1. Trang chủ >
  2. Khoa Học Tự Nhiên >
  3. Môi trường >

Nguyên tố vết

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.26 MB, 69 trang )


- Thuốc trừ sâu - Dầu mỡ
- Chất thải của người và động vật nuôi - BOD
- Vi sinh vật gây bệnh - Tác nhân vật lý: mùi, màu, vị, độ đúc
- Độc, tác động nhanh đến thủy sinh vật - Chất lượng nước, oxy hòa tan
- Chất lượng nước, oxy hòa tan - Phú dưỡng
- Tác động đến sức khỏe con người - Giảm chất lượng nước
Nguồn: Stanley E. Manahan, Environmental chemistry, 2000

6.3.1. Nguyên tố vết


Là những nguyên tố có hàm lượng rất nhỏ trong các mẫu nước phân tích, thơng thường chỉ vài ppm đến vài chục ppb. Một số nguyên tố vết là chất dinh dưỡng cần thiết
cho sinh vật ở nồng độ rất thấp, tuy nhiên ở nồng độ cao thì độc tính được thể hiện rõ thông qua các tác động lên chức năng sống của cơ thể sinh vật. Nhiều nguyên tố vết tạo liên kết
bền với các nhóm sulfua trong enzim và làm mất hoạt tính của enzim, gây rối loạn q trình tổng hợp protein. Một số nguyên tố vết dạng á kim gây ô nhiễm nước như Asen, Selen rất
được quan tâm hiện nay. 6.3.2. Kim loại nặng
Kim loại nặng là những kim loại có tỷ khối ≥ 5 gcm
3
. Nhóm các kim loại nặng gây ô nhiễm môi trường nước gồm có Cadimi, chì, thuỷ ngân,…
- Cadimi: Cadimi gây ơ nhiễm môi trường nước từ sự thải bỏ trong sản xuất cơng nghiệp nói chung và ngành khai thác khống sản nói riêng. Về tính chất hố học, Cadimi gần giống
với kẽm, hai ngun tố này có quy trình địa hoá gần giống nhau. Tác động của Cadimi lên sức khoẻ con người là rất nguy hiểm, gây tăng huyết áp, phá huỷ mô tế bào máu, đặc biệt là
hồng cầu. - Chì : Chì gây ơ nhiễm mơi trường nước, sự tiêu thụ nhiên liệu hoá thạch, ngành khai thác
khống sản, đặc biệt là vàng. Chì có tác động xấu đến các chức năng của gan, não, đặc biệt ở trẻ em.
- Thuỷ ngân: Thuỷ ngân được tìm thấy trong nhiều khống sản thơng thường trên trái đất, các đa khống chiếm một lượng thuỷ ngân trung bình là 80 ppm. Các nhiên liệu hóa thạch
như than đá, than bùn thường chứa tới 100 ppb hoặc cao hơn. Thuỷ ngân hữu cơ có độc tính cao hơn dạng vơ cơ và thường được sử dụng trong nhiều sản phẩm thuốc trừ sâu, diệt
nấm. Trong giai đoạn từ năm 1953 đến 1960, tại vịnh Minamata, Nhật Bản có tổng số 43 người tử vong trong tổng số 111 người nhiễm độc thuỷ ngân, nồng độ thuỷ ngân trong cá
khoảng 5-10 ppm. 6.3.3. Các chất hữu cơ
Các chất hữu cơ tổng hợp như chất dẻo, chất màu, thuốc trừ sâu, chất phụ gia,… được sử dụng nhiều trong thế kỉ 20. Hiện nay, các chất này vẫn đóng vai trò quan trọng đối
với con người. Tuy nhiên, các chất này độc và khó phân huỷ sinh học, đặc biệt là nhóm chất hữu cơ chứa vòng thơm, các hợp chất cơ kim, cơ clo và cơ phốtpho.
- Hoá chất bảo vệ thực vật: Hiện có hơn 10.000 loại hố chất bảo vệ thực vật khác nhau bao gồm thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thuốc diệt nấm, kí sinh trùng… và các loại phân
bón vơ cơ. Các hố chất bảo vệ thực vật thường là các hợp chất cơ clo, cơ phốtpho và cơ kim do đó độc tính cao, tồn tại lâu trong môi trường đất và bị rửa trôi tích l trong mơi
trường nước làm ơ nhiễm mơi trường nước. Hiện nay, tồn lưu DDT trong môi trường nước tại các vùng cửa sông ven biển là phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Vấn đề sẽ trở nên
khó giải quyết khi DDT xâm nhập và chuyển hố trong các chuỗi thức ăn và mạng lưới thức ăn.
- Chất tẩy rửa: Các dạng của chất tẩy rửa như chất hoạt động bề mặt, chất phụ gia bổ sung cho chất tẩy rửa chính tạo mơi trường kiềm theo ý muốn khi được đưa vào môi
trường nước sẽ làm giảm khả năng lắng đọng của các chất rắn trong thành phần của nước, làm giảm hoặc ức chế khả năng phát triển của vi sinh vật, do đó làm giảm q trình tự làm
sạch của mơi trường nước.
- Dầu mỏ: Các sản phẩm có liên quan đến dầu mỏ, các hoạt động vận chuyển và tiêu thụ dầu mỏ.
- Các chất vô cơ: Các kim loại nặng và các nguyên tố vết: As, Hg, Cr, Cu, Cd…tồn tại trong các sản phẩm quặng, trầm tích. Các kim loại nặng thường có tính chất tích tụ, cơ
thể sinh vật khó sử dụng, đào thải ra khỏi hệ sinh thái.
- Các vi sinh vật gây bệnh: Sinh vật có mặt trong môi trường nước ở nhiều dạng
khác nhau. Bên cạnh các sinh vật có ích có nhiều nhóm sinh vật gây bệnh hoặc truyền bệnh cho người và sinh vật. Trong số này, đáng chú ý là các loại vi khuẩn, siêu vi khuẩn và ký
sinh trùng gây bệnh như các loại ký sinh trùng bệnh tả, lỵ, thương hàn, sốt rét, siêu vi khuẩn viêm gan B, siêu vi khuẩn viêm não Nhật bản, giun đỏ, trứng giun v.v...
Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới năm 1992, nước bị ô nhiễm gây ra bệnh tiêu chảy làm chết 3 triệu người và 900 triệu người mắc bệnh mỗi năm. Ðã có năm số người bị
mắc bệnh trên thế giới rất lớn như bệnh giun đũa 900 triệu người, bệnh sán máng 600 triệu người.

