1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Một số nội dung cơ bản của Luật Trọng tài thương mại Việt Nam năm 2010

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (418.55 KB, 71 trang )


2.2 Một số nội dung cơ bản của Luật Trọng tài thương mại Việt Nam năm 2010


Luật Trọng tài thương mại năm 2010 có 13 chương và 82 điều. Cụ thể như sau: Chương I Những quy định chung gồm 15 Điều; Chương II Thỏa thuận
trọng gồm 4 Điều; Chương III Trọng tài viên gồm 3 Điều; Chương IV Trung tâm trọng tài gồm 7 Điều; Chương V Khởi kiện gồm 8 điều; Chương VI Hội
đồng trọng tài gồm 9 Điều; Chương VII Biện pháp khẩn cấp tạm thời gồm 6 Điều; Chương VIII Phiên họp giải quyết tranh chấp gồm 6 Điều;Chương IX
Phán quyết trọng tài gồm 4 Điều; Chương X Thi hành phán quyết trọng tài gồm 3 Điều;Chương XI Hủy phán quyết trọng tài gồm 5 Điều; Chương XII Tổ chức
và hoạt động của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam gồm 4 Điều;Chương XIII Điều khoản thi hành gồm 3 Điều.
Những nội dung và điểm mới của Luật trọng tài thương mại năm 2010 so với Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003
10
:

1. Chương I: Những quy định chung


1.1.
Chương I: Những quy định chung gồm 15 điều. Ngoài phạm vi điều chỉnh được xác định như trên, chương này có những quy
định mang tính ngun tắc cơ bản dưới đây đối với việc tổ chức và hoạt động của trọng tài.
1.2.
Thứ nhất, Luật kế thừa các nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đã được quy định trong Nghị định số 116CP năm
1996 và Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, theo đó việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài phải dựa trên thoả thuận
trọng tài, việc giải quyết bằng trọng tài không công khai, phán quyết trọng tài là chung thẩm, và nhấn mạnh nếu đã có thoả
thuận trọng tài thì tồ án phải từ chối thụ lý. Luật cũng nhấn mạnh quyền của các bên tranh chấp tự do thoả thuận ngôn ngữ
sử dụng trong tố tụng trọng tài, ví dụ tiếng Việt hoặc một ngơn
10
http:www.vibonline.com.vn Thuyết minh chi tiết Luật trọng tài
24
ngữ khác mà các bên lựa chọn Điều 10. Trong bối cảnh Luật hoà giải đang được soạn thảo, các vấn đề chi tiết về thủ tục hoà
giải sẽ được Luật hoà giải quy định. Luật trọng tài có một quy định tại Điều 7, quy định những quan hệ liên quan giữa thủ tục
hoà giải và tố tụng trọng tài, trong đó ghi nhận tính khơng cơng khai của thủ tục hồ giải. Mọi thơng tin trao đổi trong q trình
hồ giải sẽ khơng được coi là chứng cứ tại trọng tài; nếu hồ giải khơng thành các hồ giải viên về ngun tắc khơng được chỉ
định làm trọng tài, nếu các bên khơng có thoả thuận khác.
1.3.
Thứ hai, hoạt động của trọng tài sẽ phát triển mạnh nếu nhận được hỗ trợ hiệu quả từ các cơ quan tư pháp, nhất là các toà án.
Một mặt Luật xác định tồ án nào có thẩm quyền hỗ trợ trọng tài Điều 8, mặt khác Luật cũng giới hạn hoạt động hỗ trợ của toà
án trong 7 loại hoạt động cụ thể như: hỗ trợ thu thập chứng cứ, bảo đảm sự có mặt của người làm chứng, hỗ trợ áp dụng các
biện pháp khẩn cấp tạm thời, chỉ định, thay đổi trợng tài viên, tuyên thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc giải quyết yêu cầu huỷ
phán quyết trọng tài Điều 9. Đây sẽ là những điểm mấu chốt giúp phát huy được những lợi thế của trọng tài với tư cách một
hình thức tài phán tư linh hoạt, nhanh gọn, bí mật và thuận tiện do các bên dân sự tự do lựa chọn, song nhận được sự giúp đỡ,
bảo trợ của cơ quan tư pháp.
1.4.
Luật kế thừa các quy tắc của tư pháp quốc tế, theo đó hội đồng trọng tài sẽ áp dụng pháp luật phù hợp nhất trong các tranh chấp
có yếu tố nước ngoài. Điều 12 của Luật nhấn mạnh quyền của hội đồng trọng tài có thể áp dụng thơng lệ, tập quán để giải
quyết việc tranh chấp, nếu việc áp dụng các quy tắc đó khơng trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam nguyên
25
tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam được hiểu như trật tự công cộng được thừa nhận ở Việt Nam.

