1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Thuỷ vực là tư liệu sản xuất không thể thay thế

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (405.36 KB, 90 trang )


4.2. Thuỷ vực là tư liệu sản xuất không thể thay thế


Các mặt nước bao gồm: sông, hồ ,ao, mặt nước ruộng, cửa sông, biển... gọi chung là thuỷ vực được sử dụng vào nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản. Nó là tư
liệu sản xuất đặc biệt, chủ yếu khơng thể thay thế của ngành thuỷ sản. Khơng có thuỷ vực sẽ khơng có sản xuất thuỷ sản.
Tuy nhiên, nước là yếu tố quan trọng đối với mọi ngành kinh tế, thậm chí là điều kiện của sự sống. Do vậy, thuỷ vực có thể được sử dụng cho nhiều mục
đích khác nhau của con người như để điều hồ mơi trường, đáp ứng nhu cầu của giao thơng đường thuỷ, du lịch sinh thái…Thông thường thuỷ vực được sử dụng
theo hướng đa mục tiêu nhăm nâng cao hiệu quả sử dụng chúng. Để sử dụng có hiệu quả và để bảo vệ thuỷ vực trong ngành thuỷ sản cần chú ý những vấn đề
sau: Thực hiện quy hoạch các loại hình thuỷ vực và xác định hướng sử dụng thuỷ
vực cho ngành thuỷ sản. Trong quy hoạch cần chú ý những thuỷ vực có mục đích sử dụng chính vào ni trồng thuỷ sản cần kết hợp với các hướng kinh
doanh khác; còn những thuỷ vực được quy hoạch sử dụng cho mục đích phát triển giao thơng thuỷ điện… là chính thì cần kết hợp hợp lí với việc phát triển
thuỷ sản để nâng cao hiệu quả sử dụng thuỷ vực. Chú trọng bảo vệ môi trường nước, kể cả nước biển.Phải thường xuyên caỉ
tạo thuỷ vực, tăng nguồn dinh dưỡng cho các thuỷ sinh vật nhằm nâng cao năng suất của thuỷ vực.
Sử dụng thuỷ vực một cách tiết kiệm, đặc biệt cần hạn chế chuyển đổi mục đích sử dụng thuỷ vực là các ao, hồ, thùng đấu…sang đất xây dựng cơ bản hay
mục đích khác.
4.3 Ngành thuỷ sản là ngành sản xuất vật chất có tính hỗn hợp, tính liên ngành cao
Với tính cách là một ngành sản xuất vật chất ngành thuỷ sản bao gồm nhiều hoạt động sản xuất vật chất cụ thể có tính chất tương đối khác nhau nhưng có
mối liên quan chặt chẽ với nhau như: khai thác, nuôi trồng, chế biến và các dịch
52
vụ thủy sản.Khi trình độ lực lượng sản xuất thấp kém, các hoạt động sản xuất cụ thể nói trên chưa có sự tách biệt rõ ràng thậm chí còn lồng vào nhau. Trong điều
kiện như vậy, khối lượng sản phẩm sản xuất ra còn ít với chất lượng thấp và chủ yếu đáp ứng nhu cầu thị trường nhỏ hẹp.
Ngày nay, dưới tác động mạnh mẽ của sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội làm cho các hoạt động sản xuất thuỷ sản được
chun mơn hố ngày càng cao. Các hoạt động chun mơn hố khai thác, nuôi trồng, chế biến và dịch vụ thuỷ sản có trình độ và quy mơ phát triển tuỳ thuộc
nhu cầu thị trường và mỗi hoạt động lại dựa trên nền tảng nhất định về cơ sở vật chất kĩ thuật và phương pháp công nghệ, tạo nên những ngành chun mơn hố
hẹp có tính chất độc lập tương đối. Tuy vậy, do đặc điểm của sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm thuỷ sản, tính liên kết vốn có của các hoạt động khai thác,
ni trồng, chế biến và dịch vụ thuỷ sản lại đòi hỏi phải gắn bó các ngành chun mơn hố hẹp nói trên trong một thể thống nhất, ở trình độ cao hơn mang
tính liên ngành. Như vậy, tính hỗn hợp và tính liên ngành cao của các hoạt động sản xuất vật
chất tương đối khác nhau gồm nuôi trồng,khai thác, chế biến và dịch vụ thuỷ sản là đặc điểm của ngành thuỷ sản. Đồng thời nó cũng làm cho ngành thuỷ sản
cũng có tính chất của sản xuất cơng nghiệp, vừa có tính chất của sản xuất nơng nghiệp.Vì vậy, việc quản lí vĩ mơ cũng như quản lí kinh doanh trong ngành thuỷ
sản mang tính hỗn hợp. Tính hỗn hợp cũng như tính liên ngành cao của hoạt động sản xuất có tính
khác nhau như nói trên tạo thành cơ cấu sản xuất của ngành thuỷ sản. Cơ cấu ngành thuỷ sản được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của lực
lượng sản xuất, phân công lao động xã hội và chun mơn hố sản xuất, hình thành nên hai bộ phận chủ yếu là nuôi trồng thuỷ sản và công nghiệp thuỷ sản
với những chức năng khác nhau: -Ni trồng thuỷ sản: bộ phận sản xuất có tính chất nơng nghiệp, thường
được gọi là ngành ni trồng thuỷ sản, có chức năng duy trì, bổ sung tái tạo và
phát triển nguồn lợi thuỷ sản để cung cấp sản phẩm trực tiếp cho tiêu dùng, xuất khẩu và nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và các ngành khác.
-Cơng nghiệp thuỷ sản: bộ phận sản xuất có tính chất công nghiệp bao gồm khai thác và chế biến thuỷ sản. Những hoạt động này có nhiệm vụ khai thác
nguồn lợi thuỷ sản và chế biến chúng thành các sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội và xuất khẩu.
-Ngoài ra, để phục vụ cho sản xuất kinh doanh còn có hoạt động sản xuất phụ trợ và phục vụ khác như: đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, sản xuất nước đá,
sản xuất bao bì , ngư cụ… Tất cả các hoạt động sản xuất phụ trợ và phục trợ và phục vụ nói trên cùng với ni trồng và cơng nghiệp thuỷ sản có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau tạo thành cơ cấu ngành thuỷ sản.
