng rào mậu dịch thì chính họ cũng sẽ khơng có ý định làm như vậy. Hệ thống
thương mại WTO đóng vai trò sống còn trong việc tạo ra và củng cố niềm tin đó. Đặc biệt quan trọng là những cuộc thương lượng đưa đến những thoả thuận
trên cơ sở nhất trí ý kiến và tập trung vào việc tuân thủ các nguyên tắc.

1.5.2. WTO giải quyết các tranh chấp Thương mại một cách xây dựng


Do thương mại tăng lên về khối lượng, số lượng sản phẩm được trao đổi, và số lượng các nước và công ty tham gia thương mại, nên có thêm nhiều cơ hội để
những tranh chấp thương mại nảy sinh. Hệ thống WTO giúp giải quyết các tranh chấp này một cách hồ bình và mang tính xây dựng.
Nếu để mặc chúng thì những tranh chấp này có thể dẫn đến những xung đột nghiêm trọng. Một trong những nguyên tắc của WTO là các thành viên có nghĩa
vụ phải đưa những tranh chấp của mình tới WTO và không được đơn phương giải quyết. Khi họ đưa các tranh chấp ra giải quyết tại WTO, thủ tục giải quyết
của WTO là tập trung chú ý của họ vào các nguyên tắc. Một khi nguyên tắc được thiết lập, các nước phải chú trọng nỗ lực tuân thủ nguyên tắc, và có lẽ sau
đó tái thương lượng về các nguyên tắc - chứ không phải là tuyên chiến với nhau. Theo thống kê, gần 200 tranh chấp đã được đưa ra giải quyết ở WTO kể từ khi
tổ chức này thành lập. Nếu thiếu một phương tiện giải quyết các tranh chấp này một cách xây dựng và đồng bộ, một số tranh chấp đã có thể dẫn đến những cuộc
xung đột chính trị nghiêm trọng hơn.
1.5.3. WTO-một hệ thống dựa trên những nguyên tắc-giúp cho thương mại thuận lợi, hiệu quả hơn
WTO không tuyên bố sẽ làm cho tất cả các nước đều bình đẳng. Nhưng WTO thực sự làm giảm bớt một số bất bình đẳng, giúp các nước nhỏ hơn có nhiều
tiếng nói hơn. Đồng thời, hệ thống này cũng giải thoát cho các nước lớn khỏi sự phức tạp trong việc thoả thuận các hiệp định thương mại với các đối tác của
mình. Các quyết định và hiệp định của WTO được thực hiện bằng nhất trí ý kiến.
Các nước giàu cũng như nước nghèo đều có thể bị chất vấn nếu họ vi phạm một hiệp ước, và họ có quyền chất vấn các nước khác trong quy trình giải quyết
14
tranh chấp của WTO. Thiếu một cơ chế đa phương kiểu hệ thống WTO, các nước mạnh hơn sẽ càng được tự do đơn phương áp đặt ý muốn của mình cho các
nước yếu hơn. Các nước lớn hơn cũng được hưởng những lợi ích tương xứng. Các cường quốc kinh tế có thể sử dụng diễn đàn duy nhất của WTO để thương
lượng với tất cả hay với hầu hết các đối tác thương mại của họ cùng một lúc. Trên thực tế, WTO có riêng một hệ thống nguyên tắc áp dụng với tất cả các
nước thành viên, làm đơn giản hố rất nhiều tồn bộ cơ chế thương mại.Thương mại cho phép thực hiện phân công lao động giữa các nước. Nó cho phép sử dụng
một cách phù hợp và hiệu quả các nguồn lực vào sản xuất. Nhưng hệ thống thương mại WTO còn đem lại nhiều lợi thế hơn nữa. Nó giúp làm tăng hiệu quả
và thậm chí còn giảm bớt chi phí nhiều hơn bởi những ngun tắc quan trọng được thiết lập trong hệ thống.
Không phân biệt đối xử chỉ là một trong những nguyên tắc của hệ thống thương mại WTO. Những nguyên tắc khác gồm có:
- Minh bạch. Thơng tin rõ rằng về các chính sách, nguyên tắc và quy định. - Tin chắc vào các điều kiện thương mại. Những cam kết cắt giảm các hàng
rào thương mại và làm tăng khả năng tiếp cận các thị trường của một số nước cho các nước khác có sự ràng buộc pháp lý.
- Đơn giản hoá và chuẩn hoá các thủ tục hải quan, xố bỏ tình trạng quan liêu, tập trung hố cơ sở dữ liệu thông tin và các biện pháp khác được thiết lập
nhằm đơn giản hoá thương mại theo phương châm kích thích thương mại. Tất cả những nguyên tắc này làm cho thương mại đơn giản hơn, giảm bớt phí
tổn cho các cơng ty, tăng niềm tin vào tương lai. Điều đó cũng có nghĩa là có nhiều việc làm hơn, người tiêu dùng có hàng hố và dịch vụ tốt hơn.

