1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Ở Việt Nam hiện nay, số vụ tranh chấp có liên quan tới thương mại quốc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (418.55 KB, 71 trang )


áp dụng đối với hợp đồng quốc tế trong đó có sự tham gia của cơ quan nhà nước. Trong luật Bỉ cũng tìm thấy một sự hạn chế về năng lực chủ thể của các
cơ quan công quyền khi tham gia một thoả thuận trọng tài. Nhà nước chỉ có thể ký thoả thuận trọng tài khi một điều ước quốc tế có liên quan cho phép làm như
vậy Điều 16722 Bộ luật Tư pháp Bỉ 1972 – Belgian Code Judiciare.

3. Ở Việt Nam hiện nay, số vụ tranh chấp có liên quan tới thương mại quốc


tế được xét xử bằng trọng tài không nhiều và tập chung chủ yếu tại Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam VIAC bên cạnh Phòng Thương mại và Cơng
nghiệp Việt Nam. Thực tiễn xét xử trọng tài thương mại quốc tế tại Việt Nam cho thấy, đối với các vấn đề về thoả thuận trọng tài, các trọng tài viên Việt Nam
thường chỉ phải giải quyết sự mập mờ, không rõ nghĩa trong thoả thuận chọn trọng tài giải quyết tranh chấp, mà hiếm khi phải xác định luật áp dụng cho thoả
thuận trọng tài vì vấn đề hiệu lực của nó, đặc biệt là trường hợp các bên tranh chấp không thoả thuận về luật áp dụng cho thoả thuận trọng tài. Hiện chưa có
một phương pháp xác định luật áp dụng cho thoả thuận trọng tài có tính thống nhất trong xét xử trọng tài thương mại quốc tế ở Việt Nam. Có nghĩa là, với mỗi
vụ việc, trọng tài sẽ có cách hành xử khác nhau. Điều này dễ tạo cảm giác tuỳ tiện trong xét xử, và theo chúng tôi là bất lợi trong việc phát triển thị trường
trọng tài Việt Nam trong điều kiện thị trường này đang hết sức nhỏ bé và chưa nhận được nhiều sự quan tâm của giới kinh doanh trong và ngoài nước. Về lâu
dài, khiếm khuyết này cần được khắc phục, góp phần phát triển một thị trường trọng tài Việt Nam ngang tầm với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Liên quan tới việc xác định năng lực chủ thể ký kết thoả thuận trọng tài, điểm a khoản 1 Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 quy định:
“1. Quyết định của trọng tài nước ngồi khơng được cơng nhận và cho thi hành tại Việt Nam trong các trường hợp sau đây: a Các bên ký kết thoả thuận
trọng tài khơng có năng lực để ký kết thoả thuận đó theo pháp luật được áp dụng cho mỗi bên;…”
16
Điều khoản trên là không rõ ràng, bởi nó khơng chỉ ra được “pháp luật được áp dụng cho mỗi bên” là pháp luật nước nào, và thực tế cũng khơng có bất
cứ ngun tắc cụ thể nào giúp cho việc chọn luật điều chỉnh năng lực chủ thể ký kết thoả thuận trọng tài được đưa ra trong các văn bản pháp luật hướng dẫn Bộ
luật Tố tụng dân sự. Sự thiếu vắng của một quy tắc chọn luật như vậy sẽ dẫn tới câu hỏi, toà án Việt Nam sẽ dựa vào các quy tắc xung đột của tư pháp quốc tế
Việt Nam hay của nước nào đó có liên quan để xác định tư cách pháp lý của các chủ thể tham gia thoả thuận trọng tài? Câu hỏi này không thể trả lời dứt khoát
với thực trạng pháp luật hiện nay, và rõ ràng, chúng ta cần phải khắc phục lỗ hổng pháp lý đó càng sớm càng tốt bởi số lượng các phán quyết trọng tài nước
ngồi có u cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam ngày càng tăng lên trong những năm gần đây do quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu
rộng của nước ta. Học tập kinh nghiệm của các nước, liệu chúng ta có thể sử dụng nguyên tắc, áp dụng các quy tắc xung đột của nước có tồ án đang có thẩm
quyền giải quyết vụ việc để chọn luật điều chỉnh vấn đề năng lực chủ thể ký kết thoả thuận trọng tài conflict of law rules of the forum?