2. Chương II : Thoả thuận trọng tài


2.1.Khác với tố tụng toà án, tố tụng trọng tài chỉ được tiến hành khi có thoả thuận trọng tài được xác lập có hiệu lực giữa các bên
tranh chấp. Vì vậy, nội dung này được quy định trong một chương riêng, làm cơ sở cho toàn bộ thủ tục tố tụng trọng tài.
Khơng có thoả thuận trọng tài thì khơng có tố tụng trọng tài.
2.2.
Chương II: Thoả thuận trọng tài gồm 4 điều. Kế thừa các quy định của Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, Luật trọng
tài quy định thoả thuận trọng tài phải được xác lập bằng văn bản và cụ thể hố những tình huống ý chí thoả thuận của các bên
được xem là đã được ghi nhận bằng văn bản. Quy định này của điều 14 của Luật giải thích rõ nghĩa khái niệm “được xác lập
bằng văn bản” và bảo vệ một cách hợp lý nhất ý chí trung thực của các bên khi xác lập thoả thuận trọng tài.
2.3.
Khắc phục sự không rõ ràng của Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003 về các tình huống có thể làm vơ hiệu thoả thuận trọng
tài, điều 16 của Luật giới hạn 5 tình huống theo đó thoả thuận trọng tài vơ hiệu: thứ nhất, do lĩnh vực tranh chấp không thuộc
thẩm quyền của trọng tài; thứ hai, do người xác lập thoả thuận không có năng lực đại diện; thứ ba, do các bên tham gia thoả
thuận thiếu năng lực hành vi; thứ tư, do vi phạm về hình thức thoả thuận phải được xác lập bằng văn bản; thứ năm, do các bên
bị đe doạ, cưỡng ép, lừa dối mà không thể tự nguyện bày tỏ ý chí của mình.
2.4.
Theo Luật trọng tài Điều 15, đối với các tranh chấp giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng, dù đã được ghi nhận trong các điều
kiện chung về cung cấp hàng hoá, dịch vụ do nhà sản xuấtcung
26
ứng cung cấp sẵn, thoả thuận trọng tài chỉ có hiệu lực nếu được người tiêu dùng xác nhận bằng một văn bản riêng. Thông
thường so với các doanh nghiệp, người tiêu dùng thường ở một vị trí có nhiều nguy cơ bị lạm dụng bởi các điều kiện và điều
khoản trong hợp đồng in sẵn của người bán hàng hoặc người cung cấp dịch vụ, do vậy cần có quy định để bảo vệ họ trong các
tình huống cần thiết. Cách thiết kế quy định này đảm bảo tính linh hoạt, theo đó nếu người tiêu dùng hài lòng với điều khoản
trọng tài, tranh chấp vẫn được giải quyết bằng trọng tài như hai bên đã thoả thuận trong hợp đồng in sẵn. Ngược lại, nếu cảm
thấy thiệt thòi bởi thoả thuận đó, người tiêu dùng cần có cơ hội để xem xét và quyết định, nếu đồng ý với thoả thuận trọng tài thì
xác nhận vào một văn bản riêng. Đây là một quy định riêng của Luật trọng tài nhằm bảo vệ người tiêu dung, bổ sung cho các
nguyên tắc chung khác đang được xây dựng trong Luật bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.

3. Chương III: Trọng tài viên


3.1.Trọng tài viên là người tham gia hội đồng trọng tài. Chương III gồm 3 điều, quy định về tiêu chuẩn, quyền và nghĩa vụ cũng như
tổ chức hiệp hội của các trọng tài viên. Về nguyên tắc, trọng tài viên do các bên đương sự tự chọn dựa trên niềm tin của họ vào
tính chun nghiệp, kiến thức chun mơn, uy tín của các cá nhân đó. Cũng như vậy, các tổ chức trọng tài khi bổ nhiệm các
cá nhân vào danh sách trọng tài viên cũng tự xác định các tiêu chuẩn để bảo vệ uy tín cho tổ chức của mình. Vì vậy, trên thực
tế trọng tài viên được chọn qua q trình sàng lọc mang tính xã hội này. Qua nghiên cứu so sánh, do đặc điểm của nền kinh tế
chuyển đổi, chỉ có pháp luật về trọng tài của Trung Quốc và Việt
27
Nam và một số ít nước khác mới có các quy định về tiêu chuẩn trọng tài viên.
3.2.Kế thừa các quy định của Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, Luật trọng tài vẫn có các quy định về tiêu chuẩn tối thiểu
nhằm hình thành một đội ngũ trọng tài viên có năng lực, có tính chun nghiệp, có chun mơn và uy tín xã hội cao ở Việt Nam.
3.3.Khắc phục những hạn chế của Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, Luật trọng tài khơng u cầu trọng tài viên phải có
quốc tịch Việt Nam. Người nước ngồi cũng có thể được chỉ định làm trọng tài viên ở Việt Nam nếu các bên tranh chấp hoặc
tổ chức trọng tài tín nhiệm họ. Quy định này đáp ứng nhu cầu thực tế trong giai đoạn Việt Nam tăng cường hội nhập kinh tế
quốc tế.
3.4.
Luật quy định mang tính nguyên tắc định hướng về quyền và nghĩa vụ của trọng tài viên. Trên thực tế, quy tắc nghề nghiệp và
đạo đức trọng tài viên sẽ được quy định bởi từng tổ chức trọng tài và hiệp hội trọng tài.