1.5.4. WTO giúp thương mại tự do hơn, giảm chi phí cuộc sống


Hệ thống tồn cầu WTO đã giảm bớt các hàng rào mậu dịch thông qua thương lượng và áp dụng nguyên tắc không phân biệt đối xử. Kết quả là chi phí
sản xuất giảm, giá hàng hoá thành phẩm và dịch vụ giảm và cuối cùng là chi phí cuộc sống thấp hơn.
Cho đến nay, các hàng rào mậu dịch đã giảm đi rất nhiều so với trước đây. Các hàng rào này còn tiếp tục được giảm và tất cả chúng ta đều có lợi.
1.5.5. Người tiêu dùng được tăng sự lựa chọn cả về số lượng và chất lượng hàng hoá-dịch vụ
Do nhu cầu tiêu dùng ngày một tăng cả về số lượng và chất lượng nên việc sản xuất trong nước không thể đáp ứng được tất cả nhu cầu cuộc sống con
người. Nhập khẩu cho phép chúng ta có nhiều lựa chọn hơn - cả số lường hàng hoá và dịch vụ lẫn phạm vi chất lượng. Thậm chí chất lượng của hàng sản xuất
nội địa có thể nâng lên do chính sự cạnh tranh từ hàng nhập khẩu. Nhiều lựa chọn hơn không đơn giản là vấn đề người tiêu dùng mua hàng thành phẩm của
nước ngoài. Hàng nhập khẩu còn được sử dụng làm nguyên liệu, linh kiện và thiết bị cho sản xuất trong nước.
Chính điều này mở rộng phạm vi của các thành phẩm và dịch vụ do các nhà sản xuất trong nước làm và làm tăng phạm vi những cơng nghệ mà họ có thể sử
dụng. Nhiều khi, sự thành công của một sản phẩm hay dịch vụ nhập khẩu tại thị trường trong nước cũng có thể khuyến khích các nhà sản xuất trong nước cạnh
tranh, làm gia tăng lựa chọn nhãn hàng hoá sẵn có cho người tiêu dùng cũng như tăng phạm vi hàng hoá và dịch vụ sản xuất trong nước. Nếu thương mại cho hép
chung ta nhập khẩu nhiều hơn, nó cũng cho phép những người khác mua nhiều hàng sản xuất của chúng ta hơn. Nó làm tăng thu nhập của chúng ta, cung cấp
cho cũng ta những phương tiện để hưởng sự lựa chọn gia tăng đó.

1.5.6. Giảm bớt hàng rào thương mại, làm tăng thu nhập


Giảm bớt hàng rào thương mại cho phép thương mại tăng trưởng, điều này làm tăng thu nhập - cả thu nhập quốc dân và thu nhập cá nhân. Theo dự tính của
các chuyên gia của WTO về tác động của các thoả thuận thương mại tại vòng đàm phán Uruguay 1994 là thu nhập của thế giới có thêm từ 109 tỷ USD đến
510 tỷ USD. Thương mại cũng làm nảy sinh những thách thức khi các nhà sản xuất trong
nước phải đối mặt với sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu. Tuy nhiên, thực tế cho
16
thấy rằng, có nguồn thu nhập bổ sung có nghĩa là sẵn có nhiều nguồn lực để các chính phủ và doanh nghiệp tái phân phối lợi nhuận từ những người được lợi
nhiều nhất giúp các cơng ty và cơng nhân thích ứng bằng cách trở nên năng suất và có khả năng cạnh tranh hơn trong lĩnh vực mà họ đã và đang làm hoặc
bằng cách chuyển sang các hoạt động mới.

1.5.7. Giúp đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế và có thể làm giảm thất nghiệp


Trên thực tế đã có những bằng chứng cho thấy rằng, việc giảm các rào cản thương mại là điều kiện tốt cho công ăn việc làm. Mặc dù khá phức tạp và phụ
thuộc vào nhiều yếu tố song bảo hộ cũng không phải là cách để giải quyết các vấn đề việc làm.
Thương mại phát triển, việc áp dụng tiến bộ cơng nghệ cũng có tác động mạnh đến việc làm và năng suất lao động, làm lợi cho một số loại công việc.
Mặc dù, thương mại rõ ràng là làm tăng thu nhập quốc dân và sự thịnh vượng, nhưng điều này không phải luôn được hiểu là tạo ra công ăn việc làm mới cho
những người bị mất việc do sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu. Có nhiều tình huống cho thấy rằng cơ hội đã được nắm bắt - đó là những
trường hợp thương mại tự do hơn có lợi cho việc làm. Theo tính tốn của Uỷ ban EU, việc thiết lập thị trường duy nhất của nó có nghĩa là có thêm khoảng từ
300.000 đến 900.000 việc làm nữa so với lúc khơng có thị trường duy nhất. Thực tế cũng cho thấy, chế độ bảo hộ đã làm hại công ăn việc làm như thế nào.
Ví dụ điển hình là ngành công nghiệp xe hơi của Mỹ. Các hàng rào mậu dịch được thiết lập để bảo vệ việc làm ở nước này bằng cách hạn chế nhập khẩu từ
Nhật Bản lại dẫn đến việc làm cho xe hơi ở Mỹ đắt thêm, lượng xe hơi vì thế được bán ít đi và việc làm giảm.