Tóm lại, một thoả thuận trọng tài, trong bất kỳ bối cảnh nào, cũng sẽ có hiệu lực nếu phù hợp với các quy định trong luật được các bên thoả thuận. Tuy
nhiên, nếu khơng có sự thoả thuận của các bên, thì khơng có bộ quy tắc nào về chọn luật điều chỉnh thoả thuận trọng tài được sử dụng chung cho các trọng tài
viên. Việc xem xét luật điều chỉnh hiệu lực của thoả thuận trọng tài phụ thuộc vào từng giai đoạn tố tụng trọng tài mà sẽ có những quyết định riêng rẽ, chẳng
hạn, luật nơi tiến hành trọng tài, luật nơi phán quyết được tuyên, luật điều chỉnh nội dung tranh chấp. Vì vậy, để tránh những rắc rối có thể xảy ra trong quá trình
trọng tài, các bên nên dành thời gian để thoả thuận kỹ lưỡng về điều khoản trọng tài cũng như luật áp dụng đối với nó
7
.
7
http:thongtinphapluatdansu.wordpress.com200907063260
17
1.3.3. Thoả thuận trọng tài vô hiệu 1.3.4. Ý nghĩa của thỏa thuận trọng tài
Sẽ khơng có trọng tài nếu khơng có thỏa thuận trọng tài . Khác với tòa án, nơi đương nhiên có thẩm quyền xét xử bất kỳ tranh chấp trong nước nào, trọng
tài chỉ có thẩm quyền xét xử các tranh chấp khi các bên tranh chấp trong nước hoặc có yếu tố nước ngồi có thỏa thuận chọn trọng tài để giải quyết tranh
chấp. Các bên tranh chấp được quyền lựa chọn trọng tài phải là các bên mà, theo
pháp luật trọng tài của mỗi quốc gia, được quyền làm điều đó. Theo Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 của Việt Nam thì đó là các tổ chức, cá nhân kinh
doanh. Theo pháp luật của nhiều quốc gia thì tranh chấp đưa ra giải quyết bằng
trọng tài chỉ khi tranh chấp đó phát sinh từ các hoạt động thương mại. Hoạt động thương mại lại do pháp luật của mỗi quốc gia quy định. Theo Pháp lệnh trọng tài
thì “Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ;
phân phối; đại diện, đại lý thương mại; ký gửi; thuê, cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; li - xăng; đầu tư; tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm
dò, khai thác; vận chuyển hàng hố, hành khách bằng đường hàng khơng, đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của
pháp luật”. Nhìn chung, dù còn một vài điểm chưa thống nhất về các khái niệm kinh doanh và thương mại, chưa rõ ràng như tổ chức, cá nhân kinh doanh,
còn trùng lặp cung ứng dịch vụ và các dịch vụ cụ thể nhưng nhìn chung, các hoạt động thương mại trong Pháp lệnh là phù hợp với Luật mẫu của Liên hợp
quốc về trọng tài. Như vậy, không phải bất kỳ tổ chức, cá nhân nào cũng có thể đưa tranh
chấp ra giải quyết bằng trọng tài. Ngay cả khi một số tổ chức, cá nhân được pháp luật cho phép làm điều này thì khơng phải bất kỳ tranh chấp nào giữa họ
cũng đều có thể giải quyết bằng trọng tài. Đây là điều mà các doanh nghiệp bao
18
gồm các doanh nghiệp được thành lập theo các Luật như Luật Doanh nghiệp, Luật đầu tư nước ngoài, Luật doanh nghiệp Nhà nước, Luật hợp tác xã, hộ kinh
doanh cá thể, các cá nhân góp vốn thành lập doanh nghiệp cần phải biết khi ký kết thoả thuận trọng tài. Chọn trọng tài cũng gần như loại trừ thẩm quyền xét xử
của tòa án. Điều này cần được hiểu một cách đầy đủ. Thứ nhất, việc xét xử nội dung vụ tranh chấp là do trọng tài mà các bên đã chọn giải quyết theo thủ tục tố
tụng mà các bên đã chọn.Thứ hai, quyết định trọng tài buộc các bên phải thực hiện. Thứ ba, các bên vẫn cần phải có sự hỗ trợ của Tòa án khi có khiếu nại về
thoả thuận trọng tài vô hiệu, yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, chỉ định trọng tài viên adhoc và khi có căn cứ pháp luật để đề nghị Tòa án hủy
quyết định trọng tài. Điều thứ ba này sẽ khơng cần thiết nếu các bên tranh chấp có thiện chí trong việc giải quyết tranh chấp và trọng tài khơng để sai sót cơ bản
trong tố tụng. Dù phải “lụy” đến tòa án, trọng tài vẫn là phương thức được doanh nghiệp
ưa chuộng vì họ được quyền tự do định đoạt nhiều hơn, thủ tục xét xử linh hoạt, mềm dẻo hơn, thời gian nhanh hơn và ít rủi ro hơn. Với các giao dịch có yếu tố
nước ngồi, đây là phương thức giải quyết tranh chấp có hiệu quả nhất nếu các quốc gia của các bên tranh chấp đều là thành viên Công ước Liên hợp quốc về
công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngồi Cơng ước New York 1958 với gần 150 quốc gia thành viên.