6.4. Các thông số xác định ơ nhiễm nước


Mỗi quốc gia có khung tiêu chuẩn quy định riêng đối với chất lượng nước cho các mục đích sử dụng khác nhau. Tuy nhiên cần quan tâm tới một số thông số sau:
1. Độ pH: giá trị pH thông thường của nước đạt ở mức 6,5 – 7,5 tuỳ thuộc vào nguồn nước. Khi nước quá kiềm hoặc quá axit sẽ tác động tới quá trình hồ tan,
rửa trơi các kim loại nặng, lựa chọn phương pháp xử lý nước. Giá trị pH phụ thuộc trực tiếp vào nồng độ các Ion HCO
3 -
, H
+
, OH
-
. 2. Độ cứng: phụ thuộc vào nồng độ Ca
+
, Mg
+
, nước có độ cứng 50 mgl là nước mền, độ cứng trung bình từ 50 – 100 mgl. Độ cứng cao ảnh hưởng tới thời gian sư
dụng và tính an toàn của nồi hơi. 3. Độ đục: bao gồm các hạt rắn có nguồn gốc vơ cơ và hữu cơ tồn tại ở trạng thái lơ
lửng trong nước, làm giảm tính thấu quang của nước. 4. Chất rắn tổng số Tss: tính bằng lượng chất rắn còn lại sau khi sấy 1l nước ở
105
C. 5. Hàm lượng oxy hoà tan DO: là lượng oxy hoà tan trong một đơn vị thể tích
nước. Chỉ số DO có ý nghĩa rất lớn đối với thuỷ sinh vật. 6. Nhu cầu oxy sinh hoá BOD: là lượng oxy cần thiết để sinh vật oxy hố các chất
ơ nhiễm hữu cơ chất dễ phân huỷ sinh học.

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (69 trang)

×