4. Chương IV: Tổ chức trọng tài


4.1.
Trong tố tụng trọng tài, hội đồng trọng tài mới đóng vai trò chủ chốt, tổ chức trọng tài và bộ máy thư ký thường chỉ cung cấp
các dịch vụ mang tính văn phòng. Bởi vậy những vấn đề liên quan đến tổ chức trọng tài, ví dụ như: tên gọi của các tổ chức
này viện trọng tài, uỷ ban trọng tài, trung tâm trọng tài, toà án trọng tài…, bộ máy giúp việc chủ tịch, tổng thư ký, cách quy
định về lệ phí, cách tống đạt văn bản .. thường được quy định bởi tập tục của từng tổ chức trọng tài, mà ít trở thành đối tượng
điều chỉnh trong pháp luật trọng tài của các nước. Tuy nhiên, do điều kiện của một quốc gia đang chuyển đổi, kế thừa các quy
định của Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, Luật có
28
chương IV quy định về tổ chức trọng tài. Chương này gồm 7 điều, về nguyên tắc không thay đổi các quy định tương ứng của
Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003. Luật trọng tài vẫn giữ nguyên quan điểm của Pháp lệnh trọng tài
thương mại năm 2003, theo đó việc thành lập và hoạt động của các tổ chức trọng tài cần được các cơ quan nhà nước hỗ trợ và giám sát chặt
chẽ, bởi đây là tập hợp của những hội đồng trọng tài có chức năng giải quyết tranh chấp mà phán quyết của họ có hiệu lực như một bản án của
toà án tư pháp. Điều kiện, thủ tục đăng ký hoạt đông, công bố thành lập và báo cáo hoạt động được quy định trong các điều 21-23 của Luật.
4.2.So với Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, Luật trọng tài chỉnh sửa, bổ sung một số nội dung dưới đây:
- Thứ nhất, tên gọi của tổ chức trọng tài có thể đa dạng xem khoản 7 điều 3 Luật, có thể là viện trọng tài, uỷ ban trọng tài, trung tâm trọng tài. Điều
này phản ánh sự đa dạng của các cơ quan bảo trợ thành lập cũng như các thế mạnh hay đặc trưng riêng của từng tổ chức trọng tài.
- Thứ hai, quy định hoạt động giải quyết tranh chấp của tổ chức trọng tài là phi lợi nhuận, thu nhập của tổ chức trọng tài không được chia như cổ
tức cho các trọng tài viên. Các trọng tài viên chịu thuế thu nhập cá nhân theo pháp luật thuế đối với thù lao từ hoạt động trọng tài, nhưng tổ chức
trọng tài được miễn thuế cho các hoạt động mang tính phi lợi nhuận của mình.
- Thứ ba, Luật trọng tài cho phép các tổ chức trọng tài nước ngoài được mở chi nhánh, văn phòng đại diện hay hoạt động tại Việt Nam theo các
quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia.
4.3.
Ngoài hoạt động phục vụ các hội đồng trọng tài trong tổ chức của mình, để hỗ trợ các hội đồng trọng tài được thành lập theo
vụ việc ad hoc, Luật trọng tài nhấn mạnh quyền của các tổ chức trọng tài trong việc cung cấp dịch vụ hành chính, văn
29
phòng và các dịch vụ khác hỗ trợ giải quyết tranh chấp khoản 5, điều 25 Luật. Các tổ chức trọng tài cũng có thể tham gia hoạt
động hồ giải hoặc thành lập các đơn vị thực hiện nhiệm vụ hoà giải như một kênh giải quyết tranh chấp lựa chọn bên cạnh tố
tụng trọng tài.

5. Chương V: Khởi kiện, thụ lý vụ tranh chấp


5.1.Chương V: Khởi kiện, thụ lý vụ tranh chấp gồm 7 điều, quy định về khởi kiện và thụ lý, giai đoạn đầu tiên của tố tụng trọng
tài. 5.2.So với Pháp lệnh trọng tài năm 2003, Luật trọng tài quy định rõ
hơn những điểm dưới đây: - Thứ nhất, xác định tố tụng trọng tài bắt đầu từ khi tổ chức trọng
tài nhận đơn kiện và tạm ứng phí trọng tài, hoặc từ khi bị đơn nhận được đơn kiện của nguyên đơn nếu vụ tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài
vụ việc điều 29, Luật. Thời điểm này có ý nghĩa quan trọng, nhất là để xác định xem vụ tranh chấp có còn thời hiệu giải quyết hay khơng.
- Thứ hai, phí trọng tài do tổ chức trọng tài ấn định hoặc do hội đồng trọng tài ấn định nếu vụ việc được giải quyết bởi trọng tài vụ việc.
- Thứ ba, địa điểm giải quyết vụ tranh chấp do các bên thoả thuận; nếu các bên khơng thoả thuận thì do hội đồng trọng tài quyết định.
- Thứ tư, nếu bị đơn cho rằng vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của trọng tài, khơng có thoả thuận trọng tài hoặc thoả thuận trọng
tài vơ hiệu thì phải nêu trong bản tự bảo vệ đó khoản 4, điều 34 Luật. Quyền khiếu nại của bị đơn có thể nêu tại bản tự bảo vệ, có thể được lập
thành một văn bản riêng, và vẫn được thực hiện kể cả trong trường hợp bên khiếu nại đã chọn trọng tài viên khoản 3 điều 41 Luật. Tuy nhiên
nếu biết rằng mình có quyền khiếu nại mà đương sự khơng thực hiện quyền đó, khơng phản đối thẩm quyền của trọng tài, vẫn tham gia các thủ
tục tố tụng khác, thì đương sự đó được xem như khước từ quyền khiếu nại
30
điều 69 Luật. Quy định này nhằm tránh bội tín và loại trừ các hành vi mâu thuẫn của một bên đương sự trong thủ tục tố tụng trọng tài.
5.3.
Luật quy định thời hiệu khởi kiện giải quyết vụ tranh chấp bằng trọng tài là hai năm. Các bên có quyền thoả thuận về việc xác
định thời điểm bắt đầu của thời hiệu. Nếu các bên khơng có thoả thuận, thời điểm đó được xác định theo các quy định của Bộ luật
dân sự.