4.4.Sản xuất kinh doanh thuỷ sản đòi hỏi đầu tư ban đầu lớn, độ rủi ro cao
Hầu hết các hoạt động nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thuỷ sản đều đòi hỏi đầu tư ban đầu tương đối lớn. Trong hoạt động nuôi trồng, nếu không kể những
hoạt động ni cá trong ao hồ có sẵn, ni cá ruộng, ni lồng ở sơng suối thì hầu hết các hoạt động đầu tư nuôi thuỷ sản đều cần vốn lớn như đào ao thả cá
trên đất canh tác hiệu quả thấp được chuyển đổi mục đích sử dụng; đầu tư cải tạo đầm nuôi thuỷ sản ở ven biển, cửa sông... Trong hoạt động đánh bắt xa bờ
đòi hỏi vốn đầu tư đóng mới tàu thuyền lên tới hàng tỷ đồng. Nhu cầu đầu tư vốn ban đàu tương đối lớn cho phát triển các hoạt động kinh tế như trên là vượt
quá khả năng tích luỹ và đầu tư của từng chủ thể kinh tế trong ngành thuỷ sản, đặt biệt là khả năng của các hộ. Do vậy, để phát triển thuỷ sản, Nhà nước phải
xây dựng và thực hiện chính sách cho vay vốn theo các chương trình phát triển riêng của ngành này như: cho vay trong chương trình khai thác xa bờ, tín dụng
đầu tư xây dựng các cơ sở hậu cần dịch vụ nghề cá theo quy hoạch... Sản xuất nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự
nhiên nhất là điều kiện thuỷ văn, bão, lũ. Đối với những nước như nước ta có bờ biển dài, diễn biến bão lũ phức tạp, nhiều trận bão lũ lớn đã gây thiệt hại nặng
cho nghề nuôi trồng thuỷ sản của cả một vùng hay một địa phương. Trong nhiều
54
trường hợp, thiên tai có thể gây thiệt hại cả đến tính mạng của ngư dân, nhất là ngư dân làm nghề đánh bắt ngoài khơi.
Ngoài những đặc điểm chung như đã trình bày thì ngành thuỷ sản Việt Nam còn có những đặc điểm riêng đáng lưu ý như: Thuỷ vực và nguồn lợi thuỷ sản
Việt Nam đa dạng và khá phong phú. Đối với nước ta, nếu không kể tiềm năng mặt nước và nguồn lợi thuỷ sản nội địa, ta còn có tiềm năng về biển cho phát
triển thuỷ sản. Biển Đông của Việt Nam có diện tích 3.447.000 km
2
, độ sâu trung bình 1.140m và bờ biển dài trên 3.260km, khá dồi dào về nguồn lợi sinh
vật biển. Nguồn lợi sinh vật biển có khoảng 11.000 loài động vật và thực vật biển, trong đó: động vật nổi có 468 lồi; động vật đáy co 6.377 lồi; san hơ cứng
có 298 lồi; động vật chân đầu có 53 lồi; cá biển có hơn 2.000 lồi thuộc 717 giống, 178 họ; tơm biển có 225 lồi; rong biển có 667 lồi... Ngồi ra, còn nhiều
lồi động vật biển phong phú và có giá trin khác như: chim biển, thú biển, thực vật nổi và thực vật ngập mặn... Với tiềm năng mặt nước lớn và nguồn lợi thuỷ
sản phong phú, Việt Nam hồn tồn có thể và cần thiết phải phát triển ngành thuỷ sản thành một ngành kinh tế mũi nhọn của khu vực nông, lâm, thuỷ sản
trên cơ sở những thuận lợi chủ yếu là: -Chủng loại thuỷ sản nuôi trồng khá phong phú với nhiều giống lồi từ nhiệt
đới đến ơn đới như cá trê phi, rô phi, cá chim trắng, tôm thẻ chân trắng, bống tượng, đến trắm cỏ, chép lai...
-Khả năng ni trồng và khai thác thuỷ sản có thể diễn ra quanh năm, trong khi ở các nước xứ lạnh chỉ có thể ni trồng, khi thác một vụ với quy mơ lớn
ngồi trời. -Giống lồi đọng vật trong nước đa dạng đặc biệt có nhiều lồi có giá trị kinh
tế và xuất khẩu cao. Tuy nhiên do điều kiện địa hình và thuỷ vực phức tạp, lại nằm trong vùng
có nhiều mưa, bão, lũ, rét và hay bị hạn vào mùa đơng gây ra những khó khăn, thậm chí những tổn thất trong phát triển ni trồng và khai thác thuỷ sản.
II THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU THUỶ SẢN VIỆT NAM
1 Khái quát về tình hình xuất khẩu thuỷ sản thế giới
Theo số liệu thống kê của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc FAO, tổng sản lượng thuỷ sản của thế giới bao gồm cả khai thác và nuôi
trồng đã tăng 312 từ 49,92 triệu tấn năm 1964 tới 155,87 triệu tấn năm 2004. Mức tăng trưởng trung bình hàng năm của tổng sản lượng là 4 trong giai đoạn
1964- 1974 và giảm xuống mức 3 trong giai đoạn 1874-1984. Từ giữa thập kỷ 80 đến cuối thập kỷ 90, mức tăng trưởng hàng năm lại tăng và đạt 3,5. Nhưng
từ năm 2000 đến năm 2003, xu hướng đã thay đổi, mức tăng trung bình hàng năm chỉ còn khoảng 1. Tuy nhiên, năm 2004, tổng sản lượng thuỷ sản của thế
giới đã tăng 6 so với năm 2003. Đây không chỉ là kết quả của sự đóng góp lớn sản lương từ nguồn ni trồng mà còn có sự tăng trưởng sản lượng từ nguồn
khai thác tự nhiên. Mặc dù, tỷ trọng sản lượng khai thác vẫn tiếp tục chiếm phần lớn tổng sản
lượng thuỷ sản thế giới nhưng trong những năm gần đây sản lượng nuôi trồng thuỷ sản cũng tăng đáng kể. Nuôi trồng thuỷ sản đã tăng trưởng với tốc độ trung
bình hàng năm 9 từ năm 1970 đến năm 2000. Trong giai đoạn 2000-2004, mức tăng trung bình hàng năm của sản lượng nuôi là 6,75. Cũng trong giai
đoạn này, tỷ trong nuôi trồng thuỷ sản trong tồng sản lượng thuỷ sản của thế giới đã tăng từ 32 lên 38. Trong khi đó, tỷ trong khai thác thuỷ sản tự nhiên của
thế giới giảm 5,5, từ mức 67,96 năm 2000 xuống 62,46 năm 2003. Do nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên được phục hồi trong năm 2004, nên tỷ trọng khai
thác thuỷ sản thế giới đã tăng trở lại xấp xỉ bằng mức năm 2000.
Bảng 1- Tổng sản lượng thuỷ sản TS của thế giới
Đơn vị: 1000 tấn Năm
1964 1984
1994 2000
2001 2002
2003 2004
Khai thác TS 47.519 77.946 93.265 96.864 94329
94.559 91.827 96.462 Nuôi trồng TS 2.402
10.191 27.775 45.657 48.555 51.972 55.183 59.408
Tổng sản lượng TS
49.922 87.831 121.040 142.552 142.884 146.531 147.010 155.871
56
Nguồn: Trung tâm tin học Bộ Thuỷ sản Thành tựu đạt được theo các châu lục: mức tăng trưởng sản lượng của khu
vực Châu Á mạnh nhất thế giới, đặc biệt từ giữa thập kỷ 80 trở lại đây. Châu Á là khu vực sản xuất thuỷ sản hàng đầu thế giới với sản lượng đạt 101,559 triệu
tấn năm 2004, tăng gấp 6 lần so với năm 1984, chiếm tỷ trọng 65 tổng sản lượng thuỷ sản thế giới, trong khi năm 1964 chỉ ở mức 34. Trong đó Trung
Quốc là nước sản xuất lớn nhất đạt 56,6 triệu tấn, tăng gấp 7 lần so với mức 7,77 triệu tấn năm 1984, chiếm 36,3 tổng sản lượng thuỷ sản thế giới. Năm 1984,
tỷ trọng sản lượng thuỷ sản của nước này chỉ chiếm 8 tổng sản lượng huỷ sản thế giới.