1.5.8. Hệ thống WTO khuyến khích chính phủ hoạt động tốt


Theo các nguyên tắc của WTO, khi đã có cam kết tự do hố một khu vực thương mại nào đó, thì khó có thể đảo ngược được. Các ngun tắc cũng khơng
khuyến khích những chính sách thiếu thận trọng. Đối với giới kinh doanh, điều
này có nghĩa là độ chắc chắn cao hơn và rõ ràng hơn về các điều kiện thương mại. Đối với các chính phủ, điều này thường đồng nghĩa với kỷ luật tốt.
Một loại rào cản thương mại mà các nguyên tắc của WTO cố gắng giải quyết là hạn ngạch. Do hạn ngạch hạn chế cung nên đẩy giá cả tăng lên một cách giả
tạo, đồng thời tạo ra một số lợi nhuận lớn khác thường. Các nhà kinh tế gọi đó là thuế hạn ngạch. Lợi nhuận này có thể được dùng để gây ảnh hưởng đối với
các chính sách, vì cũng có nhiều tiền hơn để thực hiện các cuộc vận động ngồi hành lang. Nói cách khác, hạn ngạch là một biện pháp hạn chế thương mại đặc
biệt tồi tệ. Thông qua các nguyên tắc của WTO các chính phủ đã nhất trí rằng họ khơng khuyến khích sử dụng hạn ngạch.Tuy nhiên, nhiều loại hạn ngạch khác
nhau vẫn được áp dụng ở hầu hết các nước và nhiều chính phủ lập luận rằng hạn ngạch rất cần thiết. Song họ bị các hiệp định của WTO ràng buộc và có những
cam kết giảm bớt hay loại bỏ nhiều loại hạn ngạch, đặc biệt là đối với ngành dệt. Bên cạnh đó, nhiều lĩnh vực khác của các hiệp định WTO cũng có thể giúp
giảm bớt tệ tham nhũng và chính phủ xấu xa. Sự minh bạch, các tiêu chí rõ ràng hơn về các quy định đối với sự an toàn và chuẩn mực của sản phẩm, và sự
không phân biệt đối xử cũng giúp giảm bớt tình trạng gian dối và việc ra quyết
định mang tính độc đốn. 2 Những cơ hội và thách thức của Việt Nam khi gia nhập WTO

