1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Các quy định thủ tục

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (405.36 KB, 90 trang )


Các cơ quan điều tra có trách nhiệm xác nhận liệu người kiện có đủ quyền kiện trước khi khởi tố điều tra không.

3.2. Các quy định thủ tục


3.2.1. Cung cấp thông tin cho đơn kiện Hai hiệp định này quy định: nghành cơng nghiệp khởi kiện phải có trách
nhiệm cung cấp các loại thông tin sau đây để chứng minh rằng các hãng nhập khẩu được tài trợ hay phá giá đang gây thiệt hại cho nghành đó.
-Tổng tỷ phần sản xuất trong nước của các nhà sản xuất là nguyên đơn; -Mô tả sản phẩm mà họ cho là đã được trợ cấp hoặc phá giá;
-Tên của các nước xuất khẩu, nhà xuất khẩu hoặc nhà sản xuất nước ngồi có tên tuổi và danh mục các nhà nhập khẩu sản phẩm đó;
-Thơng tin về phá giá hoặc trợ cấp; Trong đơn yêu cầu đòi áp dụng biện pháp chống phá giá, các thông tin này
phải bao gồm giá mà sản phẩm được bán trên thị trường trong nước của nước xuất khẩu và thông tin về giá xuất khẩu;
Trong đơn yêu cầu áp dụng thuế đối kháng, thông tin phải bao gồm bằng chứng về sự tồn tại, khối lượng và bản chất của tài trợ;
Thông tin liên quan đến sự thiệt hại và mối quan hệ nhân quả; Thông tin về khối lượng hàng nhập khẩu phá giá hoặc được tài trợ;
Thông tin về tác động của hàng nhập khẩu này đối với giá cả trong nước và đối với ngành công nghiệp trong nước.
Trên thực tế, đại bộ phận đơn kiện không đủ chứng cứ hoặc không đáp ứng được các tiêu chuẩn nêu trên đều bị các cơ quan điều tra bác bỏ.
Do việc nộp đơn kiện đơn thuần thường gây ra sự bất trắc trong thương mại, Điều 5.5 Hiệp định chống phá giá và Điều 11.5 Hiệp địnnh về trợ cấp và biện
pháp đối kháng, yêu cầu các cơ quan điều tra tránh công bố công khai về việc nộp đơn kiện. Tuy nhiên, theo điều 12.1 của Hiệp định chống phá giá và Điều
22.2 của Hiệp định về Trợ cấp và biện pháp đối kháng, khi đã có quyết định khởi tố điều tra , các cơ quan phải có trách nhiệm thông báo công khai về việc
38
khởi tố điều tra trong đó nêu rõ tên của nước hoặc các nước xuất khẩu, cơ sở để nói rằng có trợ cấp hoặc phá giá, và tóm tắt những lập luận cho rằng có gây ra sự
thiệt hại. 3.2.2 Thơng báo cho Chính phủ
Theo điều 6.1.3 Hiệp định chống phá giá và Điều 12.1.3 Hiệp định về trợ cấp và biện pháp đối kháng, các cơ quan điều tra phải thông báo cho Chính phủ của
các thành viên xuất khẩu về việc nhận được đơn kiện có căn cứ phù hợp và thông báo trước khi khởi tố điều tra chống phá giá hoặc đối kháng. Ngay sau khi
khởi tố điều tra, các cơ quan phải cung cấp cho Chính phủ của các thành viên xuất khẩu toàn văn đơn kiện. Bên cạnh đó, Điều 13 của Hiệp định về trợ cấp và
biện pháp đối kháng quy định trách nhiệm của nước điều tra phải hỏi ý kiến Chính phủ của nước xuất khẩu sau khi chấp nhận đơn kiện nhưng phải trước khi
việc điều tra bắt đầu. Cách tham khảo như vậy tạo cơ hội cho Chính phủ của nước điều tra khẳng định rằng tài liệu dựa trên cơ sở thông tin được cung cấp
trong đơn về các tác động thiệt hại được nói đến do có tài trợ đối với ngành cơng nghiệp, nước xuất khẩu có sẵn sàng thay đổi thực tế tài trợ của mình để đạt được
sự thoả thuận mà các bên cùng chấp nhận hay không. 3.2.3.Quyền cung cấp chứng cứ
Các quy định của hai hiệp định còn nhằm bảo đảm rằng một khi các nước điều tra bắt đầu, các nhà xuất khẩu và nhập khẩu các sản phẩm bị cho là phá giá
hoặc tài trợ, Chính phủ của các nước xuất khẩu và các bên quan tâm khác như các hiệp hội kinh doanh hay thương mại mà các nhà xuất khẩu hoặc sản xuất là
thành viên có cơ hội thích hợp để cung cấp chứng cứ miệng hay chứng cứ viết để bác bỏ đơn kiện của nguyên đơn và bảo vệ lợi ích của họ. Để đạt được mục
đích đó, các hiệp định quy định cụ thể rằng: -Phải cung cấp toàn văn đơn kiện cho tất cả các nhà xuất khẩu có tên tuổi bị
kiện là đang bán phá giá hoặc hưởng lợi từ trợ cấp và Chính phủ của các nước có liên quan;
-Bằng chứng do một bên nêu ra phải lập tức được cung cấp cho các bên tham gia điều tra khác;
-Các bên có quyền xem tất cả các thông tin trừ các thông tin mật được các cơ quan điều tra sử dụng trong điều tra để giúp họ trong việc trình bày.
Ngồi ra, trong điều tra chống phá giá và đối kháng những người sử dụng công nghiệp và các tổ chức người tiêu dùng sản phẩm đang trong điều tra sẽ
được tạo cơ hội để thể hiện quan điểm của mình liên quan đến việc trả lời vụ kiện có đáp ứng đủ yêu cầu pháp quy để áp dụng các loại thuế đó hay khơng
chẳng hạn các u cầu về phá giá hay trợ cấp, thiệt hại, mối quan hệ nhân quả. Có thể vận dụng điều khoản này để bảo vệ các lợi ích cơ bản của người sử dụng
và người tiêu dùng khi các cơ quan cho rằng ngành cơng nghiệp là ngun đơn đòi áp dụng hành vi chống phá giá hoặc đối kháng chủ yếu vì các lý do bảo hộ
và việc áp dụng đó có thể dẫn tới sự tăng giá không biện minh được. 3.2.4. Thông tin cho các nhà xuất khẩu cung cấp và các quy định về thông tin
tốt nhất. Trong khi cho phép các công ty xuất khẩu được bảo vệ lợi ích của mình trong
q trình điều tra, Điều 6.1.1 Hiệp định chống phá giá và Điều 12.1.1 Hiệp định về trợ cấp và biện pháp đối kháng còn buộc các công ty xuất khẩu phải hợp tác
với các cơ quan điều tra và cung cấp cho cơ quan điều tra những thơng tin mà họ có thể u cầu về chi phí sản xuất và các vấn đề khác. Trên thực tế, các cơ quan
điều tra yêu cầu cung cấp những thơng tin đó dựa theo mẫu khai và trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ khi có u cầu cung cấp thơng tin.Trong trường
hợp các cơng ty khơng thể trả lời trong thời hạn đó, các hiệp định trên kêu gọi các cơ quan điều tra xem xét yêu cầu gia hạn và hỗ trợ các công ty nếu họ yêu
cầu khi cung cấp thông tin theo mẫu quy định. Trong trường hợp các công ty xuất khẩu từ chối hợp tác hoặc không cung cấp thông tin theo yêu cầu trong thời
hạn hợp lý, các cơ quan điều tra có thể đưa ra quyết định dựa trên các thơng tin tốt nhất hiện có.
3.2.5. Điều tra tại chỗ
40
Theo điều 6.7 Phụ lục1 của Hiệp định Chống phá giá, Điều 12.6 và Phụ lục VI của Hiệp định về trợ cấp và biện pháp đối kháng, các cơ quan điều tra thường
thấy cần phải tiến hành điều tra tại chỗ để xác minh thông tin do các nhà sản xuất cung cấp theo mẫu đơn hoặc thu thạp thêm thông tin. Các hiệp định quy
định rằng các cuộc điều tra đó có thể được thực hiện chỉ khi nào có sự thoả thuận của các nhà xuất khẩu và sản xuất liên quan nếu Chính phủ của nước xuất
khẩu không phản đối việc điều tra. Cần phải thông báo trước một thời gian về cuộc điều tra dự định. Trong thông báo nêu rõ loại thông tin cần thiết để các nhà
xuất khẩu và sản xuất có thể chuẩn bị sẵn sàng để cung cấp thơng tin đó.

