1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Vai trò và giá trị pháp lý của thoả thuận trọng tài

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (418.55 KB, 71 trang )


Thông qua TTTT, các bên gián tiếp thỏa thuận khước từ thẩm quyền xét xử của tòa án quốc gia.
Như vậy, yếu tố cơ bản nhất trong phương thức trọng tài phải là yếu tố thỏa thuận. Nếu khơng có thỏa thuận, sẽ khơng có trọng tài

1.2. Vai trò và giá trị pháp lý của thoả thuận trọng tài


1.2.1. Giá trị pháp lý của thoả thuận trọng tài Nếu không có thỏa thuận trọng tài, sẽ khơng có trọng tài.
Nếu trọng tài được tiến hành không dựa trên cơ sở thỏa thuận thì trọng tài này bị pháp luật coi là vô hiệu.Khi đã thỏa thuận, các bên phải thực hiện các
nghĩa vụ phát sinh từ các thỏa thuận này và không bên nào được đơn phương thay đổi hoặc vi phạm nghĩa vụ trọng tài.Nếu một bên vi phạm, bên kia có
quyền u cầu tòa án can thiệp buộc bên vi phạm phải thực hiện nghĩa vụ hoặc nếu khơng, tòa án sẽ áp dụng quy định của pháp luật để cho TTTT được thực
hiện.Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ TTTT không dẫn đến chế tài phạt như trong chế tài phạt hợp đồng.
1.2.2. Vai trò của thoả thuận trọng tài trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại
Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại tại Việt Nam : Hiện nay, khi soạn thảo các điều khoản về giải quyết tranh chấp trong Hợp
đồng thương mại, các bên trong quan hệ giao dịch thường quy định việc giải quyết tranh chấp bằng phương thức Trọng tài thương mại, đặc biệt là khi quan
hệ giao dịch này có yếu tố nước ngồi. Từ khi Chính phủ nỗ lực hồn chỉnh khung pháp lý cho hoạt động Trọng
tài bằng việc ban hành Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại đã thực sự chuyển biến và mang lại
các dấu hiệu tích cực, từ việc mở rộng phạm vi hoạt động và quyền hạn của các Trung tâm Trọng tài sau đây gọi tắt là TTTT đến sự quan tâm thực sự từ các cá
nhân và tổ chức kinh doanh trong mọi lĩnh vực.
4
Theo quy định tại Pháp lệnh cũng như từ kết luận thực tế, Trọng tài chỉ có thẩm quyền xét xử nếu giữa các bên tồn tại một thỏa thuận chọn Trọng tài để
giải quyết tranh chấp, phải một thỏa thuận trọng tài cụ thể, rõ ràng và theo đúng quy định của Pháp luật và Quy tắc tố tụng Trọng tài của TTTT.
1. Về vấn đề thẩm quyền của Trọng tài thương mại tại Việt Nam Để giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng, tổ
chức và cá nhân kinh doanh phải có thỏa thuận với nhau một điều khoản về chọn Trọng tài, chọn TTTT hoặc Trọng tài viên của TTTT để giải quyết.
Tuy nhiên, nếu đã có thỏa thuận trọng tài nhưng thỏa thuận trọng tài khơng có giá trị pháp lý thì Trọng tài cũng khơng có thẩm quyền giải quyết, khi đó nếu
Trọng tài cụ thể là TTTTTrọng tài viên vẫn tiến hành giải quyết trong trường hợp này, quyết định trọng tài đó sẽ bị hủy. Một khi khơng có thỏa thuận trọng tài
hoặc thỏa thuận trọng tài vơ hiệu thì Tòa án có quyền ra quyết định hủy quyết định trọng tài nếu bên yêu cầu chứng minh được rằng Hội đồng Trọng tài đã ra
quyết định trọng tài thuộc một trong hai trường hợp này. Từ phân tích đó, có thể khẳng định rằng, thỏa thuận trọng tài được xem là
vấn đề then chốt và có vai trò quyết định đối với việc áp dụng Trọng tài như một phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, hay nói cách khác khơng
có thỏa thuận trọng tài thì khơng có việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có thể là i điều khoản về giải quyết tranh chấp đã
được ghi trong hợp đồng hoặc ii thỏa thuận riêng, có thể là một Phụ lục đính kèm tại thời điểm ký Hợp đồng hoặc được các bên ký kết sau khi phát sinh tranh