6. Chương VI, VII: Hội đồng trọng tài


6.1.Chương VI quy định về thành lập hội đồng trọng tài gồm 6 điều, chương VII quy định về thẩm quyền của hội đồng trọng tài gồm
4 điều; cả hai chương này đều quy định về hội đồng trọng tài. Tuỳ theo phương thức hoạt động của trọng tài là trọng tài vụ
việc ad hoc hay trọng tài quy chế dưới hình thức các tổ chức trọng tài, cách thức thành lập hội đồng trọng tài có một số điểm
khác nhau, song thẩm quyền của các hội đồng này về cơ bản là giống nhau.
6.2.
Kế thừa các quy định của Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, Luật quy định hội đồng trọng tài có thể gồm một hoặc
nhiều thành viên, song ấn định rõ nếu các bên đương sự khơng thoả thuận khác, thì hội đồng gồm ba thành viên điều 35 Luật.
Nếu các bên lựa chọn một trọng tài viên duy nhất thì trọng tài viên duy nhất đó làm việc như một hội đồng trọng tài.
6.3.
Luật quy định rõ hơn quy trình thành lập hội đồng trọng tài đối với trọng tài vụ việc điều 37 Luật. Quy trình đó như sau:
-Ngun đơn phải nêu tên và địa chỉ của người được nguyên đơn chọn làm trọng tài viên trong đơn kiện gửi cho bị đơn điểm g, khoản 2,
điều 28, Luật.
31
-Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được đơn kiện của nguyên đơn, bị đơn phải chọn trọng tài viên và thông báo cho nguyên đơn
biết trọng tài viên mà mình chọn khoản 1 điều 37 Luật. - Hết thời hạn này, nếu bị đơn không thông báo cho nguyên đơn tên
trọng tài viên mà mình đã chọn, nếu các bên đã thoả thuận yêu cầu một tổ chức trọng tài chỉ định trọng tài viên, thì tổ chức trọng tài này sẽ chỉ định
trọng tài viên cho bị đơn. Nếu khơng có thoả thuận, tồ án có thẩm quyền sẽ chỉ định trọng tài viên cho bị đơn.
- Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày được chỉ định, hai trọng tài viên này bầu một trọng tài viên thứ ba làm chủ tịch hội đồng trọng tài.
- Hết thời hạn trên mà hai trọng tài viên không bầu được người thứ ba làm chủ tịch hội đồng thì tổ chức trọng tài theo thoả thuận hoặc tồ án
có thẩm quyền sẽ chỉ định trọng tài viên thứ ba làm chủ tịch hội đồng.
6.4.
Về thẩm quyền của hội đồng trọng tài, Luật quy định hai nội dung chính, thứ nhất về phạm vi thẩm quyền giải quyết việc
tranh chấp, thứ hai những thẩm quyền cụ thể của hội đồng như thẩm quyền về chứng cứ và các biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Hội đồng trọng tài có thể quyết định, tự mình hoặc theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự, về thẩm quyền giải quyết tranh
chấp của mình. Nếu phát hiện hội đồng trọng tài vượt quá thẩm quyền, các bên có nghĩa vụ khiếu nại ngay sau khi phát hiện
được sự kiện này. Nếu không đồng ý với quyết định về thẩm quyền của hội đồng trọng tài, các bên có quyền u cầu tồ án
xem xét lại quyết định của hội đồng trọng tài. Quyết định của toà án trong trường hợp này và quyết định cuối cùng.
6.5.
Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu hồ sơ vụ tranh chấp, hội đồng trọng tài có quyền nghe một bên trình bày ý kiến với sự có
mặt của bên kia hoặc sau khi đã thông báo cho bên kia. Cũng như vậy, với sự có mặt hoặc sau khi đã thông báo cho các bên,
32
hội đồng trọng tài có thể tìm hiểu sự việc từ người thứ ba điều 42 Luật.
6.6.
Thẩm quyền của hội đồng trọng tài áp dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời là một nội dung có nhiều ý kiến khác nhau
trong quá trình soạn thảo dự luật. Loại ý kiến thứ nhất cho rằng chỉ có tồ án mới có thẩm quyền ban hành các biện pháp khẩn
cấp tạm thời khi cần thiết. Bởi vậy nên giữ nguyên các quy định hiện hành của Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, theo đó
nếu các bên và hội đồng trọng tài u cầu thì tồ án có thể xem xét cho áp dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời. Loại ý kiến
thứ hai cho rằng, ngoài thẩm quyền hỗ trợ đương nhiên của toà án, kể cả hỗ trợ bằng cách cho áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời, hội đồng trọng tài cũng có quyền ban hành một số biện pháp buộc các bên duy trì, khơi phục hiện trạng tranh chấp, tiến
hành các biện pháp bảo quản tài sản cần thiết đảm bảo cho việc thi hành phán quyết, bảo quản chứng cứ liên quan hay bảo quản
tài sản liên quan đến tranh chấp. Ban soạn thảo ưu tiên đề xuất phương án thứ hai, theo đó bên cạnh thẩm quyền đương nhiên
của toà án, hội đồng trọng tài cũng có quyền buộc các bên áp dụng sáu biện pháp khần cấp tạm thời như được quy định tại
khoản 1 điều 44 Luật.

