1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Về môi trường

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (405.36 KB, 90 trang )


710.000 dân, tỷ lệ dược sỹ đại học 1 -1,210.000 dân; tỷ lệ giường bệnh 26 giường10.000 dân năm 2010.
Đến năm 2010, 70 số xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuẩn phù hợp với tre em; 905 trẻ em có hồn cảnh đặc biệt khó khăn được bảo vệ ,chăm sóc.
Kiềm chế mức tăng tỷ lệ lây nhiễm HIVAIDS khơng quá 0,3 dân số năm 2010. Giảm tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới xuống còn 10 – 11vào năm
2010. Đảm bảo diện tích nhà ở đến năm 2010 đạt mức bình qn 14 -15 m
2
sànngười.

3.3. Về mơi trường


Năm 2010 đưa tỷ lệ che phủ rừng lên mức 42 – 43. Phấn đấu đến năm 2010 đạt 100 số đô thị loại 3 trở lên, 50 số đô thị loại 4
và tất cả các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải áp dụng công nghệ sạch hoặc được trang bị các thiết bị giảm thiểu ô nhiễm, đảm bảo xử lý chất thải, 50 cư
sở sản xuất, kinh doanh đạt tiêu chuẩn mơi trường. Đến năm 2010, có 100 khu cơng nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải; thu gom và xử lý 90
chất thải rắn thông thường, 80 chất thải nguy hại và 100 chất thải y tế. Phấn đấu đạt 95 dân cư thành thị và 75 dân cư ở nông thôn sử dụng nước
sạch vào năm 2010.
II MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH THUỶ SẢN VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI
1Chương trình xuất khẩu thuỷ sản đến năm 2010 và định hướng 2020
Căn cứ vào kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội nước ta giai đoạn 2006-2010 và tình hình thực tế nước ta, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
2422006QĐ-TTG về việc phê duyệt chương trình phát triển xuất khẩu thuỷ sản đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.
Mục tiêu cụ thể đến năm 2010, phấn đấu tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản bình quân trên 9năm; giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 4-4,5
tỷ USD. Định hướng đến năm 2020, phát triển ngành thuỷ sản tiếp tục là ngành đi đầu trong công cuộc CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn. Phấn đấu đến năm
2020 trình độ cơng nghệ chế biến thuỷ sản tương đương với các nước phát triển. Phấn đấu để ổn định thị phần xuất khẩu tại các thị trường chính: Nhật Bản
25, Mỹ khoảng 23-25 trong những năm trước mắt và trên 30 những năm cuối của giai đoạn 2006-2010 và những năm tiếp theo; EU từ 20-22;
Trung Quốc và Hồng Kông 7-9; Hàn Quốc khoảng 8.
2 Mục tiêu cụ thể của ngành thuỷ sản.
Phấn đấu đến năm 2010 đạt các chỉ tiêu sau: Nuôi tôm sú 260.000 ha trong đó 60.000 ha ni cơng nghiệp, 100.000 ha
ni bán thâm canh, 100.000 ha ni mơ hình cân bằng sinh thái, nuôi luân canh, xen canh đạt sản lượng 360.000 tấn. Giá trị tôm xuất khẩu đạt 1.400 triệu
USD. Nuôi cá biển 40.000 ha và 40.000 lồng bè, sản lượng đạt 200.000 tấn. Các
đối tượng nuôi chủ yếu là: cá song, cá hồng, cá cam, cá vược, cá măng... Nuôi nhuyễn thể 20.000 ha, sản lượng đạt 380.000 tấn. Các đối tượng ni
chủ yếu là: nghêu, ngao, sò huyết, ốc hương, trai ngọc, điệp, bào ngư, hầu... Trồng rong biển 20.000 ha, sản lượng 50.000 tấn khô 550.000 tấn tươi. Các
đối tượng trồng chủ yếu là: rong câu chỉ vàng, rong thắt, rong cước và rong sụn. Nuôi tôm càng xanh 32.000 ha, sản lượng đạt 60.000 tấn.
Nuôi thuỷ sản ao hồ nhỏ 100.000 ha, sản lượng đạt 480.000 tấn. Các đối tượng nuôi chủ yếu là: chép lai, rô phi, cá tra, trắm cỏ, cá trôi, bống tượng, tai
tượng, mè vinh, cá trê, cá quả, sặc rằn, cá mè, ba ba, lươn ếch... Nuôi thuỷ sản ruộng trũng 220.000 ha, sản lượng đạt 170.000 tấn. Các đối
tượng nuôi chủ yếu là: cá chép, rô phi, cá trê, sặc rằn, cá lóc... Ni thuỷ sản hồ chứa trên diện tích 300.000 ha, trên sơng với 30.000 lồng