2.1. Cơ hội


Tham gia vào Tổ chức thương mại thế giới, nước ta đứng trước những cơ hội lớn như sau:
Một là: Được tiếp cận thị trường hàng hoá và dịch vụ ở tất cả các nước thành viên với mức thuế nhập khẩu đã được cắt giảm và các ngành dịch vụ mà các
nước mở cửa theo các Nghị định thư gia nhập của các nước này, không bị phân biệt đối xử. Điều đó, tạo điều kiện cho chúng ta mở rộng thị trường xuất khẩu và
trong tương lai - với sự lớn mạnh của doanh nghiệp và nền kinh tế nước ta - mở rộng kinh doanh dịch vụ ra ngoài biên giới quốc gia. Với một nền kinh tế có độ
18
mở lớn như nền kinh tế nước ta, kim ngạch xuất khẩu ln chiếm trên 60 GDP thì điều này là đặc biệt quan trọng, là yếu tố bảo đảm tăng trưởng.
Mối lợi lớn nhất là các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sẽ khơng còn bị phân biệt đối xử. Bình đẳng bước vào thị trường với 149 nước thành viên khác,
sẽ được quyền sử dụng các cơ chế giải quyết của WTO khi có sự tranh chấp thương mại với các quốc gia thành viên khác. Hàng xuất khẩu của Việt Nam sẽ
được bảo vệ trong các cuộc tranh chấp. Việt Nam có thể cùng với các quốc gia đang phát triển khác gây áp lực để
được giúp đỡ hay cứu xét đặc biệt trong việc áp dụng luật lệ của WTO. Điều này sẽ giúp Việt Nam thêm sức mạnh và điều kiện tốt để cạnh tranh với thế giới. Qui
chế thành viên WTO sẽ khiến thị trường Việt Nam được nhìn ở một góc độ khác.
Thị trường Việt Nam sẽ hấp dẫn hơn với giới đầu tư nước ngoài đã quen thuộc với cung cách làm việc của WTO. Họ sẽ đem đến những công nghệ tiên
tiến, những thói quen kinh doanh tốt hơn. Những điều này sẽ giúp gia tăng mức sản xuất tại Việt Nam, phát triển thị trường nội địa, tạo công ăn việc làm cho dân
chúng. Thị trường nội địa phát triển sẽ cho người tiêu dùng có nhiều chọn lựa hơn về chất lượng sản phẩm và dịch vụ không có được trước đó
Hai là: Với việc hồn thiện hệ thống pháp luật kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện công khai minh bạch các thiết chế
quản lý theo quy định của WTO, môi trường kinh doanh của nước ta ngày càng được cải thiện. Đây là tiền đề rất quan trọng để không những phát huy tiềm năng
của các thành phần kinh tế trong nước mà còn thu hút mạnh đầu tư nước ngồi, qua đó tiếp nhận vốn, cơng nghệ sản xuất và công nghệ quản lý, thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra công ăn việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động, thực hiện cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước, bảo đảm tốc độ tăng
trưởng và rút ngắn khoảng cách phát triển.
Thực tế trong những năm qua đã chỉ rõ, cùng với phát huy nội lực, đầu tư nước ngồi có vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước ta và xu thế này ngày
càng nổi trội: năm 2006, đầu tư nước ngồi chiếm 37 giá trị sản xuất cơng nghiệp, gần 56 kim ngạch xuất khẩu và 15,5 GDP, thu hút hơn một triệu lao
động trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi. Ba là: Gia nhập WTO chúng ta có được vị thế bình đẳng như các thành viên
khác trong việc hoạch định chính sách thương mại tồn cầu, có cơ hội để đấu tranh nhằm thiết lập một trật tự kinh tế mới cơng bằng hơn, hợp lý hơn, có điều
kiện để bảo vệ lợi ích của đất nước, của doanh nghiệp. Đương nhiên kết quả đấu tranh còn tuỳ thuộc vào thế và lực của ta, vào khả năng tập hợp lực lượng và
năng lực quản lý điều hành của ta. Bốn là: Mặc dầu chủ trương của chúng ta là chủ động đổi mới, cải cách thể
chế kinh tế ở trong nước để phát huy nội lực và hội nhập với bên ngồi nhưng chính việc gia nhập WTO, hội nhập vào nền kinh tế thế giới cũng thúc đẩy tiến
trình cải cách trong nước, bảo đảm cho tiến trình cải cách của ta đồng bộ hơn, có hiệu quả hơn.
Năm là: Cùng với những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử sau 20 năm đổi mới, việc gia nhập WTO sẽ nâng cao vị thế của ta trên trường quốc tế, tạo điều
kiện cho ta triển khai có hiệu quả đường lối đối ngoại theo phương châm: Việt Nam mong muốn là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng thế giới
vì hồ bình, hợp tác và phát triển.
2.2. Thách thức Trong khi nhận thức rõ những cơ hội có được do việc gia nhập WTO mang
lại, cần phải thấy hết những thách thức mà chúng ta phải đối đầu, nhất là trong điều kiện nước ta là một nước đang phát triển ở trình độ thấp, quản lý nhà nước
còn nhiều yếu kém và bất cập, doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân còn nhỏ bé. Những thách thức này bắt nguồn từ sự chênh lệch giữa năng lực nội sinh của đất
20
nước với yêu cầu hội nhập, từ những tác động tiêu cực tiềm tàng của chính q trình hội nhập. Những thách thức này gồm:
Một là: Cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn, với nhiều “đối thủ” hơn, trên bình diện rộng hơn, sâu hơn. Đây là sự cạnh tranh giữa sản phẩm của ta với sản phẩm