7. Chương VIII: Thẩm quyền của toà án đối với trọng tài


7.1.Chương VIII: Thẩm quyền của toà án đối với trọng tài bao gồm 4 điều, trong đó 3 điều là hồn tồn mới và một điều có sửa đổi
cơ bản so với quy định tương ứng của Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003. Các quy định này nhằm thể hiện sự hỗ
33
trợ của toà án đối với tố tụng trọng tài trong việc thu thập chứng cứ, đảm bảo sự có mặt của người làm chứng cũng như quyết
định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo yêu cầu của một bên đương sự, trước hoặc sau khi khởi kiện tại trọng tài.
7.2.
Để thống nhất xác định thẩm quyền của tồ án có trách nhiệm hỗ trợ trọng tài trong suốt quá trình tố tụng trọng tài, Luật đã có
một quy định chung về tồ án có thẩm quyền đối với trọng tài tại điều 8 của Luật. Theo quy định đó, tồ án có thẩm quyền là toà
án nhân dân cấp tỉnh theo thứ tự ưu tiên sau đây: - Thứ nhất, là toà án theo sự thoả thuận của các bên, nếu các bên có
thoả thuận; - Thứ hai, là toà án nơi hội đồng trọng tài tiến hành phiên xét xử;
- Thứ ba, là toà án nơi trọng tài thụ lý vụ việc; - Thứ tư, là tồ án nơi có tài sản tranh chấp.
Hội đồng trọng tài, trong trường hợp cụ thể, theo thứ tự ưu tiên kể trên, có thể xác định tồ án có thẩm quyền hỗ trợ trọng tài.
7.3.Trong tồn bộ tố tụng trọng tài, thẩm quyền của trọng toà án đối với trọng tài rộng hơn phạm vi được quy định trong bốn điều
của Chương VIII, ví dụ toà án hỗ trợ trong việc chỉ định trọng tài viên, toà án quyết định các khiếu nại về thẩm quyền trọng tài
như đã trình bày ở trên. Cũng như vậy, sau q trình tố tụng trọng tài, tồ án có thẩm quyền xem xét các khiếu kiện về phán
quyết trọng tài, tiến hành đăng ký hoặc lưu giữ các phán quyết của trọng tài vụ việc nếu các bên yêu cầu, khoản 2, điều 59.
Tuy nhiên trong quá trình tố tụng, chứng cứ đóng một vai trò rất quan trọng, nếu thiếu sự hỗ trợ của tồ án thì các hội đồng trọng
tài khó có thể hoạt động hiệu quả trong thu thập chứng cứ và đảm bảo sự có mặt của người làm chứng.
34
7.4.
Đối với biện pháp khẩn cấp tạm thời, Luật quy định, mặc dù vụ kiện chưa được thụ lý tại trọng tài hoặc hội đồng trọng tài chưa
được thành lập, các bên vẫn có quyền yêu cầu toà án cho áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, điều 48 Luật. Quy định này
bảo vệ quyền lợi của các bên tranh chấp, đảm bảo thực thi phán quyết của trọng tài sau này. Đây là một thay đổi đáng kể so với
quy định tương ứng của Pháp lệnh trọng tài năm 2003. 7.5.Sau khi hội đồng trọng tài được thành lập, về nguyên tắc các bên
có quyền yêu cầu hội đồng trọng tài hoặc yêu cầu tồ án có thẩm quyền cho áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Quy định
này tạo cơ hội cho đương sự quyền tự chọn.