Bảng 2- Tổng sản lượng thuỷ sản của thế giới qua các giai đoạn
Đơn vị: 1000 tấn
Châu lục Năm
Tỷ trọng
năm 1964
Tỷ trọng
năm 2004
1964 1974
1984 1994
2004 Châu Phi
3.101 4.382
4.080 5.673
7.882 6,21
5 Bắc Mỹ
4.282 4.952
8.056 9.035
9.288 8,58
6 Nam Mỹ
10.98 8
6.744 10.68
6 22.935
19.061 22,01
12
Châu Á 17.04
4 29,42
4 40.23
8 64.657
101.55 9
34,14 65
Châu Âu 14.34
7 22.42
7 24.20
9 17.640
16.438 28,74
11 Châu Đại
Dương 158
312 539
968 1.477
0,32 0,9
Nơi khác 108
23 131
164 0,1
Tổng sản lượng
49.99 2
68.35 87.83
2 121.04
155.77 1
100 100
Khu vực Châu Âu đứng thứ nhì thế giới trong thập kỷ 60, 70 với tỷ trọng sản lượng thuỷ sản của khu vực tương ứng trong giai đoạn này tăng từ 28,74
lên 32 tổng sản lượng thuỷ sản thế giới. Từ giữa thập kỷ 80 trở đi, tỷ trọng sản lượng của khu vực này đã giảm mạnh từ 27 năm 1984 xuống 14,5 năm 1994
và 11 năm 2004, hiện nay Châu lục này đứng thứ 3 sau Nam Mỹ. Trong số các khu vực sản xuất chính, vào giai đoạn trước thập kỷ 90, khu vực
Nam Mỹ đứng thứ 3 thế giới. Trong thập kỷ 90, sản lượng thuỷ sản của khu vực này đạt mức tăng trưởng mạnh nhất, vượt khu vực Châu Âu và đứng thứ 2 thế
giới. Tính đến năm 2004, mức sản lượng của khu vực này không tăng thậm chí còn giảm 7 so với năm 1994 và đạt tỷ trọng 12 tổng sản lượng thuỷ sản thế
giới. Khu vực Bắc Mỹ đứng vị trí thứ 4. Mặc dù sản lượng thuỷ sản của khu vực này
không cao chỉ bằng một nửa sản lượng của Nam Mỹ nhưng đã có xu thế tăng lên trong 4 thập kỷ qua và năm 2004 đã chiếm 6 tổng sản lượng thuỷ sản thế
giới. Tiếp đến phải kể đến Châu Phi- cũng có xu thế tăng sản lượng qua các thập kỷ, sản lượng đạt 7,882 triệu tấn năm 2004, chiếm 5 tổng sản lượng thuỷ sản
thế giới. Ngồi ra còn có khu vực Châu Đại Dương mặc dù sản lượng không đáng kể chỉ chiếm 0,9 tổng sản lượng trong năm 2004 nhưng trong thời gian
qua sản lượng của khu vực này có tốc độ tăng trưởng rõ rệt.
2Tình hình xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam những năm qua
2.1. Những thành tựu đạt được Ngành thuỷ sản Việt Nam mặc dù ra đời từ rất sớm song nó mới thực sự phát
triển trong những năm gần đây. Trước đây, chúng ta mới chỉ chú trọng đến đánh bắt thuỷ sản. Hiện nay, chúng ta khơng chỉ có ni trồng mà còn có nhiều
phương thức tổ chức sản xuất tiên tiến để đưa ngành thuỷ sản thực sự trở thành ngành xuất khẩu chủ lực đối với nền kinh tế nước nhà. Tình hình xuất khẩu thuỷ
sản của Việt Nam những năm qua đã có nhiều khởi sắc mới và còn tiếp tục hứa hẹn những thành tựu đáng khen ngợi.
58
Bảng: Kết quả sản xuất kinh doanh của ngành thuỷ sản Việt Nam giai đoạn 1990-2006
Năm Tổng sản lượng thuỷ sản tấn
Giá trị xuất khẩu 1.000 USD 1990
1.019.000 205.000
1991 1.062.163
262.234 1992
1.097.830 305.630
1993 1.116.169
368.435 1994
1.211.496 458.200
1995 1.344.140
550.100 1996
1.373.500 670.000
1997 1.570.000
776.000 1998
1.668.530 858.600
1999 1.827.310
971.120 2000
2.003.000 1.478.609
2001 2.226.900
1.777.485 2002
2.410.900 2.014.000
2003 2.536.361
2.199.577 2004
3.073.600 2.400.781
2005 3.432.800
2.738.726 2006
3.695.927 3.357.960
Nguồn: Trung tâm tin học Bộ Thuỷ sản Trong số các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, TS ln đứng ở vị trí cao và
khơng ngừng tăng truởng. Trong số các nước có kim ngạch XKTS lớn, VN là nước có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất. Tỷ lệ tăng trưởng XKTS trung bình thời
kỳ 1992-2003 là 20,4, mức tăng trưởng trung bình hàng năm đạt 9,97. Đến 2003, VN đã đứng ở vị trí thứ 7 trong số các nước XKTS nhiều nhất trên TG.
Năm 1992, XKTS đạt 305, 63 triệu USD nhưng tới 2004, XKTS đã đạt mức 2,4 tỷ USD.
Đến năm 2005 giá trị xuất khẩu thuỷ sản đạt hơn 2,7 tỷ USD, tăng 12,5 so với năm 2004. Đặc biệt năm 2006 kim ngạch xuất khẩu đạt gần 3,4 tỷ
USD, tăng 25,9 so với năm trước và trở thành một trong số 9 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, đóng góp đáng kể vào GDP nước nhà.
2.1.1.Một số mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Trong số các mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam có rất nhiều lồi
thuỷ sản có giá trị kinh tế cao như: cá biển cá Thu ngàng, cá Bống hoa, cá Ĩ sao, ca Dóc, cá Nhám đuôi dài, cá Chim Ấn Độ, cá Ngừ, cá Đục, cá Né, cá
Trích, cá Hồng, cá Cam, cá Cơm...; cá nước ngọt cá Rô đồng, cá Chép, cá Trắm cỏ, cá Chình, cá Mè Vinh, cá Cơm sơng, cá Ngạnh, lươn, cá Lành, cá Trê,
cá Tra, cá Ba Sa,... ; nhuyễn thể Sò Cu, Sò Nứa, Sò Huyết, Ốc, Mực, Bào ngư, Ngao, Trai, dòm Đen,...; giáp xác Moi Đỏ, Ruốc, Tôm Càng Xanh, Ghẹ, Cua
Lông, Tôm Sú, Tơm He Đỏ,... và các lồi khác như Rong Câu Chỉ Vàng, Rong Sụn, Rong Mơ, Rong Mứt,...