các nước, giữa doanh nghiệp nước ta với doanh nghiệp các nước, không chỉ trên thị trường thế giới và ngay trên thị trường nước ta do thuế nhập khẩu phải cắt
giảm từ mức trung bình 17,4 hiện nay xuống mức trung bình 13,4 trong vòng 3 đến 5 năm tới, nhiều mặt hàng còn giảm mạnh hơn. Cạnh tranh khơng
chỉ diễn ra ở cấp độ sản phẩm với sản phẩm, doanh nghiệp với doanh nghiệp. Cạnh tranh còn diễn ra giữa nhà nước và nhà nước trong việc hoạch định chính
sách quản lý và chiến lược phát triển nhằm phát huy nội lực và thu hút đầu tư từ bên ngoài. Chiến lược phát triển có phát huy được lợi thế so sánh hay khơng, có
thể hiện được khả năng “phản ánh vượt trước” trong một thế giới biến đổi nhanh chóng hay khơng. Chính sách quản lý có tạo được chi phí giao dịch xã hội thấp
nhất cho sản xuất kinh doanh hay khơng, có tạo dựng được mơi trường kinh doanh, đầu tư thơng thống, thuận lợi hay khơng v.v… Tổng hợp các yếu tố
cạnh tranh trên đây sẽ tạo nên sức cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế, sức cạnh tranh quốc gia.
-Các nhà máy Việt Nam có chất lượng thấp, kỹ thuật lạc hậu, giá thành cao, hệ thống phân phối kém, thiếu hiểu biết về hệ thống pháp luật. Khi trở thành
thành viên WTO, ngay lúc đầu giới kinh doanh Việt Nam sẽ mất thị trường và phải bước vào đoạn điều chỉnh cấp thời.
-Rất nhiều doanh gia Việt Nam không am tường luật lệ và thủ tục mới của
WTO. Những luật lệ và thủ tục hiện hành của WTO còn thay đổi nhiều. Trong bước đầu hội nhập WTO, giới kinh doanh Việt Nam gặp phải những cạnh tranh
rất gay gắt vì giới quản lý cũng như nhân viên phải cấp kỳ lãnh hội cách làm ăn mới để thích hợp với thương trường WTO. Nhiều nguy cơ thua đậm trong
những vụ tranh chấp pháp lý.
-Sự thay đổi trong luật lệ kinh doanh là thử thách lớn cho khu vực dịch vụ Việt Nam, khơng có vốn, khơng có cơng nghệ, và cũng chẳng có kinh nghiệm so
với các đối thủ quốc tế. Hệ thống phân phối hàng hóa trong nội địa của Việt Nam sẽ gặp phải những cạnh tranh mãnh liệt của những cơng ty nước ngồi.
-Tất cả những xí nghiệp nội địa phải cạnh tranh ở mức cao hơn. Các xí nghiệp này phải tự chỉnh đốn để sản xuất hàng chất lượng và có dịch vụ tốt hơn,
hay phá sản. Những khu vực yếu kém trong cạnh tranh như dịch vụ, sản xuất sắt thép, lắp ráp xe hơi và nông nghiệp sẽ bị đe dọa trầm trọng.
-Khu vực trước đây thuộc độc quyền kinh doanh của nhà nước như điện lực, viễn thông, sẽ bị áp lực nặng nề để mở cửa cho tư doanh. Nhiều công ty Việt
Nam có khả năng bị cơng ty ngoại quốc nuốt chửng. -Sự phá sản của công ty nội địa làm tăng nạn thất nghiệp và gây bất ổn định
trong xã hội. Mặt khác, ngay cả nguồn vốn đầu tư nước ngoài có khả năng, trong vài trường hợp, đưa đến tình trạng tài chính bất ổn định.
-Sự thay đổi quá nhanh của nền kinh tế sẽ tiếp tục làm môi trường bị xuống cấp.
Hai là: Trên thế giới sự “phân phối” lợi ích của tồn cầu hố là khơng đồng đều. Những nước có nền kinh tế phát triển thấp được hưởng lợi ít hơn. Ở mỗi
quốc gia, sự “phân phối” lợi ích cũng khơng đồng đều. Một bộ phận dân cư được hưởng lợi ít hơn, thậm chí còn bị tác động tiêu cực của tồn cầu hố; nguy
cơ phá sản một bộ phận doanh nghiệp và nguy cơ thất nghiệp sẽ tăng lên, phân hoá giàu nghèo sẽ mạnh hơn. Điều đó đòi hỏi phải có chính sách phúc lợi và an
sinh xã hội đúng đắn; phải quán triệt và thực hiện thật tốt chủ trương của Đảng: “Tăng trưởng kinh tế đi đơi với xố đói, giảm nghèo, thực hiện tiến bộ và công
bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển”. Ba là: Hội nhập kinh tế quốc tế trong một thế giới tồn cầu hố, tính tuỳ
thuộc lẫn nhau giữa các nước sẽ tăng lên. Sự biến động trên thị trường các nước sẽ tác động mạnh đến thị trường trong nước, đòi hỏi chúng ta phải có chính sách
22
kinh tế vĩ mơ đúng đắn, có năng lực dự báo và phân tích tình hình, cơ chế quản lý phải tạo cơ sở để nền kinh tế có khả năng phản ứng tích cực, hạn chế được
ảnh hưởng tiêu cực trước những biến động trên thị trường thế giới. Trong điều kiện tiềm lực đất nước có hạn, hệ thống pháp luật chưa hồn thiện, kinh nghiệm
vận hành nền kinh tế thị trường chưa nhiều thì đây là khó khăn khơng nhỏ, đòi hỏi chúng ta phải phấn đấu vươn lên mạnh mẽ, với lòng tự hào và trách nhiệm
rất cao trước quốc gia, trước dân tộc. Bốn là: Hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra những vấn đề mới trong việc bảo vệ
môi trường, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá và truyền thống tốt đẹp của dân tộc, chống lại lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền.
Như vậy, gia nhập Tổ chức thương mại thế giới, hội nhập kinh tế quốc tế vừa có cơ hội lớn, vừa phải đối đầu với thách thức không nhỏ. Cơ hội tự nó khơng
biến thành lực lượng vật chất trên thị trường mà tuỳ thuộc vào khả năng tận dụng cơ hội của chúng ta. Thách thức tuy là sức ép trực tiếp nhưng tác động của