bè, sản lượng đạt 228.000 tấn. Các đối tượng nuôi chủ yếu là: cá basa, cá tra, bống tượng, rô phi, cá chép, trôi, mè, trắm cỏ, rôhu, mrigan...
3Dự báo thương mại thuỷ sản của Việt Nam: XKTS - Trong thời gian tới, cũng như các nước nông nghiệp khác, Việt Nam
sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc tăng giá trị XKTS do sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt giữa các nước sản xuất và yêu cầu ngày càng cao ở các thị trường.
Ngoài những biện pháp tăng giá trị XKTS như nâng cao kỹ thuật chế biến, đa dạng hoá các mặt hàng, mở rộng thị trường còn cần phải có những biện pháp
quản lý chặt chẽ NTTS để đảm bảo sản xuất ra các sản phẩm đáp ứng được các yêu cầu của các thị trường tiêu thụ như ATVSTS, có chứng nhận xuất xứ, bảo vệ
mơi trường ... Đồng thời, không thể không chú trọng đến việc phát triển theo quy hoạch có tính đến các tác động kinh tế xã hội đối với các cộng đồng dân cư.
Theo kế hoạch của Bộ Thuỷ sản, kim ngạch XKTS của VN trong giai đoạn 2006-2010, mức tăng trưởng XKTS sẽ tăng 49,81, trung bình tăng 10,63
năm.
Chỉ tiêu kế hoạch 5 năm 2006 - 2010
TT 2006
2007 2008
2009 2010
Tổng 5 năm 2006-
2010 Mức tăng
trưởng 5 năm Hằng
năm 1
Tổng sản lượng 1000 tấn
3.439 3.592
3.757 3.936
4.000 18.724
16,30 3,85
2 Sản lượng nuôi trồng 1000 tấn
1.488 1.628
1.781 1.948
2.000 8.844
34,42 7,68
3 Giá trị sản xuất Tỷ đồng
41.785 46.694
52.227 58.468
65.512 264.686
56,8 11,9
4 Giá trị kim ngạch XK thuỷ sản Triệu USD
2.670 2.840
3.110 3.480
4.000 16.100
49,81 10,63
5 Tổng lượng hàng hoá xuất khẩu Tấn
539.315 578.655 637.430 718.615 831.210 3.305.235 54,12 11,42
- Tôm đông Tấn
610.990 171.890 189.590 214.815 250.000 987.285
55,29 11,63
- Cá đông Tấn
250.615 227.710 318.040 373.275 450.000 1.669.640 79,56 15,76
Dự báo, ngành thuỷ sản VN sẽ đạt được những chỉ tiêu trên do các nhà quản lý và sản xuất đã nhận thức được nhu cầu cấp thiết phải phát triển bền vững để
tiến tới hội nhập, đáp ứng các u cầu của xu hướng thương mại hố tồn cầu.
Cơ cấu hàng thuỷ sản xuất khẩu của VN vẫn tiếp tục chuyển dịch theo hướng tiếp tục gia tăng tỷ trọng của sản phẩm chế biến, chế tạo và các sản phẩm có
hàm lượng cơng nghệ cao, giảm tỷ trọng hàng thô ướp đông, đông lạnh, hàng khô. Theo kế hoạch của BTS, tới năm 2010, Việt Nam sẽ phát triển các nhóm
sản phẩm chính như tơm sú XK khoảng 160.000 tấn, tôm chân trắng 25.000 tấn, tôm hùm, tôm càng xanh; Cá tra-basa, nhuyễn thể hai mảnh vỏ, cá biển
nuôi, cá rô phi... Tuy nhiên, muốn đạt được kế hoạch XKTS cần chú trọng hơn nữa tới việc phải phát triển nuôi các mặt hàng thuỷ sản đáp ứng các yêu cầu của
từng loại thị trường trên thế giới. Ngoài ra, hướng đầu tư sẽ mở rộng hơn tới khu vực ni các lồi phù hợp với mơi trường sinh thái như trồng rong biển, động
vật thân mềm, cá lồng biển xa bờ và nuôi kết hợp nhiều đối tượng. Việc mở rộng các thị trường, quảng bá thương hiệu kết hợp với việc tìm hiểu
nhu cầu các thị trường để sản xuất các mặt hàng phù hợp có giá trị cao sẽ đóng góp phần quan trọng vào việc tạo đầu ra cho các sản phẩm nuôi. Dự báo, trong
giai đoạn tới, XKTS Việt Nam sẽ có mặt ở gần 100 thị trường nhưng vẫn tập trung vào trên 20 thị trường chính.
Dự báo, trong thời gian tới năm 2010, giá trị thương mại của Việt Nam sẽ đạt mức đề ra trong chiến lược phát triển như sau:
+ Duy trì tỷ lệ đóng góp của ngành thuỷ sản trong GDP khoảng 3 + Tăng mức cung cấp cho thị trường trong nước ở mức 25 kgđầu người.
+ Giá trị XKTS đạt 3,5-4 tỷ USD
III MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU THUỶ SẢN VIỆT NAM NHỮNG NĂM TỚI.
1 Về phía nhà nước - Tiếp tục kiện tồn bộ máy hành chính Nhà nước, hoàn thiện hệ thống luật