Nếu xem xét theo tỷ lệ các mặt hàng thì đã có sự biến đổi lớn, trước kia tôm đông lạnh chiếm đa số, nay các mặt hàng tươi sống và giá trị gia tăng đã tăng
lên. Như vậy, cơ cấu các mặt hàng đã có sự chuyển biến theo hướng tích cực: tưng dần kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng tươi sống, giá trịc ao ; giảm dần các
mặt hàng thô, đông lạnh.
Thị trường xuất khẩu cũng không ngừng được mở rộng, hiện nay hàng thuỷ sản Việt Nam có mặt ở trên 80 nước trên TG, Tuy nhiên, vẫn tập trung vào một
số thị trường chính như Mỹ, Nhật, EU, Hoa Kỳ, Trung Quốc. Hiện các doanh nghiệp đang có xu hướng mở thêm các thị trường mới để tránh tình trạng bị lệ
thuộc vào một số thị trường.
60
Bảng tổng sản lượng xuất khẩu của một số mặt hàng chủ lực thời kỳ 2000-2006đ.v tấn
Năm Mặt hàng
2000 2001
2 002
2003 2004
2005 2006
Bạch tuộc đông lạnh 13421.5
20583.48 2631
7.27 23351.14
35688.49 30995.9
34771.3 Cá đông lạnh
56052.47 74093.14
1120 34.5
2 132270.71
165596.33 208271.1
362286.1
Cá khô 6514.29
12906.8 1718
1.76 7222.04
14755.54 21675.6
28220.1 Cá ngừ
5912.37 14475.71
2073 4.74
17362.11 20783.76
28580.1 44822.3
Mặt hàng khác 74260.65
99839.05 1151
60.1 1
141798.66 108802.32
148611.5 146687.2
Hàng tươi sống 326.86
9.3 143.74
117.8 49.6
Mực khô 26423.85
18109.76 1892
0.44 9902.55
11806.3 12063
Mực đông lạnh 21241.16
21069.73 2856
1.54 21462.05
266726.62 27945.8
34991.7 Nghêu, sò, ốc,ghẹ
16071 18465.2
Tơm hùm, tơm vỗ 79.54
105.22 971.
89 33.2
1.1 13
Tôm khô 637.01
520.5 303.
26 84.6
1084.62 757.4
622.9 Tôm đông lạnh
66703.88 87151.18
1145 79.9
124779.69 141122.03
149871.8 153172.9
8 Ruốc khô
1325.9 2743.67
3883 .17
3656.28 6972.17
7945.3 3980.3
Cua 2952.2
5427.3 Tổng số
291922.68 375490.74 4586
57.9 8
482066 531325.85
636379.7 821680.4
Nguồn: Trung tâm tin học - Bộ thuỷ sản
Bảng tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản theo mặt hàng thời kỳ 2000 – 2006 đ.v: USD
Năm Mặt hàng
2000 2001
2002 2003
2004 2005
2006 Bạch tuộc đông
lạnh 26465141
35183937 44220100 43613050
71103642 70813942
8.622.0792 Cá đông lạnh
165797767 22194769
2 361646074
405741072 464727235
531849204 952.570.667
Cá khô 16327905
36844382 4021633 167274460
47916251 67015741
89.402.643 Cá ngừ
22976484 58592912 77463159
47722955 55054959
78401516 117.132.996
Mặt hàng khác 220240677
32647071 7
324044960 497476506
322501820 496155270
460.652.970 Hàng tươi sống
1036534 67349
627804 511531
119.202 Mực khô
211323973 15380986
6 109207131
57080033 65420451
75292960 79.595.373
Mực đơng lạnh 82416796
80707667 96000812 68564663
96517102 103581955
135.968896 Nghêu, sò, ốc,ghẹ
61178009 48542489
Tôm hùm, tôm vỗ 542648
2397462 14975404
374611 25200
412.769
Tôm khô 2545354
2367936 1398559
341383 4292603
3015363 2.442.616
Tôm đông lạnh 654214853
77782021 4
949418477 105786296
3 1268038595
1307155108 1.430.002.115
Ruốc khô 3455460
3802902 4164258
3444306 5208457
4908968 3.438.538
Cua 10087848
27997578 Tổng
1478609549 17774857
54 2022820916
219957680 6
2400781115 2738726758
3.357.959.577
Nguồn: Trung tâm tin học - Bộ thuỷ sản
2.1.2. Một số thị trường xuất khẩu truyền thống của Việt Nam. BẢNG GIÁ TRỊ XUẤT KHẨU THUỶ SẢN 2000 – 2005 đ.v USD
Năm Thị trường
2000 2001
2002 2003
2004 2005
Châu Átrừ NB 412396176
475502919 497803341
290925817 413861348
378035774 Mỹ
301303916 489034965
654977324 777656159
602969450 617172589
Nhật Bản 469472915
465900792 537459466
582837870 772194720
785875894 Châu Âu
71782420 90745293
73719852 116739138
231527515 380904754
Thị trường khác 223654122
256301785 258890933
431417822 380228081
576737747 TỔNG
1478609549 1777485754 202282916 2199576806 2400781114 2738726758
Năm 2006, giá trị xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào những thị trường chủ
yếu như sau: Châu Á 644..685.741USD; Châu Âu 897.713.417 USD; Mỹ 664.324.457 USD; Nhật Bản 842613677 USD; thị trường khác
308.622.245USD. Tổng giá trị xuất khẩu: 335.959.577USD, tăng 22,6 so với năm 2005.
Như vậy, cả giá trị và sản lượng xuất khẩu thuỷ sản qua các năm nhìn chung đều tăng. Điều này có ý nghĩa tích cực với ngành thuỷ sản nói riêng và với nền
kinh tế Việt Nam nói chung. 2.1.3.Thành tựu chung về các mặt của ngành thuỷ sản Việt Nam.
Về hợp tác quốc tế.
Trước xu thế tồn cầu hố q trình hội nhập kinh tế quốc tế tất yếu hiện nay, Bộ Thuỷ sản đã tích cực thực hiện Nghị quyết 07-NQTW ngày 27112001 và
Chương trình hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động xúc tiến thương mại của Chính phủ. Ngành đã xây dựng lộ trình hội nhập nghề cá để các nhà lãnh đạo các nước
ASEAN ký hiệp định tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 10 tại Viêng Chăn, thống nhất áp dụng quy tắc chuyển đổi xuất xứ hàng hố để hưởng chế độ
CEPT, tích cực cùng với Bộ Thương mại đàm phán với các đối tác chuẩn bị cho Việt Nam gia nhập WTO.