chấp. Thời điểm thỏa thuận về giải quyết trọng tài như vậy, theo tác giả, là rất thoáng và linh hoạt cho các bên khi lực chọn, cho nên các bên chỉ cần quan tâm
vấn đề là nội dung của điều khoản này là như thế nào cho đúng quy định thì việc giải quyết sẽ được thực hiện tại TTTT đó.
Thực tế, để tránh những rắc rối phát sinh khi xảy ra tranh chấp, các bên nên lập điều khoản trọng tài mà các TTTT khuyến khích, tạm gọi là các Điều khoản
mẫu model clauses mà các Trung tâm Trọng tài thường ghi trên website hay
5
trong các giới thiệu của mình. Cụ thể hơn, các bên có thể thỏa thuận cơ bản rằng “Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải
quyết chung thẩm tại [tên của TTTT]” All disputes originated from this contract shall be setted by [name of Arbitration Center].
Các bên liên quan cũng cần chú ý đến hiệu lực của Thỏa thuận trọng tài, để thỏa thuận này ràng buộc các bên cũng như ràng buộc các cơ quan tố tụng thì tại
thời điểm có tranh chấp, thỏa thuận này phải còn giá trị pháp lý. Qua TTTT, tác giả được biết rằng vẫn có nhiều trường hợp các bên đã có
thỏa thuận trọng tài nhưng thỏa thuận này khơng còn giá trị nữa khi có tranh chấp mà đến khi TTTT từ chối giải quyết thì các bên mới biết. Có thể hình dung
qua một trường hợp cụ thể, rằng các bên đã có thỏa thuận tại Hợp Đồng nhưng tại Phụ lục lại lựa chọn Tòa án giải quyết hoặc tại thời điểm các bên ghi lời khai
khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ kiện; rằng chọn Tòa án, khi đó, theo quy định của Bộ luật Tố Tụng Dân Sự hiện hành, vụ kiện không thuộc thẩm quyền của
Trọng tài mà thuộc về Tòa án. Điều đó có nghĩa là, thỏa thuận Trọng tài nên quy định thật rõ ràng.
2. Các góc nhìn pháp lý Theo quy định tại Pháp lệnh thì thỏa thuận Trọng tài chỉ có giá trị pháp lý
đối với các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại theo sự thỏa thuận của các bên.
Theo đó, các hoạt động thương mại sẽ bao gồm nhưng không giới hạn các ngành nghề được liệt kê sau đây theo quy định của Pháp lệnh, đó là hành vi
thương mại nào mà một bên là cá nhântổ chức thực hiện như mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, phân phối, đại diện, đại lý, ký gửi, thuê, xây dựng, tư vấn, kỹ
thuật; li-xăng, đầu tư, tài chính - ngân hàng, bảo hiểm… Nó bao gồm nhưng khơng giới hạn bởi lẽ Pháp lệnh này còn gắn thêm một câu mà xem như việc liệt
kê xem các hành vi trên là khơng có ý nghĩa, đó là Trọng tài còn giải quyết “các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật”.
6
Điều đó có nghĩa rằng, bất cứ hoạt động thương mại nào theo quy định của pháp luật chung, các bên có thể bắt đầu định hướng việc giải quyết tranh chấp
bằng việc ký kết hợp đồng có điều khoản về thỏa thuận trọng tài. Vấn đề tiếp theo là năng lực và thẩm quyền ký kết của các bên, pháp luật
chỉ quy định khi một bên ký kết thỏa thuận Trọng tài khơng có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì thỏa thuận trọng tài vơ hiệu. Cho dù các cơ quan tài phán Việt
Nam đang có những cách hiểu khác nhau về quy định “năng lực hành vi dân sự” và “năng lực pháp luật dân sự” trong trường hợp này.
Vấn đề đặt ra là nếu trường hợp một bên khơng có năng lực dân sự, ví dụ như khi xảy ra tranh chấp bên đi kiện không chứng minh được sự tồn tại của bên
kia có thể bị Trọng tàiTòa án xem là khơng tồn tại thì thỏa thuận trọng tài có vơ hiệu hay khơng, ở đây, pháp lệnh khơng nêu rõ.
Điều đó có nghĩa là, có thể trong trường hợp này TTTTTòa án sẽ xác định một bên xác lập thỏa thuận không hiện hữu nên thỏa thuận Trọng tài sẽ bị coi là
khơng có giá trị pháp lý. Từ thực tế và xét trong mối tương quan với quy định trên, tác giả muốn