pháp, tạo hành lang pháp lý cho hoạt đông xuất khẩu thuỷ sản . - Khắc phục tình trạng coi thường luật pháp, lợi dụng kẽ hở của pháp luật để
tham nhũng, kiếm lợi bất hợp pháp
-
Cải thiện mơi trường đầu tư và có chính sách phù hợp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu xuất nhập khẩu theo hướng tích cực
- Nâng cao kỹ năng xuất khẩu và văn hoá xuất khẩu, thúc đẩy sự hợp tác giữa các doanh nghiệp
- Sửa đổi luật thuế cho phù hợp với thực tế. Bãi bỏ các khoản trợ cấp và thực hiện đúng cam kết với WTO.
- Tăng cường hơn nữa ngân sách cho đầu tư, phát triển ngành thuỷ sản cả về cơ sở hạ tầng, phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật cũng như cảI thiện công tác
bảo vệ môI trường, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản. Có những chính sách hợp lý để phát triển ngành thuỷ sản thành ngành kinh tế mũi nhọn của nước ta.
2 Về phía ngành thuỷ sản 2.1. Phát triển lợi thế cạnh tranh - Chiến lược hội nhập
Để có thể phát huy lợi thế cạnh tranh quốc gia trong quá trình cạnh tranh quốc tế, doanh nghiệp cần cơ quan quản lý Nhà nước phải thay đổi mạnh mẽ, để
xây dựng được: i một hệ thống quy phạm pháp luật đồng bộ và minh bạch, ii một hệ thống công cụ thực thi luật pháp hiệu quả và công bằng, iii một bộ máy
công quyền với phương thức quản lý tiên tiến; và iv đội ngũ cán bộ công chức có tính chun nghiệp, lấy việc phục vụ doanh nghiệp làm mục tiêu.
Để phát huy tiềm năng lớn nhất mà chúng ta có là tiềm năng con người và năng lực cạnh tranh của các tổ chức đầy năng động của các tập thể con người là
các doanh nghiệp, hệ thống luật pháp, bộ máy công quyền và cán bộ công chức phải được đổi mới thật sự và được huy động để tập trung thực hiện bằng được
những nội dung sau đây trong mối quan hệ giữa bộ máy quản lý hành chính Nhà nước đối với cộng đồng doanh nghiệp và doanh nhân:
a Khuyến khích hoạt động kinh doanh đúng đắn, minh bạch, cạnh tranh lành mạnh, song song với việc nghiêm khắc trừng phạt những hành vi gian lận, làm
tổn hại đến lợi ích chung của cộng đồng.
b Hỗ trợ xây dựng và phát triển các hình thức tổ chức liên kết cộng đồng của người sản xuất kinh doanh, từng bước chuyển giao một số nhiệm vụ quản lý và
dịch vụ công cho các tổ chức cộng đồng. c Đổi mới giáo dục, đào tạo trong kinh tế, nhằm xây dựng một đội ngũ
doanh nhân và cơng nhân kỹ thuật có chun mơn sâu và có kỹ năng làm việc tập thể.
d Đổi mới cơ chế sử dụng và chính sách trọng dụng nhân tài kinh tế, tôn trọng tài năng, sự trung thực và lẽ phải trong đánh giá, sử dụng cán bộ; thực hiện
các thang giá trị, các chuẩn mực xã hội và kinh tế theo đúng quy luật và các giá trị đạo đức phổ quát nhất của người Việt Nam.
Chỉ có bằng cách đó, chúng ta mới có thể sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư nhà nước và các tài nguyên, tài sản của quốc gia, phát huy được LTCT
quốc gia, đưa đất nước ta tiến vào kỷ nguyên hội nhập và cạnh tranh quốc tế thắng lợi.
2.2.Về quy hoạch.
Rà soát và điều chỉnh quy hoạch phát triển nuôi trồng thuỷ sản kết hợp với việc lập các dự án đầu tư cụ thể, gắn với qui hoạch phát triển thuỷ lợi và đê biển
chung trên địa bàn, nâng cao hiệu quả đầu tư và sử dụng có hiệu quả đất đai mặt nước vào ni trồng thuỷ sản.
Bộ Thuỷ sản trong xây dựng quy hoạch hệ thống đê biển và phê duyệt các dự án đầu tư xây dựng đê biển có liên quan đến ni trồng thuỷ sản.
Bộ Thuỷ sản phải phối hợp chặt chẽ với Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn trong việc quy hoạch và xác định cụ thể số lượng các trại giống của từng
vùng, từng địa phương, đặc biệt là các trại sản xuất giống tôm, cá cho nhu cầu nuôi đại trà cung cấp nguyên liệu cho xuất khẩu.

2.3. Về thị trường:


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (90 trang)

×