Các hoạt động hợp tác quốc tế đã góp phần đáng kể trong việc chuẩn bị hội nhập của ngành thuỷ sản như hỗ trợ tham dự các hội thảo, đào tạo, cung cấp
thông tin, xúc tiến thương mại… Nhiều nhà quản lý và doanh nghiệp đã tích cực trang bị kiến thức, nâng cao trình độ quản lý, học hỏi kinh nghiệm, hoàn thiện
các văn bản pháp lý, nâng cấp cơ sở hạ tầng để chuẩn bị cho giai đoạn thực hiện AFTA. Trong thời gian tới, Việt Nam cần tập trung nhiều hơn nữa các hoạt động
để tìm kiếm sự trợ giúp của các đối tác nước ngoài và các tổ chức quốc tế.
Về công tác quản lý ngành thuỷ sản Việt Nam
Nhìn chung, trong thời gian qua, cơng tác quản lý ngành thuỷ sản của Việt Nam đã được nâng cấp rõ rệt thông qua một số hoạt động, chương trình, dự án
hợp tác quốc tế ở cấp bộ và các cấp địa phương. Ngoài việc đào tạo để nâng cao trình độ của các cán bộ quản lý; nhiều hình thức, kỹ thuật quản lý tiên tiến cũng
được giới thiệu và áp dụng chẳng hạn như cải tổ hệ thống hành chính, áp dụng đồng quản lý, xây dựng các tổ chức kinh tế tập thể, hiệp hội, các mơ hình liên
doanh liên kết khác trong cộng đồng nghề cá nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, giáo dục cho cộng đồng về tầm quan trọng của việc phát triển ngành này một
cách bền vững. Đồng thời, hệ thống hành chính của Bộ Thuỷ sản và một số địa phương cũng được nâng cao năng lực, nâng cấp trang thiết bị, tăng cường công
tác thông tin, tin học hố… Năm 1995, chính phủ Vương quốc Đan Mạch đã hỗ trợ chính thức cho
Ngành Thuỷ sản Việt Nam dự án “Quy hoạch tổng thể ngành thuỷ sản Việt Nam”, từ năm 2000 đã triển khai “Chương trình hỗ trợ ngành thuỷ sản FSPS – Giai
đoạn 1” với tổng số vốn tài trợ 40,5 triệu USD gồm 5 hợp phần, trong đó có hợp phần STOFA “Tăng cường hệ thống hành chính Ngành Thuỷ sản”, thực hiện
trong giai đoạn 2001-2005. Giai đoạn 2 của chương trình này từ 2006-2010 với tổng kinh phí gần 34 triệu USD đã được chính phủ hai nước ký kết năm 2005 và
đã bắt đầu chính thức vận hành. Cùng với đó là rất nhiều dự án có giá trị khác mà các nước đã dành cho ngành thuỷ sản Việt Nam. Nhờ đó mà Bộ Thuỷ sản
Việt Nam có điều kiện nắm được tình hình của Ngành để có được cơ sở khoa học đưa ra các quyết định quản lý đúng đắn. Công tác hành chính được cải tiến
một bước, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị được cải thiện và các cán bộ quản lý cũng như các chuyên viên được đào tạo về quản lý, ngoại ngữ, tin học và nhiều lĩnh
vực khác.
Ngoài ra, ngành còn nhận được rất nhiều sự đầu tư từ những dự án có hiệu quả như: Dự án “Xây dựng Luật Thuỷ sản “ giai đoạn 1 1999-2003 và giai
đoạn 2 2005 – 2008 “Đưa Luật Thuỷ sản vào cuộc sống” và nhiều hoạt động
hợp tác và chương trình khác cũng góp phần nâng cao năng lực quản lý như: Chương trình phát triển nghề cá của Uỷ hội sông Mê Kông quốc tế từ 1996 và
pha 2 từ 2005 -2008 Việt Nam đã tham gia từ 1996, Tăng cường năng lực điều phối các nguồn tài trợ cho Vụ HTQT-BTS, Đào tạo quản lý Thông tin Thống kê
nghề cá năm 2004 do FAO tài trợ cho Trung tâm Tin học, Dự án Xây dựng năng lực quản lý tổng hợp dải ven bờ do USAID tài trợ. Tất cả những dự án đó đã tạo
ra cho ngành thuỷ sản nước ta một bước phát triển mới, đưa ngành thuỷ sản nhanh đạt đến đích xuất khẩu hơn, góp phần thực hiện có hiệu quả chủ trương,
kế hoạch của Nhà nước nói chung và của ngành nói riêng.
Về lĩnh vực đào tạo nhân lực của ngành: Trong hầu hết các chương trình, dự án của ngành đều có các hoạt động hỗ trợ
đào tạo chính quy, tập huấn ngắn ngày, dài ngày, tham quan khảo sát… Những hoạt động trên đã góp phần đào tạo cho ngành thuỷ sản VN một đội ngũ cán bộ
và chuyên gia giỏi. Trong thời kỳ trước thập kỷ 90, hầu hết đội ngũ cán bộ quản lý, khoa học nòng cốt đều được đào tạo tại Liên Xô và các nước XNCN. Hiện
nay, thơng qua nhiều hình thức hỗ trợ khác nhau, nhiều cán bộ của ngành thuỷ sản đang được đào tạo tại nước ngoài để lấy bằng tiến sĩ, thạc sĩ, đào tạo ngắn
ngày, thực tập… về các nội dung chuyên môn và quản lý. Theo kết quả thống kê từ 2003-2005 cho thấy, hiện chúng ta đang có 20 cán bộ được đào tạo tiến sĩ; 41
đào tạo cao học tại các nước; 842 đoàn cán bộ quản lý, khoa học đi tham dự hội nghị, hội thảo, tập huấn… dưới nhiều hình thức hỗ trợ của các nước và các tổ
chức khác nhau.
Bên cạnh đó, một số dự án đã hỗ trợ cho các cơ sở đào tạo của ngành như dự
án Phát triển nguồn nhân lực và công nghệ thuỷ sản của CIDA CANADA cho Trường Trung học Thuỷ sản 1 giai đoạn 1993-1997, cho Trưòng Trung học Thuỷ
sản 4, giai đoạn 1994-1998, dự án “Đào tạo từ xa về nuôi trồng thuỷ sản cho
nông dân và ngư dân các tỉnh miền núi và đồng bằng thơng qua cơng nghệ thơng tin” cho Trưòng Trung học Thuỷ sản 4 bắt đầu từ năm 2003… nhằm mục đích
nâng cấp trang thiết bị và năng lực cho các trưòng. Đặc biệt, Học phần Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực trong dự án FSPS giai đoạn 1 và nhiều khoá đào tạo về
ngoại ngữ, tin học, kỹ năng quản lý, thống kê, ATVSTS, giới, v.v. do DANIDA tài trợ, đã hỗ trợ rất nhiều cho Ngành Thuỷ sản trong công tác nâng cao năng lực
quản lý và sản xuất. Ngồi các dự án, nhiều hình thức hợp thác quốc tế khác đã được triển khai như đào tạo, tham dự hội nghị, hội thảo, trao đổi chuyên gia,
tham quan, chuyển giao công nghệ… Những hoạt động này đã góp phần khơng nhỏ cho sự lớn mạnh của ngành ni trồng thuỷ sản và hình thành một đội ngũ
chun gia giỏi về thuỷ sản cho Việt Nam.