nó đến đâu còn tuỳ thuộc vào nỗ lực vươn lên của chúng ta. Cơ hội và thách thức không phải “nhất thành bất biến” mà ln vận động, chuyển hố và thách
thức đối với ngành này có thể là cơ hội cho ngành khác phát triển. Tận dụng được cơ hội sẽ tạo ra thế và lực mới để vượt qua và đẩy lùi thách thức, tạo ra cơ
hội mới lớn hơn. Ngược lại, không tận dụng được cơ hội, thách thức sẽ lấn át, cơ hội sẽ mất đi, thách thức sẽ chuyển thành những khó khăn dài hạn rất khó khắc
phục. Ở đây, nhân tố chủ quan, nội lực của đất nước, tinh thần tự lực tự cường của toàn dân tộc là quyết định nhất.
Với thành tựu to lớn sau hơn 20 năm đổi mới, quá trình chuyển biến tích cực trong cạnh tranh và hội nhập kinh tế những năm vừa qua, cùng với kinh nghiệm
và kết quả của nhiều nước gia nhập Tổ chức thương mại thế giới trước ta, cho chúng ta niềm tin vững chắc rằng: Chúng ta hồn tồn có thể tận dụng cơ hội,
vượt qua thách thức. Có thể có một số doanh nghiệp khó khăn, thậm chí lâm vào cảnh phá sản nhưng phần lớn các doanh nghiệp sẽ trụ vững và vươn lên, nhiều
doanh nghiệp mới sẽ tham gia thị trường và toàn bộ nền kinh tế sẽ phát triển theo mục tiêu và định hướng của chúng ta.
III MỘT SỐ CAM KẾT CỦA VIỆT NAM VỚI WTO 1 Nội dung chủ yếu của toàn văn cam kết của Việt Nam với WTO
Cam kết đa phương
Kết quả mà Việt Nam đàm phán được là trong khoảng thời gian 12 năm không muộn hơn 31122018 WTO chấp nhận coi Việt Nam là nền kinh tế phi
thị trường. Tuy nhiên, trước thời điểm trên, nếu Việt Nam chứng minh được với đối tác nào là kinh tế Việt Nam hoàn toàn hoạt động theo cơ chế thị trường thì
đối tác đó sẽ ngừng áp dụng chế độ phi thị trường đối với Việt Nam. Chế độ phi thị trường này chỉ có ý nghĩa trong các vụ kiện chống bán phá giá. Các
thành viên WTO khơng có quyền áp dụng cơ chế tự vệ đặc thù đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam, dù Việt Nam bị coi là nền kinh tế phi thị trường.
Về dệt may, các thành viên WTO sẽ không được áp dụng hạn ngạch dệt may đối với Việt Nam khi Việt Nam vào WTO. Riêng trường hợp Việt Nam vi phạm
quy định WTO về trợ cấp bị cấm đối với hàng dệt may thì sẽ được xem xét, xử lý theo quy định của WTO.
Về trợ cấp phi nơng nghiệp, Việt Nam đồng ý bãi bỏ hồn toàn các loại trợ cấp bị cấm theo quy định WTO như trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nội địa hóa.
Tuy nhiên với các ưu đãi đầu tư dành cho sản xuất hàng xuất khẩu đã cấp trước ngày gia nhập WTO, Việt Nam được bảo lưu thời gian quá độ là 5 năm, trừ
ngành dệt may. Về trợ cấp nông nghiệp, Việt Nam cam kết không áp dụng trợ cấp xuất khẩu
đối với nông sản từ thời điểm gia nhập. Tuy nhiên ta bảo lưu quyền được hưởng một số quy định riêng của WTO dành cho nước đang phát triển trong lĩnh vực
này. Đối với các loại hỗ trợ mà WTO quy định phải cắt giảm, nhìn chung Việt Nam duy trì được ở mức khơng q 10 giá trị sản lượng. Ngồi mức này, Việt
Nam còn bảo lưu thêm một số khoản hỗ trợ nữa vào khoảng 4.000 tỷ đồng mỗi
24
năm. Các loại trợ cấp mang tính khuyến nơng như hỗ trợ thủy lợi là trợ cấp xanh, được WTO cho phép nên ta được áp dụng không hạn chế.
Về quyền kinh doanh bao gồm quyền xuất, nhập khẩu hàng hóa, tuân thủ quy định WTO, Việt Nam đồng ý cho doanh nghiệp và cá nhân nước ngồi được
quyền xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa như doanh nghiệp và cá nhân người Việt Nam kể từ khi gia nhập, trừ đối với các mặt hàng thuộc danh mục thương
mại nhà nước như: xăng dầu, thuốc lá điếu, xì gà, băng đĩa hình, báo, tạp chí và một số mặt hàng nhạy cảm khác mà Việt Nam chỉ cho phép sau một thời gian
chuyển đổi như gạo và dược phẩm. Việt Nam đồng ý cho phép doanh nghiệp và cá nhân nước ngồi khơng có
hiện diện tại Việt Nam được đăng ký quyền xuất nhập khẩu tại Việt Nam. Quyền xuất nhập khẩu chỉ là quyền đứng tên trên tờ khai hải quan để làm thủ tục xuất
nhập khẩu. Trong mọi trường hợp, doanh nghiệp và cá nhân nước ngồi sẽ khơng được tự động tham gia vào hệ thống phân phối trong nước. Các cam kết
về quyền kinh doanh sẽ không ảnh hưởng đến quyền của Việt Nam trong việc đưa ra các quy định để quản lý dịch vụ phân phối, đặc biệt đối với sản phẩm
nhạy cảm như dược phẩm, xăng dầu, báo, tạp chí... Về thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu và bia, các thành viên WTO đồng ý cho
Việt Nam thời gian chuyển đổi không quá 3 năm để điều chỉnh lại thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu và bia cho phù hợp với quy định WTO. Hướng sửa đổi là:
đối với rượu trên 20 độ cồn, Việt Nam hoặc sẽ áp dụng một mức thuế tuyệt đối hoặc một mức thuế phần trăm; đối với bia, Việt Nam sẽ chỉ áp dụng một mức
thuế phần trăm. Về doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp thương mại Nhà nước, cam kết của