8. Chương IX: Phiên họp giải quyết tranh chấp của hội đồng trọng tài


8.1.
Chương IX: Phiên họp giải quyết tranh chấp của hội đồng trọng tài gồm sáu điều, về cơ bản kế thừa các quy định của Pháp lệnh
trọng tài thương mại năm 2003. So với các quy định tương ứng của Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, Luật trọng tài có
một số điểm sửa đổi, bổ sung như sau: - Thứ nhất, về địa điểm tiến hành phiên họp giải quyết tranh chấp,
như đã được quy định tại điều 33 của Luật, các bên có quyền thoả thuận về địa điểm giải quyết việc tranh chấp, bao gồm địa điểm diễn ra phiên
họp sao cho thuận tiện cho các bên, kể cả họp ở nước ngoài. Nếu các bên khơng thoả thuận thì hội đồng trọng tài quyết định. Đây là một thay đổi
đáng kể so với Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, bởi khi quyết định về địa điểm, hội đồng trọng tài không bị ràng buộc bởi điều kiện phải
chọn địa điểm thuận tiện đối với các bên. Trên thực tế, khi các bên đã có tranh chấp, các điều kiện như vậy trở nên khó đáp ứng. Nếu họp và phán
quyết ở nước ngồi, phán quyết của hội đồng trọng tài vẫn được xem là phán quyết của trọng tài trong nước, xem điều 68 của Luật.
35
- Thứ hai, về ngôn ngữ tiến hành phiên giải quyết tranh chấp, Luật cũng quy định giành quyền thoả thuận cho các bên, nếu các bên không
thoả thuận thì quyền quyết định thuộc về hội đồng trọng tài, không ấn định ngôn ngữ tiếng Việt cho mọi hội đồng trọng tài, điều 10 Luật.
- Thứ ba, Luật quy định linh hoạt hơn về thủ tục hoãn phiên họp giải quyết tranh chấp. Theo đó, nếu có yêu cầu bằng văn bản của một bên
nhận được chậm nhất là bày ngày trước ngày mở phiên họp, hội đồng trọng tài xem xét quyết định hoãn phiên họp giải quyết tranh chấp, điều
52 Luật. 8.2.Về mặt ngôn ngữ thể hiện liên quan đến phiên họp giải quyết
tranh chấp của hội đồng trọng tài có hai nhóm ý kiến. Nhóm thứ nhất cho rằng nên dùng khái niệm phiên xét xử của hội đồng
trọng tài để nhấn mạnh tính chất tài phán tư của trọng tài cũng như làm rõ ý nghĩa của phiên xét xử này so với những phiên họp
khác của hội đồng trọng tài. Nhóm ý kiến thứ hai yêu cầu vẫn giữ nguyên cách hành văn của Pháp lệnh trọng tài thương mại
năm 2003. Ban soạn thảo ưu tiên đề xuất phương án hai, bởi lẽ căn cứ vào Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 chỉ
có tồ án mới có thẩm quyền xét xử trên lãnh thổ Việt Nam.

9. Chương X: Phán quyết trọng tài


9.1.Chương X: Phán quyết trọng tài gồm 5 điều, về cơ bản kế thừa các quy định tương ứng của Pháp lệnh trọng tài thương mại năm
2003 với một số điểm sửa đổi, bổ sung đáng kể dưới đây: - Thứ nhất, để phân biệt với các quyết định khác của hội đồng trọng
tài trong tồn bộ quy trình tố tụng, phán quyết là quyết định cuối cùng về nội dung đơn kiện sau khi hội đồng trọng tài đã nghiên cứu hồ sơ, thu
thập chứng cứ, lấy lời khai nhân chứng, nghe các bên, tranh luận giữa các trọng tài viên và bỏ phiếu theo nguyên tắc đa số.
36
- Thứ hai, Luật bổ sung trường hợp nếu không đạt được đa số thì phán quyết được lập theo ý kiến của chủ tịch hội đồng trọng tài, khoản 2
điều 55 Luật. - Thứ ba, phán quyết trọng tài phải có chữ ký của các trọng tài viên,
song nếu có một trọng tài từ chối không ký vào phán quyết thì chủ tich hội đồng trọng tài ghi việc đó trong phán quyết. Trong trường hợp này
phán quyết trọng tài vẫn có hiệu lực. - Thứ tư, nếu phán quyết trọng tài có lỗi tính tốn hay lỗi kỹ thuật
khác, một bên có thể yêu cầu hội đồng trọng tài sửa những lỗi đó. Kể cả trong trường hợp phán quyết của hội đồng trọng tài có những lỗi có thể
dẫn tới việc bị toà án xem xét huỷ phán quyết, tồ án tự mình hoặc theo u cầu của một bên, cũng có thể tạo điều kiện cho hội đồng trọng tại cơ
hội để chỉnh sửa các lỗi đó theo quy định của khoản 6 điều 63 của Luật. 9.2.…
10.Chương XI: Huỷ phán quyết trọng tài
10.1.Chương XI: Huỷ phán quyết trọng tài gồm 5 điều, về cơ bản kế thừa các quy định của Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003
với những chỉnh sửa và bổ sung cơ bản dưới đây: - Thứ nhất, Ban soạn thảo đã tiến hành rà sốt các căn cứ để tồ án
có thể huỷ phán quyết trọng tài và quy định một cách minh bạch thành bốn loại căn cứ tại điều 60 của Luật. Các căn cứ không rõ ràng trước đây,
ví dụ trọng tài viên đã vi phạm nghĩa vụ trọng tài, đã được lược bỏ. Về nguyên tắc phán quyết trọng tài là chung thẩm, khơng có các phiên xét xử
phúc thẩm, tái thẩm hay giám đốc thẩm đối với nội dung phán quyết trọng tài. Nếu có yêu cầu của một bên, giới hạn trong các căn cứ được liệt kê tại
điều 60, Tồ án có quyền xem xét lại sự tồn tại hay hiệu lực của thoả thuận trọng tài, thành phần của hội đồng trọng tài, sự tuân thủ các quy
định của tố tụng trọng tài và tuyên huỷ phán quyết của trọng tài. Toà án,
37
về ngun tắc khơng có quyền can thiệp vào nội dung xét xử của hội đồng trọng tài, xem khoản 3 điều 63 Luật.
- Thứ hai, điều 61 Luật trọng tài đã giới hạn lại quyền yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài không phải trong các trường hợp không đồng ý với
phán quyết trọng tài như cách thể hiện trong Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, mà bắt buộc bên yêu cầu phải có đủ căn cứ để chứng minh
được rằng hội đồng trọng tài đã ra phán quyết thuộc một trong bốn trường hợp quy định tại điều 60 của Luật.
10.2.…
11.Chương XII: Thi hành phán quyết trọng tài
11.1.Kể từ khi Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005 có hiệu lực, trên thực tế có một sự phân biệt giữa việc thi hành phán quyết trọng
tài trong nước và phán quyết trọng tài nước ngoài. Chương XII: Thi hành phán quyết trọng tài gồm 4 điều, quy định về hiệu lực
thực thi của phán quyết trọng tài trong nước. Phán quyết của trọng tài nước ngồi phải được cơng nhận và cho thi hành theo
các thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005.
11.2.
Kế thừa các quy định của Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, về nguyên tắc, phán quyết của trọng tài trong nước là
chung thẩm, có hiệu lực thi hành kể từ ngày được cơng bố, có hiệu lực đối với các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân phải
nghiêm chỉnh thực hiện. Bên được thi hành có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án thi hành phán quyết trọng tài theo các quy định
của điều 66 Luật trọng tài, mà không cần thông qua thủ tục công nhận và cho thi hành như phán quyết của trọng tài nước ngoài.
11.3.
Luật đã làm rõ phán quyết của trọng tài nước ngoài là phán quyết do các hội đồng trọng tài được thành lập theo pháp luật
nước ngoài, kể cả trong trường hợp phiên họp giải quyết vụ tranh chấp của hội đồng đó được tiến hành tại Việt Nam. Ngược
38
lại, được xem là phán quyết của trọng tài trong nước, nếu hội đồng trọng tài được thành lập theo Luật trọng tài của nước
CHXHCN Việt Nam song phiên họp giải quyết tranh chấp lại được tiến hành ở nước ngoài.