Về công tác xây dựng cơ sở hạ tầng của ngành thủy sản VN:
Trong những năm qua, công tác xây dựng cơ sở hạ tầng của Ngành đã nhận được sự hỗ trợ to lớn từ các chương trình viện trợ, cho vay vốn…Nhiều cảng cá
đã được xây dựng, điển hình là trong giai đoạn 1995-1997, tổ chức JICA Nhật Bản đã tài trợ 23 triệu USD để xây dựng cảng cá Cát Lở - Vũng tàu; 10 cảng cá
khác được xây dựng từ vốn vay của ADB. Ngoài ra, các dự án Điều tra nguồn lợi hải sản, 3 trại giống quốc gia, Trung tâm nuôi biển Nha trang, nhiều trại
giống quy mô nhỏ, các dây chuyền chế biến thuỷ đặc sản, trang bị cho các Trung tâm Kiểm tra chất lượng, vệ sinh thuỷ sản vùng, v.v. do JICA, DANIDA, UNDP,
FAO … tài trợ đều là những đóng góp để xây dựng và nâng cấp cơ sở hạ tầng nghề cá Việt Nam. Thông qua những dự án đầu tư đó mà cơ sở hạ tầng, cơng
nghệ phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Ngành ngày càng hoàn thiện hơn và đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển của ngành.
Về khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản: Như chúng ta đã biết thì các hoạt động hợp tác quốc tế đã góp phần khơng
nhỏ thúc đẩy công tác điều tra, bảo vệ nguồn lợi và khai thác thuỷ sản. Từ giữa những năm 70, Chính phủ Na Uy đã viện trợ cho Việt Nam Tàu nghiên cứu Biển
Đông để tiến hành công tác điều tra nguồn lợi biển. Chính phủ Nhật Bản đã tài
trợ Dự án Đánh giá nguồn lợi cá nổi giai đoạn 1995-1997.Nhiều dự án do Đan Mạch tài trợ như: Đánh giá nguồn lợi sinh vật biển Việt Nam ALMRV, Hỗ trợ
xây dựng hệ thống khu bảo tồn biển ở Việt Nam giai đoạn 2002-2006, Dự án Khu bảo tồn biển Hòn Mun 2001-2005 do WB tài trợ, Dự án Quản lý nghề cá phá
Tam Giang, các Dự án điều tra nguồn lợi hải sản của JICA, các chuyến điều tra nguồn lợi của tàu SEAFDEC và hợp tác với Thái Lan, Nhật Bản, hỗ trợ nghề cá
hồ chứa…và các hỗ trợ của Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế IUCN, Quỹ Bảo vệ thiên nhiên hoang dã WWF, Liên minh sinh vật biển quốc tế IMA,
Trung tâm nghề cá thế giới Worldfish Center,…đã giúp cho công tác điều tra và bảo vệ nguồn lợi biển của Việt Nam đạt nhiều kết quả đáng kể.
Trong hoạt động khai thác thuỷ sản, nhiều công nghệ và kỹ thuật mới được tiếp thu, góp phần nâng cao năng suất khai thác, tăng tính bảo vệ nguồn lợi như:
Cơng nghệ dò cá bằng thuỷ âm, cải tiến ngư cụ khai thác có chọn lọc, bảo vệ rùa biển, cá heo, khai thác cá ngừ…Viện hải sản là đơn vị đã có nhiều hoạt động
hợp tác với các tổ chức quốc tế và khu vực và các nước trong lĩnh vực này. Bản thân Viện cũng được hỗ trợ nâng cấp năng lực nghiên cứu và cơ sở vật chất qua
sự trợ giúp của Đan Mạch và nhiều tổ chức khác. Ngoài ra, các cảng cá đã được xây dựng từ viện trợ và vốn vay ADB, công nghệ chế biến bảo quản sau khai
thác được phổ biến cho ngư dân đẫ góp phần hỗ trợ cho tàu thuyền nghề cá và nâng cao chất lượng thuỷ sản khai thác.
Thông qua sự trợ giúp của các tổ chức và các chính phủ, các chuyên gia của Việt Nam đã có điều kiện tham dự nhiều cuộc họp và trở thành thành viên của
nhiều tổ chức quản lý nghề cá của FAO và khu vực, các đại diện của Việt Nam đã chứng tỏ được năng lực của mình trong các hoạt động bảo vệ nguồn lợi và
quản lý khai thác thuỷ sản. Một số địa phương cũng nhận được sự trợ giúp trong lĩnh vực khai thác thuỷ
sản, bảo vệ nguồn lợi và môi trường như Thanh Hố, Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An, Thừa Thiên-Huế, Đắc Lắc, Bến tre, Kiên Giang…và đã thu được kết
quả đáng kể, đóng góp tích cực vào thành tựu chung của tồn ngành.
Về ni trồng thuỷ sản và hoạt động khuyến ngư:
Nuôi trồng thuỷ sản là lĩnh vực được nhiều dự án, chương trình hợp tác quốc tế quan tâm hỗ trợ nhất. Trong thời gian qua, cùng với xu thế phát triển nuôi
trồng thuỷ sản trên thế giới, ngành nuôi trồng thuỷ sản Việt Nam đã tiến được một bước dài. Thành cơng này chính là nhờ sự hỗ trợ của các nước ngoài và các
tổ chức trong giai đoạn đầu tiên, cụ thể như: kỹ thuật sinh sản nhân tạo, chọn giống cá nước ngọt, tôm he, cá rô phi, tôm càng xanh, cua xanh…đều do nhiều
cán bộ Việt Nam được đào tạo, tập huấn, chuyển giao cơng nghệ ở các nước ngồi như Trung Quốc, Liên Xơ cũ, Hungary, Ơxtrâylia,Thái lan...Một số thành
cơng khác là do các liên doanh với nước ngồi, ví dụ: Kỹ thuật sinh sản nhân tạo tôm sú do liên doanh VATECH…
Cho đến nay, đã có nhiều Dự án hỗ trợ nuôi trồng thuỷ sản đã được triển khai ở cấp trung ương và địa phương, điển hình là Dự án Phát triển NTTS nước ngọt
và tăng cường công tác khuyến ngư cho Viện nghiên cứu NTTS 1, Phát triển NTTS miền núi phía Bắc cho Trung tâm khuyến ngư, Phát triển NTTS ven biển
tại các làng cá quy mô nhỏ, Hỗ trợ NTTS nước ngọt, Hỗ trợ nuôi biển của Đan Mạch và các chương trình hợp tác khác với các nước và lãnh thổ như NaUy,
Pháp, Phần lan, Ôxtrâylia, Đài Loan, Canađa… và các tổ chức FAO, SEAFDEC, NACA, Phát triển nông nghiệp quốc tế ACIAR, Chương trình phát triển nơng
thơn CARD,… về các đề tài như nuôi cá hồ chứa, sản xuất thức ăn nuôi thuỷ sản quy mơ nhỏ, sản xuất kích dục tố HCG cho cá, trồng rong biển, tạo giống cá
chép, sinh sản nhân tạo cá tra-basa, nuôi tôm hùm, cua biển, nuôi hàu và nhiều đối tượng nuôi trồng thuỷ sản khác. Thông qua các dự án trên, nhiều công nghệ
sản xuất giống, kỹ thuật nuôi lồng, nuôi biển được nghiên cứu và chuyển giao, góp phần tạo thêm nhiều sản phẩm phục vụ XKTS và xố đói giảm nghèo.
