1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Khi nghiên cứu về luật áp dụng cho thoả thuận trọng tài cũng cần phân

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (418.55 KB, 71 trang )


không hợp pháp theo luật của nước mà các bên đã chọn, nếu họ không đạt được thoả thuận như vậy, theo luật của nước phán quyết trọng tài được tuyên”. Khoản
II điều 38 Luật Trọng tài Brazil quy định: “… phán quyết trọng tài nước ngồi có thể bị từ chối công nhận và thi hành nếu bị đơn chứng minh được rằng thoả
thuận trọng tài khơng có hiệu lực theo luật của nước mà các bên đã chọn, nếu thiếu điều này, theo luật của nước nơi phán quyết trọng tài được tuyên”. Nội
dung tương tự cũng được ghi nhận tại điều 1032b Luật Trọng tài Anh 1996: “Cơng nhận và thi hành phán quyết trọng tài có thể bị từ chối nếu bị đơn chứng
minh được rằng, thoả thuận trọng tài không hợp pháp theo luật của nước các bên đã chấp thuận nó, nếu khơng có điều này, theo luật của nước nơi phán quyết
trọng tài được tuyên.” Hoặc theo điều 342ai luật mẫu trọng tài UNCITRAL: “Một quyết định
chỉ có thể bị tồ án theo quy định tại Điều 6 huỷ trong trường hợp… thoả thuận nói trên khơng có giá trị pháp lý theo luật mà các bên đã chọn để áp dụng hoặc
theo luật của quốc gia nơi quyết định được tuyên trong trường hợp mà các bên không ghi rõ”. Nội dung tương tự cũng được thể hiện tại điều V Công ước
NewYork 1958 về công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài.