Việt Nam trong lĩnh vực này là Nhà nước sẽ không can thiệp trực tiếp hay gián tiếp vào hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước. Tuy nhiên, Nhà nước với tư
cách là một cổ đơng được can thiệp bình đẳng vào hoạt động của doanh nghiệp
như các cổ đông khác. Việt Nam cũng đồng ý không coi mua sắm của doanh nghiệp Nhà nước là mua sắm Chính phủ.
Tỷ lệ cổ phần thơng qua quyết định tại doanh nghiệp: Điều 52 và 104 của Luật doanh nghiệp quy định một số vấn đề quan trọng có liên quan đến hoạt
động của cơng ty TNHH và công ty cổ phần chỉ được phép thông qua khi có số phiếu đại diện ít nhất làng 65 hoặc 75 vốn góp chấp thuận. Quy định này có
thể vơ hiệu hóa quyền của bên góp đa số vốn trong liên doanh. Do vậy, Việt Nam đã xử lý theo hướng cho phép các bên tham gia liên doanh được thỏa thuận
vấn đề này trong điều lệ công ty. Về một số biện pháp hạn chế nhập khẩu, Việt Nam đồng ý cho nhập khẩu xe
máy phân phối lớn không muộn hơn ngày 3152007. Tuy nhiên, Việt Nam bảo lưu quyền áp dụng các biện pháp như quy định độ tuổi người sử dụng và đưa ra
chế độ cấp bằng lái đặc biệt. Với thuốc lá điếu và xì gà, Việt Nam đồng ý bỏ biện pháp cấm nhập khẩu từ thời điểm gia nhập. Tuy nhiên, sẽ chỉ có một doanh
nghiệp Nhà nước được quyền nhập khẩu tồn bộ thuốc lá điếu và xì gà. Mức thuế nhập khẩu mà Việt Nam đàm phán được cho hai mặt hàng này là rất cao.
Với ô tô cũ, Việt Nam cho phép nhập khẩu các loại xe đã qua sử dụng không quá 5 năm nhưng bảo lưu quyền áp dụng thuế nhập khẩu cao và nhiều biện pháp
quản lý kỹ thuật chặt chẽ khác. Về yêu cầu minh bạch hóa, Việt Nam cam kết ngay từ khi gia nhập sẽ công bố
dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ quốc hội và Chính phủ ban hành để lấy ý kiến nhân dân. Thời hạn dành cho việc góp
ý và sửa đổi tối thiểu là 60 ngày. Việt Nam cũng cam kết sẽ đăng công khai các văn bản pháp luật trên các tạp chí hoặc Website Chính phủ, website của các Bộ,
ngành. Về thuế xuất khẩu, Việt Nam chỉ cam kết sẽ giảm thuế xuất khẩu đối với phế
liệu kim loại đen và màu theo lộ trình, khơng cam kết về thuế xuất khẩu của các sản phẩm khác.
26
Việt Nam còn đàm phán một số vấn đề đa phương khác như bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là sử dụng phần mềm hợp pháp trong cơ quan Chính phủ,
định giá tính thuế nhập khẩu, các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại, các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch, các hàng rào kỹ thuật trong thương mại...
Với các nội dung này, Việt Nam cam kết tuân thủ các quy định của WTO kể từ khi gia nhập.
Cam kết về thuế nhập khẩu
Về mức cam kết chung, Việt Nam đồng ý ràng buộc mức trần cho tồn bộ biểu thuế 10.600 dòng. Mức thuế bình qn tồn biểu được giảm từ mức hiện hành
17,4 xuống còn 13,4, thực hiện dần trong vòng 5-7 năm. Mức thuế bình qn đối với hàng nơng sản giảm từ mức hiện hành 23,5 xuống còn 20,9,
thực hiện trong 5 năm. Với hàng cơng nghiệp, mức bình qn giảm từ 16,8 xuống còn 12,6, thực hiện chủ yếu trong vòng 5-7 năm.
Đối với mức cam kết cụ thể, sẽ có khoảng hơn 13 số dòng của biểu thuế phải cắt giảm, chủ yếu là các dòng có thuế suất trên 20. Các mặt hàng trọng yếu,
nhạy cảm đối với nền kinh tế như nông sản, xi măng, sắt thép, vật liệu xây dựng, ơtơ - xe máy... vẫn duy trì được mức bảo hộ nhất định.
Những ngành có mức giảm thuế nhiều nhất bao gồm: dệt may, cá và sản phẩm cá, gỗ và giấy, hàng chế tạo khác, máy móc và thiết bị điện - điện tử. Việt
Nam đạt được mức thuế trần cao hơn mức đang áp dụng đối với nhóm hàng xăng dầu, kim loại, hóa chất, phương tiện vận tải.
Việt Nam cũng cam kết cắt giảm thuế theo một số hiệp định tự do hoá theo ngành của WTO giảm thuế xuống 0 hoặc mức thấp. Đây là hiệp định tự
nguyện của WTO nhưng các nước mới gia nhập đều phải tham gia một số ngành. Những ngành mà Việt Nam cam kết tham gia là sản phẩm công nghệ
thông tin ITA, dệt may và thiết bị y tế. Việt Nam cũng tham gia một số phần với thời gian thực hiện sau từ 3 – 5 năm
đối với các ngành thiết bị máy bay, hóa chất và thiết bị xây dựng.
Về hạn ngạch thuế quan, Việt Nam bảo lưu quyền áp dụng với đường, trứng gia cầm, lá thuốc lá và muối. Đối với 4 mặt hàng này, mức thuế trong hạn ngạch
là tương đương mức thuế MFN nguyên tắc tối huệ quốc của WTO, cụ thể trứng 40, đường thô 25, đường tinh 40-50, thuốc lá lá 30, muối ăn 30.
Mức thuế ngoài hạn ngạch cao hơn rất nhiều.
Cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ
Về diện cam kết, trong Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ BTA, Việt Nam đã cam kết 8 ngành dịch vụ khoảng 65 phân ngành. Trong thỏa thuận gia nhập
WTO, Việt Nam cam kết đủ 11 ngành dịch vụ, tính theo phân ngành khoảng 110. Về mức độ cam kết, thỏa thuận WTO đi xa hơn BTA nhưng khơng nhiều.
Với hầu hết các ngành dịch vụ, trong đó có những ngành nhạy cảm như bảo hiểm, phân phối, du lịch... Việt Nam giữ được mức độ cam kết gần như BTA.