định hướng rằng, đối với những đối tác lớn, có uy tín trên thương trường thì có thể thỏa thuận giải quyết bằng trọng tài thương mại; còn đối với các đối tác ban
đầu, quy mô kinh doanh và sự ổn định pháp lý chưa rõ ràng thì nên chăng cần phải xem xét kỹ có nên thỏa thuận giải quyết bằng trọng tài hay không.
Người ký thỏa thuận trọng tài khơng có thẩm quyền ký kết theo quy định của pháp luật có thể dẫn đến hợp đồng bị vô hiệu. Hiện nay việc ký kết hợp
đồng không phải lúc nào cũng do những người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, mà có thể là bất kỳ người đại diện theo ủy quyền hoặc thậm chí là
trưởng một bộ phận nghiệp vụ thực hiện việc ký kết. Thế thì thỏa thuận Trọng tài theo Hợp đồng do những người được ủy quyền này có bị xem là vô hiệu hay
không? Kết quả từ thực tế là tùy vào quan điểm và các nhìn nhận của các
TTTTTòa án.
7
Khi xác lập thỏa thuận Trọng tài, các bên nên thỏa thuận rõ ràng về đối tượng tranh chấp hay tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, nếu phát hiện
thấy có vấn đề chưa rõ ràng hoặc sai lệch thì phải thỏa thuận bổ sung nếu khơng thì thỏa thuận có thể bị xem là vơ hiệu vàhoặc Trọng tài khơng có thẩm quyền
xét xử. Theo đó, các bên khơng nên thỏa thuận chung chung như “nếu có tranh
chấp sẽ nhờ trọng tài Việt Nam giải quyết” hoặc ghi sai tên của TTTT. Cho dù, trên thực tế việc xác định thỏa thuận trọng tài tùy thuộc vào quan điểm của các
TTTTTòa án. Tuy nhiên theo định hướng của tác giả bài viết, các bên khi thỏa thuận điều khoản chọn TTTT khơng nên để rơi vào tình trạng ghi sai tên hoặc
ghi không rõ ràng tên TTTT, để tránh rắc rối phát sinh. Các bên liên quan cũng cần biết một quy định đặc thù về giải quyết bằng
trọng tài tại Việt Nam là việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, sự vô hiệu của hợp đồng không ảnh hưởng đến hiệu lực của điều khoản trọng tài. Tức là, bất kỳ
thay đổi về hợp đồng mà việc giải quyết tranh chấp đã được các bên thỏa thuận bằng phương thức trọng tài sẽ không làm ảnh hưởng đến thỏa thuận trọng tài, và
Trọng tài hồn tồn có thể giải quyết quyền lợi của các bên khi hợp đồng vô hiệu hoặc các điều khoản khác vơ hiệu.
Để kết lại các góc nhìn pháp lý về thỏa thuận trọng tài, cần lưu ý là việc Trọng tài có thẩm quyền khơng phủ nhận hồn tồn vai trò của Tòa án bởi dù
sao Trọng tài cũng chỉ là là một cơ quan phi Chính phủ nên vẫn cần có sự trợ giúp của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại.
Điển hình nhất là trong việc đề nghị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, nếu quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại hoặc có nguy cơ trực tiếp bị
xâm hại, thì các bên có quyền làm đơn đến Tòa án cấp tỉnh nơi Hội đồng Trọng tài thụ lý vụ tranh chấp yêu cầu áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp
tạm thời. Tuy nhiên, theo Pháp lệnh thì biện pháp này chỉ được tiến hành “trong quá
trình Hội đồng Trọng tài giải quyết vụ tranh chấp”. Nếu Pháp lệnh không quy
8
định khi Trọng tài chưa thụ lý thì các bên có thể u cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hay không? Hạn chế này đối với các bên trong thực tế sẽ phát sinh
những vấn đề về quyền lợi như việc một bên có thể tẩu táncất giấu tài sản để tránh thi hành quyết định. Trong khi đó thỏa thuận ký kết ban đầu rất khó để các
bên có thể lường trước và quy định cụ thể. Do vậy, trong khi chờ đợi Nhà nước có các quy định cụ thể hơn về giải pháp này, bên bị xâm hại nên khởi kiện ra
Trọng tài sớm hơn, thậm chí tận dụng các khoảng thời gian thương lượng thực hiện đồng thời với việc yêu cầu Tòa án can thiệp
4

1.3. Các vấn đề pháp lý về thoả thuận trọng tài


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (71 trang)

×