2. Khi nghiên cứu về luật áp dụng cho thoả thuận trọng tài cũng cần phân


biệt với luật điều chỉnh năng lực chủ thể các bên ký kết thoả thuận trọng tài capacity. Đây là hai vấn đề khác nhau nhưng có mối liên quan mật thiết với
nhau, một thoả thuận trọng tài chỉ có hiệu lực nếu các bên thoả thuận nó có đầy đủ tư cách chủ thể. Vậy tư cách chủ thể của các bên tham gia thoả thuận trọng
tài được xác định theo cơ sở pháp lý nào? Trong khi các bên tham gia trọng tài được thoả thuận về luật điều chỉnh nội
dung hợp đồng và thoả thuận trọng tài thì họ lại không được phép làm như vậy với việc điều chỉnh năng lực chủ thể ký kết thoả thuận trọng tài. Trên thực tế,
việc xác định năng lực chủ thể ký kết hợp đồng và thoả thuận trọng tài là như nhau và thường được đặt ra trong hai trường hợp: thứ nhất, khi toà án một nước
xem xét yêu cầu huỷ quyết định trọng tài hay từ chối công nhận, thi hành quyết
13
định trọng tài; thứ hai, khi trọng tài xem xét thoả thuận trọng tài có hiệu lực không.
Trong trường hợp thứ nhất, tại điều V1a Cơng ước New York 1958 quy định: tồ án có thể từ chối công nhận và thi hành quyết định trọng tài nếu theo
luật áp dụng đối với các bên, họ khơng có đủ năng lực. Một quy định như vậy không chỉ rõ luật nào sẽ được áp dụng cho vấn đề xác định năng lực chủ thể mà
để mở một khả năng áp dụng luật đa dạng. Tương tự như vậy, Điều 342a luật mẫu UNCITRAL quy định: quyết định trọng tài bị toà án huỷ khi một trong các
bên ký thoả thuận trọng tài không đủ năng lực ký kết thoả thuận trọng tài đó. Cả Cơng ước NewYork và luật mẫu mặc dù không chỉ rõ nhưng đều có khuynh
hướng dựa vào các quy tắc xung đột của nước có tồ án đang có thẩm quyền giải quyết vụ việc để chọn luật điều chỉnh vấn đề năng lực chủ thể ký kết thoả thuận
trọng tài conflict of law rules of the forum. Đại đa số các nước hiện nay đều sử dụng phương pháp chọn luật này cho năng lực chủ thể, và do đó, các quy tắc
xung đột được ghi nhận trong tư pháp quốc tế của nước có tồ án đang có thẩm quyền giải quyết vụ việc sẽ được áp dụng. Các quy tắc này thường là: áp dụng
luật của nước mà các bên mang quốc tịch hay các bên cư trú đối với cá nhân, và luật quốc tịch đối với pháp nhân.
Ở trường hợp thứ hai, các trọng tài viên sẽ giải quyết vấn đề năng lực chủ thể ký kết thoả thuận trọng tài như thế nào? Nhiều quan điểm hiện nay cho rằng,
các trọng tài viên không bắt buộc phải áp dụng các quy tắc xung đột của nơi tiến hành xét xử, bởi vì họ khơng phải là “các phương tiện của hệ thống pháp luật
quốc gia như tồ án quốc gia”. Điều này khơng có nghĩa là các trọng tài viên không quan tâm tới các quy tắc xung đột quốc gia nơi xét xử trọng tài, mà
khuynh hướng chung hiện nay là trọng tài sẽ kết hợp các quy tắc xung đột quốc gia với các quy tắc xung đột trong các điều ước quốc tế về trọng tài được thừa
nhận rộng rãi trên thế giới để tìm ra một quy tắc xung đột chung cho việc xác định năng lực chủ thể ký kết thoả thuận trọng tài . Quy tắc chung này thường là
luật quốc tịch của các bên đối với cả cá nhân và pháp nhân.
14
Một vấn đề cần đề cập tới khi xác định năng lực chủ thể ký kết thoả thuận trọng tài là xác định năng lực chủ thể của quốc gia và các cơ quan nhà nước khi
tham gia trọng tài. Mặc dù xu hướng chấp nhận trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp đang ngày một tăng lên trên thế giới, nhưng không phải tất
cả các quốc gia đều ưa chuộng phương thức này để giải quyết các tranh chấp hợp đồng quốc tế có sự tham gia của nhà nước. Trong khi một số nước khơng có
bất kỳ hạn chế nào đối với trọng tài trong giải quyết tranh chấp hợp đồng mà quốc gia tham gia với tư cách chủ thể, thì một số nước khác, vì những nguyên
nhân lịch sử hay sự định kiến với trọng tài đã miễn cưỡng chấp nhận trọng tài theo trào lưu chung của thế giới. Ở những nước này, việc cấm đoán hay hạn chế
quốc gia và các cơ quan nhà nước tham gia thoả thuận trọng tài được thể hiện khá rõ trong các đạo luật do nhà nước ban hành. Arập Xê út Saudi Arabia là
một ví dụ điển hình của việc cấm đoán triệt để quốc gia hay các cơ quan nhà nước ký kết thoả thuận trọng tài: Nghị quyết số 58 của Hội đồng Bộ trưởng
Arập Xê út 1963 quy định: “Nghiêm cấm tất cả các cơ quan chính phủ chấp thuận trọng tài với tư cách là một phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng
phát sinh giữa các cơ quan này với các cá nhân hay các công ty”. Ở Cộng hồ Pháp, có thể tìm ra một sự hạn chế khả năng trọng tài của quốc gia và cơ quan
nhà nước, sự hạn chế này chỉ áp dụng đối với trọng tài nội địa mà không áp dụng đối với trọng tài quốc tế. Điều này được thể hiện trong vụ San Carlo
251966, nguyên đơn là một cơ quan thuộc Chính phủ Pháp đã kiện ra tồ án Pháp chống lại thuyền trưởng của một con tàu chở hàng lớn trong một hợp đồng
vận chuyển quốc tế. Bị đơn sau đó đã u cầu tồ án từ chối xét xử vụ việc với lý do các bên đã có một thoả thuận trọng tài. Tồ án cấp sơ thẩm the court of
first instance đã bác yêu cầu của bị đơn với lý do, theo luật Pháp, nguyên đơn khơng có khả năng trọng tài khơng được ký thoả thuận trọng tài. Sau đó, bị
đơn đã kháng cáo lên toà án cấp trên, và toà án này đã ra phán quyết rằng: mặc dù cấm đốn đệ trình tranh chấp tới trọng tài theo điều 83 và 1004 của Bộ luật
Tố tụng dân sự là một vấn đề của chính sách nội địa, nhưng điều này sẽ khơng
15
áp dụng đối với hợp đồng quốc tế trong đó có sự tham gia của cơ quan nhà nước. Trong luật Bỉ cũng tìm thấy một sự hạn chế về năng lực chủ thể của các
cơ quan công quyền khi tham gia một thoả thuận trọng tài. Nhà nước chỉ có thể ký thoả thuận trọng tài khi một điều ước quốc tế có liên quan cho phép làm như
vậy Điều 16722 Bộ luật Tư pháp Bỉ 1972 – Belgian Code Judiciare.

3. Ở Việt Nam hiện nay, số vụ tranh chấp có liên quan tới thương mại quốc


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (71 trang)

×