Riêng viễn thơng, ngân hàng và chứng khốn, để kết thúc đàm phán, Việt Nam có một số bước tiến nhưng nhìn chung khơng q xa so với hiện trạng và đều
phù hợp với định hướng phát triển đã được phê duyệt cho các ngành này. Nội dung cam kết của một số lĩnh vực chủ chốt như sau:
Đối với cam kết chung cho các ngành dịch vụ, về cơ bản như BTA. Trước hết, công ty nước ngồi khơng được hiện diện tại Việt Nam dưới hình thức chi
nhánh, trừ phi điều đó được Việt Nam cho phép trong từng ngành cụ thể những ngành như vậy khơng nhiều. Ngồi ra, cơng ty nước ngồi tuy được phép đưa
cán bộ quản lý vào làm việc tại Việt Nam nhưng ít nhất 20 cán bộ quản lý của công ty phải là người Việt Nam. Việt Nam cũng cho phép tổ chức và cá nhân
nước ngoài được mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam nhưng với tỷ lệ phải phù hợp với mức mở cửa thị trường ngành đó. Riêng ngân hàng, Việt Nam
chỉ cho phép ngân hàng nước ngoài được mua tối đa 30 cổ phần. Về dịch vụ hỗ trợ khai thác dầu khí, Việt Nam đồng ý cho phép các doanh
nghiệp nước ngoài được thành lập cơng ty 100 vốn nước ngồi sau 5 năm kể từ khi gia nhập để cung ứng các dịch vụ hỗ trợ cho khai thác dầu khí. Tuy nhiên,
28
Việt Nam vẫn giữ quyền quản lý các hoạt động trên biển, thềm lục địa và quyền chỉ định cơng ty thăm dò, khai thác tài ngun. Việt Nam cũng bảo lưu được
một danh mục các dịch vụ dành riêng cho các doanh nghiệp Việt Nam như dịch vụ bay, dịch vụ cung cấp trang thiết bị và vật phẩm cho dàn khoan xa bờ... Đặc
biệt, tất cả các công ty vào Việt Nam cung ứng dịch vụ hỗ trợ dầu khí đều phải đăng ký với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Về dịch vụ viễn thơng, Việt Nam cho phép thành lập liên doanh đa số vốn nước ngồi để cung cấp dịch vụ viễn thơng khơng gắn với hạ tầng mạng phải
thuê mạng của các doanh nghiệp do Việt Nam nắm quyền kiểm soát và nới lỏng một chút việc cung cấp dịch vụ qua biên giới để đổi lấy việc giữ lại các hạn chế
áp dụng cho viễn thơng có gắn với hạ tầng mạng chỉ các doanh nghiệp mà Nhà nước nắm đa số vốn mới được đầu tư vào hạ tầng mạng, nước ngồi chỉ được
góp vốn đến 49 trong các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có gắn với hạ tầng mạng và cũng chỉ được liên doanh với các đối tác Việt Nam đã được cấp phép.
Đối với dịch vụ phân phối, về cơ bản giữ được như BTA, tức là khá chặt so với các nước mới gia nhập. Trước hết, thời điểm cho phép thành lập doanh
nghiệp 100 vốn nước ngoài là như BTA 112009. Thứ hai, tương tự như BTA, Việt Nam không mở cửa thị trường phân phối xăng dầu, dược phẩm, sách,
báo, tạp chí, băng hình, thuốc lá, gạo, đường và kim loại quý cho nước ngoài. Nhiều sản phẩm nhạy cảm như sắt thép, xi măng, phân bón... Việt Nam chỉ mở
cửa thị trường sau 3 năm. Việt Nam hạn chế khá chặt chẽ khả năng mở điểm bán lẻ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mở điểm bán lẻ thứ hai trở đi
phải được Việt Nam cho phép theo từng trường hợp cụ thể. Đối với dịch vụ bảo hiểm, về tổng thể, mức độ cam kết ngang với BTA. Tuy
nhiên, Việt Nam đồng ý cho Hoa Kỳ thành lập chi nhánh bảo hiểm phi nhân thọ sau 5 năm kể từ khi gia nhập.
Về dịch vụ ngân hàng, Việt Nam đồng ý cho Hoa Kỳ thành lập ngân hàng con 100 vốn nước ngồi khơng muộn hơn ngày 142007. Ngồi ra, tương tự như
BTA, ngân hàng nước ngoài được thành lập chi nhánh tại Việt Nam nhưng chi nhánh đó sẽ không được phép mở chi nhánh phụ và vẫn phải chịu hạn chế về
huy động tiền gửi bằng đồng Việt Nam từ thể nhân Việt Nam trong vòng 5 năm kể từ khi ta gia nhập WTO. Ta vẫn giữ được hạn chế về mua cổ phần trong ngân
hàng Việt Nam không quá 30. Đây là hạn chế đặc biệt có ý nghĩa đối với ngành ngân hàng.
Về dịch vụ chứng khốn, Hồ Kỳ được phép thành lập cơng ty chứng khốn 100 vốn nước ngồi và chi nhánh sau 5 năm kể từ khi Việt Nam gia nhập
WTO. Đối với các cam kết khác với các ngành còn lại như du lịch, giáo dục, pháp lý,
kế toán, xây dựng, vận tải..., mức độ cam kết về cơ bản khơng khác so với BTA. Ngồi ra, Việt Nam cũng không mở cửa dịch vụ in ấn - xuất bản.
Diễn giải mức thuế bình quân cam kết Bình quân chung và theo ngành
Thuế suất MFN hiện hành Thuế suất cam kết khi gia nhập WTO
Thuế suất cam kết vào cuối lộ trình Mức giảm so với thuế MFN hiện hành
Cam kết WTO của Trung Quốc Mức cắt giảm thuế tại Vòng Uruguay
Nước phát triển Nước đang phát triển
Nơng sản 23,5
25,2 21,0
30
10,6 16,7
giảm 40 giảm 30
Hàng công nghiệp 16,6
16,1 12,6
23,9 9,6
giảm 37 giảm 24
Chung toàn biểu 17,4
17,2 13,4
23,0 10,1
Nguồn: Bộ tài chính
2 Khái quát nội dung Hiệp định về chống bán phá giá và thuế đối kháng trong WTO

2.1. Khái quát chung về Hiệp định chống bán phá giá và thuế đối kháng


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (90 trang)

×