8
1.3.5. Thực thi thoả thuận trọng tài
Thực tiễn ký kết thoả thuận trọng tài tại Việt Nam
Trọng tài đang dần dần được doanh nghiệp Việt Nam sử dụng trong hoạt động thương mại. Tuy nhiên, do lịch sử cũng như do nhận thức, trọng tài chưa
có một vai trò đúng như nó cần phải có. Mấy chục năm qua, do ảnh hưởng của nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, các doanh nghiệp đã không quan tâm
đến trọng tài. Nhiều doanh nghiệp không phân biệt được sự khác nhau giữa
8
http:www.viac.org.vnvi-VNHomebaivietlienquan200810183.aspx
19
trọng tài kinh tế Nhà nước với trọng tài phi chính phủ, khơng tín nhiệm trọng tài vì thiếu hiệu lực cưỡng chế quyết định trọng tài. Điều này đã khiến cho các
doanh nghiệp không “mặn mà” với trọng tài mà các biểu hiện khá phổ biến là: - Thứ nhất, doanh nghiệp chưa có một thói quen đặt ra câu hỏi là cần lựa
chọn trọng tài hay tòa án khi ký kết hợp đồng và tại sao lại như vậy. - Thứ hai, nếu có chọn trọng tài, họ cũng chỉ quy định một cách chung
chung, khơng chính xác, ví dụ, trong các điều khoản trọng tài họ vừa chọn trọng tài lại vừa chọn tòa án; chọn trọng tài tài A để phúc thẩm trọng tài B; chọn trọng
tài A nhưng lại quy định dùng quy tắc trọng tài B để áp dụng; ghi tên tổ chức trọng tài hoặc ghi quy tắc tố tụng khơng chính xác ... Những điều khoản trọng
tài như vậy rất dễ bị tranh chấp về tính hiệu lực của nó. - Thứ ba, nếu có chọn trọng tài, các bên trong thoả thuận trọng tài cũng chỉ
“mang máng” biết về trọng tài. Họ không hiểu bản chất của phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài hoặc hiểu “mù mờ” về tổ chức trọng tài hoặc
quy tắc tố tụng trọng tài mà họ lựa chọn. Sự thỏa thuận chọn trọng tài, chọn quy tắc, chọn địa điểm xét xử và luật áp dụng lắm khi là do cách quan niệm khá
“hồn nhiên” rằng tranh chấp sẽ không xẩy ra, nếu có xẩy ra thì sẽ thương lượng tiếp
Thực tế cho thấy, khơng thiếu cảnh “dở khóc dở cười” vì những chuyện như vậy. Với trường hợp thứ nhất nêu trên, một số doanh nghiệp Việt Nam, do
khơng chọn trước trọng tài hay tòa án khi có tranh tranh chấp phát sinh trong các vụ kiện có yếu tố nước ngồi, họ khơng biết quyết định như thế nào. Chọn
trọng tài thì đã quá muộn vì đối tác khơng hợp tác, chọn tòa án nước ngồi của đối tác thì vừa sợ, vừa lo. Sợ vì khơng biết thủ tục pháp luật, lo vì chi phí. Chọn
tòa án Việt Nam thì khơng chắc bản án của Tòa án ta có được nước ngồi cơng nhận khơng. Với trường hợp thứ hai nêu trên, khả năng vô hiệu của điều khoản
trọng tài sẽ rất cao. Một điều khoản trọng tài bị coi là vô hiệu sẽ dẫn đến hệ quả phức tạp, nhất là việc quyết định trọng tài có thể bị hủy, vụ tranh chấp sẽ bị kéo
dài không cần thiết. Với trường hợp thứ ba nêu trên, sẽ làm cho nhiều doanh
20
nghiệp bị bất ngờ, lúng túng vì trước đó, họ khơng biết gì hơn về trọng tài, về pháp luật họ chọn, quá trình trọng tài hoặc bị kéo dài, hoặc có rủi ro.