Ngồi ra, còn có nhiều dự án phát triển các mơ hình ni thân thiện với mơi trưòng như ni tơm vùng rừng ngập mặn, kết hợp nuôi tôm-lúa-cá và thúc đẩy
việc nhập giống mới, kể cả các loài cá nước lạnh như cá hồi , cá tầm… Hiện các dự án đang tập trung vào tăng cường năng lực quản lý nuôi trồng thuỷ sản bền
vững, an toàn vệ sinh cho thuỷ sản nuôi, áp dụng thực hành nuôi tốt, nuôi bền vững, ni hữu cơ, xố đói giảm nghèo… để tạo ra các sản phẩm ni an tồn
đáp ứng tiêu chuẩn của thị trường trên thế giới. Ngành cũng đã triển khai thực hiện nhiều hình thức đào tạo, tham quan, tập
huấn ở nước ngồi, chuyển giao cơng nghệ, th chun gia, thu thập thông tin trên thế giới, tham dự hội thảo, hội nghị về nuôi trồng thuỷ sản … mang lại lợi
ích khơng nhỏ trong việc nắm bắt được xu hướng phát triển của thế giới và nâng cao trình độ. Các Viện nghiên cứu ni trồng thuỷ sản trực thuộc Bộ Thuỷ sản là
những đơn vị có những hoạt động hợp tác tích cực nhất và chính các Viện cũng được nâng cấp, hiện đại hoá nhờ các hoạt động này.
Về hoạt động chế biến, an toàn vệ sinh thực phẩm ngành thuỷ sản:
Trong thời gian qua, chế biến thuỷ sản là lĩnh vực có nhiều thay đổi: các nhà máy chế biến thuỷ sản của Việt Nam đã đạt trình độ khu vực và được phép vào
các thị trường lớn như EU, Mỹ, Nhật Bản. Có được thành cơng này là nhờ có các dự án hỗ trợ trong giai đoạn đầu cho các nhà máy chế biến, nâng cấp các
trang thiết bị và dây chuyền CBTS mà điển hình là Dự án Cải thiện xuất khẩu và XK hàng thuỷ sản VN SEAQIP. Từ 1993, chính phủ Đan Mạch đã hỗ trợ các dự
án Nâng cấp sản phẩm thuỷ sản của Việt Nam, Tổng quan về CBTS, Các dự án còn hỗ trợ nhiều cho việc phát triển các trang thiết bị CBTS như Dây chuyền sản
xuất IQF, Thiết bị chế biến Agar, các sản phẩm giá trị gia tăng, xử lý nước và rác thải CBTS.
Lĩnh vực an toàn vệ sinh thuỷ sản ATVSTS cũng được cải thiện nhiều qua các hoạt động hợp tác quốc tế với nhiều nước mà đầu tiên phải kể đến Chương
trình quản lý chất lượng thuỷ sản HACCP được giới thiệu và áp dụng thành công tại Việt Nam từ những năm đầu thập kỷ 90. Nhiều phòng thí nghiệm ở các
địa phương, trong đó có 6 trung tâm vùng thuộc NAFIQAVED cũng được hỗ trợ trang thiết bị tiên tiến để kiểm tra chất lượng theo HACCP. Đồng thời, hợp tác
quốc tế cũng tạo điều kiện để áp dụng Quy trình phân tích dư lượng các chất kháng sinh và hoá chất. Các thoả thuận song phương về công nhận hệ thống
kiểm tra chất lượng với Hàn Quốc, Trung Quốc đã chứng tỏ uy tín của hệ thống kiểm tra chất lượng hàng thuỷ sản của Việt nam. Đặc biệt, nhiều cán bộ của Việt
Nam đã được đào tạo về các phương pháp kiểm tra chất lượng, phân tích dư lượng kháng sinh … nhiều đồn cán bộ tham dự hội thảo và trao đổi kinh
nghiệm để nâng cao kiến thức và tiếp cận với các hệ thống an toàn thực phẩm trên thế giới. Cho tới nay, có thể tự hào rằng hệ thống kiểm tra chất lượng
ATVSTS của VN không thua kém các nước khác. Tuy nhiên, chúng ta rất cần học hỏi nhiều hơn nữa trong công tác quản lý chất lượng và vệ sinh thuỷ sản để
nâng cao hơn nữa trình độ quản lý, tránh việc hàng hoá của chúng ta bị từ chối nhập khẩu vào các nước.
Về xúc tiến thương mại và xuất khẩu thuỷ sản:
Trong hơn 10 năm qua, kim ngạch XKTS của VN liên tục tăng trưởng vững chắc: hàng thuỷ sản Việt Nam đã có mặt ở trên 100 nước và vùng lãnh thổ trên
thế giới, đặc biệt là ở các thị trường lớn như Nhật, Mỹ, EU;nhiều doanh nghiệp của VN đã chứng tỏ được bản lĩnh trên thương trường quốc tế và vững vàng
vượt qua các thử thách. Có được những tiến bộ trên khơng thể không kể đến sự trợ giúp quan trọng của các thoả thuận, hợp tác, hỗ trợ vốn và đào tạo thông qua
hoạt động hợp tác quốc tế. Nhiều hoạt động hỗ trợ thương mại khác như: hợp tác với Pháp trong xây dựng thương hiệu Nước mắm Phú Quốc, tổ chức các hội
thảo, hội nghị khác về tiếp cận thị trưòng… đã mở đầu cho việc hỗ trợ hàng thuỷ sản Việt Nam có được các thương hiệu của mình và nâng cao giá trị trên thị
trường quốc tế. Bên cạnh đó, Bộ Thuỷ sản, Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thuỷ sản VASEP
và các doanh nghiệp đã tích cực triển khai nhiều hoạt động xúc tiến thương mại và đã thu được nhiều kết quả, trong đó phải kể đến các doanh nghiệp đã tăng
cường mở rộng thị trường thông qua việc tham gia các hội chợ, triển lãm thuỷ sản quốc tế để quảng bá sản phẩm thuỷ sản Việt Nam, tạo cơ hội cho các doanh
nghiệp tiếp cận thị trường thuỷ sản các nước. Hàng năm, ngành cũng đã tổ chức Hội chợ thuỷ sản VietFish và Vinafish thu hút hàng trăm doanh nghiệp tham gia,
trong đó có nhiều gian hàng của các cơng ty nước ngoài. Từ năm 2002, Việt nam đã trở thành nước XKTS đứng thứ 7 trên thế giới.