12. Chương XIII, XIV: Những quy định khác và điều khoản thi hành


12.1.Hai chương XIII và XIV gồm sáu điều, ngoài việc kế thừa và tuân thủ các quy định về hình thức bắt buộc của các đạo luật, có
bao hàm một số nội dung mới đáng kể so với Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003 như sau:
- Thứ nhất, dự luật tìm cách du nhập khái niệm giới hạn trách nhiệm của các trọng tài viên. Nếu vô tư, khách quan, tuân thủ pháp luật,
không có ý làm trái, về cơ bản theo thơng lệ và kinh nghiệm lập pháp của nhiều nước, trọng tài viên không phải chịu trách nhiệm đền bù cho các
bên đương sự về các hành vi tham gia tố tụng trọng tài của mình. Quy định này khuyến khích các trọng tài viên độc lập trong hoạt động tố tụng.
Trong bối cảnh hiện nay, ban soạn thảo đã tìm cách thể hiện tư duy pháp lý này trong điều 70 của Luật trọng tài.
- Thứ hai, nhằm khuyến khích các bên tranh tụng ứng xử nhanh chóng để việc giải quyết tranh chấp tại trọng tài được nhanh và hiệu quả,
khuyến khích cách hành xử có trách nhiệm và giữ gìn uy tín, hạn chế các hành vi bội tín và hành xử mâu thuẫn trong tố tụng trọng tài, ban soạn
thảo đã du nhập khái niệm khước từ quyền khiếu nại trong điều 69 của luật này. Theo quy định này một bên sẽ mất quyền khiếu nại tại trọng tài
hoặc tồ án, nếu biết quyền của mình bị vi phạm mà không phản đối trong thời hạn quy định bởi Luật trọng tài.
12.2.
Hiện nay vẫn có một số ý kiến khác nhau về điều 71 của Luật liên quan đến quản lý nhà nước về trọng tài, ví dụ phải cụ thể
hoá nội dung quản lý nhà nước về trọng tài bao gồm những vấn đề gì và cụ thể hoá phương thức phối hợp giữa Bộ Tư pháp và
39
Hội Luật gia Việt Nam trong việc quản lý nhà nước về trọng tài. Ban soạn thảo ưu tiên phương án kế thừa nguyên vẹn từ Pháp
lệnh trọng tài thương mại năm 2003. Trong điều khoản cuối cùng mang tính lập pháp uỷ quyền, Luật quy
định trách nhiệm của Chính phủ ban hành văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các nội dung đã được uỷ quyền cụ thể trong luật này,
ví dụ về quy chế thành lập và hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện tổ chức trọng tài nước ngoài, về các căn cứ và điều kiện cho phép
thành lập các tổ chức trọng tài ở Việt Nam. Những nội dung khác khơng được uỷ quyền thì áp dụng trực tiếp quy định của Luật trọng tài. Giới hạn
này nhằm đảm bảo sự thực thi nhất quán của luật trọng tài, không bị hướng dẫn sai lệch bởi các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành đạo luật
này.
40
CHƯƠNG II: NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VIỆT NAM NĂM 2010 VỀ THỎA THUẬN TRỌNG TÀI