Tóm lại, cả ba trường hợp trên đều nên tránh.
Làm gì trong thời gian tới?
Kinh tế ngày càng phát triển, các giao dịch thương mại càng nhiều, nhất là trong điều kiện đất nước hội nhập, khả năng xẩy ra tranh chấp sẽ thường
xuyên hơn. Việc quyết định lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp là một quyết định không kém phần quan trọng hơn so với các quyết định kinh
doanh khác như chọn đối tác, giá cả, chất lượng... Đơn giản chỉ vì nếu khơng có một điều khoản tốt thì khi “thương vụ” bị đổ bể, nguy cơ trắng tay sẽ là
hiện thực. Có lẽ vì vậy mà doanh nghiệp nên tìm hiểu kỹ hơn về các phương thức
giải quyết tranh chấp ngồi tòa án như thương lượng, trung gian, hòa giải, cũng như các phương thức tài phán như trọng tài, tòa án. Hiểu được sự mạnh,
yếu của từng phương thức sẽ giúp doanh nghiệp chủ động, bình tĩnh hơn trước nguy cơ một bên gây thương tổn cho “thương vụ” của mình.
Khi đàm phán hợp đồng, nên “cắn răng” mà đàm phán về điều khoản giải quyết tranh chấp. Bất kỳ một mong ước tốt đẹp nào “cầu trời” cho tranh
chấp đừng xẩy ra vẫn có thể bị tan biến vì thương trường ẩn chứa bao rủi ro nếu khơng thế thì ai cũng kinh doanh được. Mọi sự né tránh hoặc vì quan
niệm, hoặc vì nể nang đều như cảnh trời quang mây tạnh nhưng lấp ló đâu đó, giơng bão cũng có thể ập đến bất cứ lúc nào.
Khi đã thỏa thuận sẽ chọn phương thức trọng tài thì dứt khốt đừng đại khái, qua loa, làm cho xong chuyện. Hợp đồng như hôn nhân, muốn tính
cuộc vng tròn thì cũng phải “dò cho đến ngọn nguồn lạch sông”. Để chọn tổ chức trọng tài nào vàhoặc quy tắc tố tụng của tổ chức trọng tài nào cũng
phải như vậy. Điều này buộc doanh nghiệp phải hiểu biết cụ thể, chính xác để đừng rơi vào cảnh “râu ông nọ cắm cằm bà kia”. Cũng đừng à ơ chọn luật
nước này, nước nọ mà không biết hoặc khơng biết rõ luật đó có phù hợp hay
21
không. Địa điểm trọng tài cũng là điều cần cân nhắc, khơng chỉ vì nó ảnh hưởng đến “túi tiền” của mình mà nó còn liên quan đến thoả thuận trọng tài
và quy tắc tố tụng. Nói tóm lại, đây không phải là điều đơn giản mà phức tạp như bao điều khoản hợp đồng khác. “Tính trước sẽ đi xa”. Sự chuẩn bị cho
điều khoản trọng tài chu đáo khơng nằm ngồi kết luận này
9
.
II. Giới thiệu về Luật Trọng tài thương mại Việt Nam năm 2010LTTTM 2010
2.1 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật trọng tài thương mại ở Việt Nam
Vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 ở nước ta đã có các tòa án thương mại và các quy tắc trọng tài trong luật tố tụng dân sự.Tuy nhiên, do nhiều lý do và
hoàn cảnh khác nhau, trọng tài chưa được biết đến và sử dụng một cách phổ biến.