Đặc biệt, để hiểu rõ hơn các luật lệ thưong mại của thế giới và đối phó với các rào cản thưong mại, ngành cũng đã triển khai nhiều hoạt động hợp tác nhằm
học hỏi, trao đổi về luật lệ, quy định, kiện chống bán phá giá … Trước xu thế hội nhập và các thách thức ngày càng lớn của thị trường thế giới, các nhà quản
lý và các doanh nghiệp của ta vẫn còn nhiều non kém về thị trường, luật lệ, khả năng cạnh tranh. Nắm bắt được điểm yếu này, Bộ Thuỷ sản đã có định hướng sẽ
tăng cường hơn nữa các hoạt động hợp tác quốc tế nhằm nâng cao năng lực của ngành trong thương mại thuỷ sản trong những năm tới.
Ngoài những lĩnh vực trên, các hoạt động hợp tác quốc tế còn đóng góp trong nhiều lĩnh vực khác như xố đói giảm nghèo, hợp tác chuyên gia và xuất
khẩu lao động, hỗ trợ nghề cá quy mô nhỏ, điều tra kinh tế-xã hội của các cộng đồng nghề cá, đào tạo từ xa cho ngư dân, bảo vệ mơi trưòng …Những hỗ trợ này
chính là những đóng góp đáng kể cho sự phát triển của nhiều địa phương có thuỷ sản của Việt Nam. Đồng thời, thông qua những hoạt động này mà ngành
thuỷ sản nước ta ý thức được những yếu kém của mình, từ đó đưa ra phương hướng hoạt động đúng đắn hơn trong thời gian tới.
2.2. Những hạn chế Về hợp tác quốc tế: Công tác HTQT còn chưa chủ động để theo kịp được
xu hướng phát triển kinh tế thế giới và hội nhập. Cần có quy hoạch và tập trung đào tạo nguồn nhân lực cho công tác này.
-Kết quả hỗ trợ từ HTQT nhiều khi chưa chỉ dừng ở các cấp quản lý và mang nặng hình thức mà chưa được triển khai có hiệu quả trong thực tế.
-Số lượng và quy mô các dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài FDI của Ngành Thuỷ sản còn quá khiêm tốn so với nhu cầu và tiềm năng phát triển của
ngành.
-Một bộ phận cán bộ quản lý ở các cấp còn thiếu hiểu biết về luật lệ và thực tiễn thương mại quốc tế, hạn chế về ngoại ngữ và các kỹ năng làm việc đáp ứng
yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. -Một số lượng không nhỏ các doanh nghiệp, trong đó đặc biệt là các doanh
nghiệp nhà nước chưa thực sự chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và kém sức cạnh tranh.
-Công tác xuất khẩu chuyên gia, kỹ thuật viên, thuyền viên và lao động nghề cá sang các nước nhằm tăng nguồn thu ngoại tệ cho nhà nước và Ngành cũng
như nâng cao đời sống của người lao động chưa được chú trọng. -Trong HTQT, cần chú trọng tới cơng tác an ninh quốc phòng, góp phần bảo
vệ các nguồn tài nguyên của đất nước. Quy mô xuất khẩu thuỷ sản còn nhỏ, chưa chủ động về sản lượng xuất
khẩu. Chất lượng các mặt hàng xuất khẩu còn đặt ra nhiều vấn đề đáng quan tâm. Chúng ta vẫn chủ yếu xuất khẩu các mặt hàng thô, đông lạnh và qua sơ
chế.Công tác chỉ đạo cũng như triển khai thực hiện kế hoạch còn thiếu đồng bộ, chưa tích cực.
Cơng tác đảm bảo vệ sinh an tồn chất lượng hàng thuỷ sản xuất khẩu còn rất yếu kém. Điều này thể hiện ở tình trạng hàng thuỷ sản của Việt Nam xuất
khẩu sang Mỹ, Nhật Bản, các nước EU bị kiện bán phá giá do dung lượng chất kháng sinh vượt quá quy định. Hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp xuất khẩu
thuỷ sản của Việt Nam bi Nhật Bản, Hàn Quốc... cảnh báo về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, đặc biệt là các doanh ngiệp xuất khẩu mặt hàng tôm đông
lạnh. Hầu hết các doanh nghiệp của chúng ta vẫn làm ăn theo kiểu tiểu nông, phi
vụ, chụt giật, chạy theo lợi nhuận. Do đó, chất lượng hàng xuất khẩu khơng được đảm bảo làm cho giá hàng xuất khẩu của chúng ta thấp hơn của thế giới.
Điều này dễ dẫn đến bị kiện bán phá giá. Cơ chế, chính sách phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh và xuất
khẩu thủy sản còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được nhu cầu hội nhập kinh tế
quốc tế. Hoạt động kinh tế của ngành còn mang tính bị động, phụ thuộc nhiều vào các nguồn lực có sẵn, chưa có nhiều hoạt động tái tạo và nuôi trồng mới.
3 Tác động của việc gia nhập WTO đến hoạt động xuất khẩu thuỷ sản 3.1.Triển vọng
Từ những chặng đường trưởng thành, phát triển đã qua, có thể thấy ngành thuỷ sản đã liên tục
phấn đấu, phát huy thuận lợi, khắc phục khó khăn, hồn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn, để lại dấu ấn đậm nét
trong nền kinh tế - xã hội nói chung của đất nước. Đó là những thuận lợi cơ bản, tạo nên tiền đề vững chắc cho ngành tiếp tục đi lên trong tương lai.
Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO, do đó chúng ta có rất nhiều cơ hội để hội nhập. Hàng xuất khẩu của chúng ta sẽ có mặt ở nhiều thị
trường khác ngồi những thị trường truyền thống trước đây. Điều này một mặt tăng giá trị xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam, một mặt giúp cho ngành này không bị
phụ thuộc vào một số thị trường. Là thành viên của WTO chúng ta sẽ tận dụng được khoa học công nghệ tiên
tiến của các nước trong nuôI trồngvà đánh bắt thuỷ hải sản, nâng cao được chất lượng hàng hoá. Hơn nữa chúng ta được quyền áp dụng các quy tắc của WTO để
giải quyết các tranh chấp, bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. Các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có trách nhiệm hơn trong việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực
phẩm cho hàng xuất khẩu để tránh xảy ra kiện tụng. Gia nhập WTO, các cơ chế, chính sách cũng được minh bạch hoá, hệ thống
luật pháp của nước ta được cảI thiện đáng kể. Do đó, phương thức quản lý cũng có nhiều đổi mới theo hướng tiến bộ, lối tư duy của các nhà lãnh đạo cũng đổi
mới giúp cho công tác chỉ đạo thực hiện hoạt động kinh tế của ngành được thuận lợi hơn, có hiệu quả hơn.
Mơi trường cạnh tranh của nước ta nói chung và của ngành này nói riêng sẽ có nhiều khởi sắc mới, hoạt động đầu tư diễn ra sôi nổi hơn tạo điều kiện cho
các doanh nghiệp được hoạt động trong môI trường thực sự năng động và có
hiệu quả hơn. Qua đó, đào thải các doanh nghiệp làm ăn khơng có hiệu quả, nâng cao chất lượng sản xuất kinh doanh của ngành.

3.2. Thách thức


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (90 trang)

×