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU THUỶ SẢN Ở VIỆT NAM


I ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ KỸ THUẬT VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NGÀNH THUỶ SẢN VIỆT NAM
1 Điều kiện tự nhiên và địa lý Việt Nam
Sự gắn bó giữa người Việt Nam với nghề cá là kết quả của lẽ tự nhiên. Sinh sống trên một vùng đất nhiều sông, hồ, đầm, phá, kênh rạch chi chít, lại thêm có
một bờ biển dài với vùng biển dồi dào nguồn lợi đã làm cho người dân không thể không thân thuộc với thuỷ sản. Diện tích đất liền của Việt Nam : 330.990
nghìn ki lô mét vuông, với đường bờ biển dài 3.260 km. Như vậy, trung bình cứ 100 km
2
diện tích đất liền lại có 1km chiều dài bờ biển - đây là một tỉ lệ bờ biển tuy chưa phải là bậc nhất, nhưng cũng vào loại rất cao trong số các quốc gia và
vùng lãnh thổ có biển. Đường bờ biển của Việt Nam kéo dài từ Móng Cái Quảng Ninh đến Hà
Tiên Kiên Giang, đi qua hơn 13 vĩ độ với nhiều vùng sinh thái khác nhau, nhìn ra Vịnh Bắc Bộ ở phía Bắc, Thái Bình Dương ở miền Trung và Vịnh Thái Lan ở
miền Tây Nam Bộ. Diện tích vùng nội thuỷ và lãnh hải rộng 226 nghìn km
2
, diện tích vùng biển đặc quyền kinh tế hơn 1 triệu km
2
, gấp 3 lần diện tích đất liền. Vùng biển Việt Nam thuộc phạm vi ngư trường Trung tây Thái Bình
Dương, có nguồn lợi sinh vật phong phú, đa dạng, là một trong những ngư trường có trữ lượng hàng đầu trong các vùng biển trên thế giới.
Trong vùng viển có 4.000 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có những đảo lớn có dân cư như Vân Đồn, Cát Bà, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc, có nhiều vịnh, vũng, eo
ngách, các dòng hải lưu, vừa là ngư trường khai thác hải sản thuận lợi, vừa là nơi có nhiều điều kiện tự nhiên để phát triển nuôi biển và xây dựng các khu căn
cứ hậu cần nghề cá. Bên cạnh điều kiện tự nhiên vùng biển, Việt Nam còn có nguồn lợi thuỷ sản nước ngọt ở trong 2.860 con sông lớn nhỏ, nhiều triệu hecta
đất ngập nước, ao hồ, ruộng trũng, rừng ngập mặn, đặc biệt là ở lưu vực sông
42

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (90 trang)

×