Năm 1963 và 1964 ở miền Bắc nước ta đã thành lập Hội đồng trọng tài Ngoại thương và Hội đồng trọng tài Hàng hải.Vào những năm 70 của thế kỷ
trước, một hệ thống các trọng tài kinh tế từ huyện, tỉnh đến Trung ương đã được thành lập để giải quyết tranh chấp giữa các xí nghiệp quốc doanh, các hợp tác
xã.Nhưng lúc bấy giờ, các trọng tài kinh tế thực chất là những cơ quan hành chính nhà nước có chức năng giải quyết tranh chấp giữa các xí nghiệp nhà nước
mà chưa thực hiện được vai trò trọng tài. Trong khi đó tòa án nhân dân khơng có thẩm quyền giải quyết các loại tranh chấp này mà chỉ có thẩm quyền giải quyết
các tranh chấp dân sự giữa các cá nhân với nhau, chủ yếu là các vấn đề hơn nhân và gia đình hoặc tranh chấp liên quan đến hàng hóa có mục đích để sử dụng cá
nhân và tiêu dùng. Từ năm 1998 hệ thống trọng tài kinh tế đã giải thể. Việc giải quyết các tranh chấp từ đó đã được thực hiện bằng hai con đường: Tòa kinh tế
thuộc hệ thống Tòa án nhân dân và các Trung tâm trọng tài kinh tế. Để đảm bảo cơ sở pháp lý cho hoạt động của các trung tâm trọng tài thương mại thay cho
9
http:www.viac.org.vnvi-VNHomebaivietlienquan200810183.aspx
22
hoạt động của các Trọng tài kinh tế, ngày 25 tháng 2 năm 2003 Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Trọng tài Thương mại, có hiệu lực thi hành
từ ngày 01 tháng 7 năm 2003 1.Sự cần thiết phải ban hành Luật Trọng tài Thương mại Việt Nam năm 2010
Pháp lệnh trọng tài năm 2003 về cơ bản phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế trong việc điều chỉnh các vấn đề chủ yếu của Trọng tài như quy định về
hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, điều kiện trở thành Trọng tài viên, quy định về trọng tài vụ việc, mở rộng thẩm quyền chọn trọng tài viên, ghi nhận mối quan hệ
giữa Trọng tài và Tòa án bằng một loạt các quy định cụ thể như hỗ trợ thi hành thỏa thuận trọng tài, chỉ định Trọng tài viên, giải quyết khiếu nại về thẩm quyền
của Hội đồng trọng tài, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, giải quyết yêu cầu hủy quyết định trọng tài, lưu trữ hồ sơ trọng tài v.v…
Sự ra đời của Pháp lệnh là mốc quan trọng trong lịch sử phát triển của pháp luật về trọng tài của Việt Nam.Đó là nền tảng của pháp lý cho Trọng tài Việt
Nam tiếp cận, hòa nhập với Trọng tài của các nước phát triển.Từ đây, Trọng tài được hiểu là phương thức giải quyết tranh chấp hoàn toàn do các bên thỏa thuận,
lựa chọn. Tuy nhiên qua 6 năm áp dụng cùng với sự xuất hiện của nhiều nhân tố mới như Việt Nam đã là thành viên của tổ chức Thương mại Thế giới, với sự
xuất hiện của đạo luật mới: Luật Thương mại 2005, Luật Đầu tư 2005 v.v…một số quy định của Pháp lệnh đã bộc lộ bất cập và khơng còn phù hợp với tình hình
mới.Những bất cập này đã được trình bày kỹ trong Báo cáo tổng kết thi hành Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003.
Chủ trương khuyến khích sử dụng trọng tài trong việc giải quyết các tranh chấp giữa các bên trước hết xuất phát từ nhu cầu của các chủ thể kinh doanh, các
thể nhân và pháp nhân muốn giải quyết vụ việc của mình một cách thuận lợi, nhanh chóng và có hiệu quả.Chính nhu cầu giải quyết tranh chấp một cách
nhanh chóng, hiệu quả, đảm bảo bí mật cho các bên tranh chấp đã làm nảy sinh nhu cầu cấp thiết phải xây dựng Luật Trọng tài thương mại.
23

2.2 Một số nội dung cơ bản của Luật Trọng tài thương mại Việt Nam năm 2010


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (71 trang)

×