I. Những vấn đề của thỏa thuận trọng tài theo PLTTTM 2003


Các quy định về Thỏa thuận trọng tài được quy định tại Chương I và II của Pháp lệnh Trọng tài Thương mại 2003 Pháp lệnh. Pháp lệnh đã làm rõ được
khái niệm hình thức và giá trị của Thỏa thuận trọng tài cũng như tính độc lập của điều khoản trọng tài so với hợp đồng. Về cơ bản, những quy định này tương
thích với các quy định của Luật Mẫu về Trọng tài Thương mại Quốc tế của UNCITRAL Luật Mẫu và pháp luật trọng tài của nhiều nước trên thế giới. Tuy
nhiên, Pháp lệnh chưa bao quát được một cách đầy đủ về tính đồng bộ và hệ thống các quy định về Thỏa thuận trọng tài. Cụ thể:
Trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh từ quan hệ ngồi hợp đồng hay khơng?
Trong phần định nghĩa về Thỏa thuận trọng tài Điều 2 Khoản 2, Pháp lệnh chưa làm rõ được vấn đề tranh chấp phát sinh từ quan hệ ngoài hợp đồng có
được giải quyết bằng Trọng tài hay khơng. Vấn đề này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định thẩm quyền của Trọng tài cũng như việc công nhận và cho
thi hành phán quyết trọng tài. Theo Điều 2 Khoản 2 của Pháp lệnh thì Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên cam kết giải quyết bằng Trọng tài các
vụ tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh trong hoạt động thương mại. Như chúng ta đều biết, quan hệ thương mại rất đa dạng và phong phú. Nhiều
quan hệ có thể xác định bằng hợp đồng cụ thể được ký kết giữa các bên. Tuy nhiên, cũng có nhiều tranh chấp khơng phát sinh từ quan hệ hợp đồng, ví dụ
tranh chấp phát sinh do việc đòi bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng như tàu đâm va cầu cảng, tàu đâm va nhau v.v...
Hiểu theo định nghĩa trên thì các tranh chấp khơng có quan hệ hợp đồng cũng có thể được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thỏa thuận đưa tranh
chấp ra giải quyết tại Trọng tài. Do đó, để hạn chế tối đa những rủi ro trong việc
41
áp dụng luật, Pháp lệnh cần cụ thể hóa việc xác định thẩm quyền của Trọng tài tương thích với Luật Mẫu. “Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận mà các bên đưa
ra Trọng tài mọi tranh chấp nhất định phát sinh hoặc có thể phát sinh giữa các bên về quan hệ pháp lý xác định, dù là quan hệ hợp đồng hay không phải là quan
hệ hợp đồng ...” Điều 7 Khoản 1. Công ước New York 1958 về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài cũng quy định rất rõ về vấn đề này
“Mỗi quốc gia thành viên sẽ công nhận một thỏa thuận bằng văn bản, theo đó các bên cam kết đưa ra trọng tài xét xử mọi tranh chấp đã hoặc có thể phát sinh
giữa các bên từ một quan hệ pháp lý xác định, dù là quan hệ hợp đồng hay không, liên quan đến một đối tượng có khả năng giải quyết tranh chấp bằng
trọng tài” Điều II. Luật Trọng tài của hầu hết các nước trên thế giới như Luật Trọng tài Anh, Luật Trọng tài Đức, Luật Trọng tài Hàn Quốc, Luật Trọng tài
Nga, Luật Trọng tài Nhật Bản v.v… đều quy định các tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng đều được giải quyết bằng Trọng tài.
Phạm vi quy định về hình thức của Thỏa thuận trọng tài còn hẹp Điều 9 Khoản 1 Pháp lệnh quy định “Thỏa thuận trọng tài phải được lập
bằng văn bản. Thỏa thuận trọng tài thông qua thư, điện báo, telex, fax, thư điện tử hoặc hình thức văn bản khác thể hiện rõ ý chí của các bên giải quyết vụ tranh
chấp bằng trọng tài được coi là thỏa thuận trọng tài bằng văn bản”. Quy định trên đã xác định được tiêu chí hình thức bắt buộc đó là Thỏa
thuận trọng tài phải được lập bằng văn bản. Tuy nhiên, nội hàm của khái niệm “văn bản” vẫn còn hẹp so với Luật Mẫu và luật trọng tài các nước. Luật Mẫu
cũng có quy định bắt buộc Thỏa thuận trọng tài phải được bằng văn bản. Tuy nhiên, phạm vi khái niệm “văn bản” rất rộng. Thỏa thuận được coi là bằng văn
bản nếu nó nằm trong một văn bản được các bên ký kết hoặc bằng sự trao đổi qua thư từ, telex, điện tín hoặc các hình thức trao đổi về đơn kiện và bản biện hộ
mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thỏa thuận do một bên đưa ra và bên kia không phản đối. Việc dẫn chiếu trong hợp đồng tới một văn bản ghi nhận điều
khoản trọng tài lập nên Thỏa thuận trọng tài với điều kiện hợp đồng này phải là
42
văn bản và sự dẫn chiếu đó là một bộ phận của hợp đồng này. Luật Trọng tài Anh còn tiến một bước rất xa trong việc quy định phạm vi thỏa thuận bằng văn
bản. Theo đó, có một thỏa thuận bằng văn bản khi: thỏa thuận được lập bằng văn bản cho dù nó có được các bên ký hay không; thỏa thuận được lập thông
qua việc trao đổi các thông tin bằng văn bản, hoặc thỏa thuận được chứng minh bằng văn bản. Thậm chí, trong quá trình tố tụng trọng tài hoặc tố tụng tư
pháp,nếu nếu một thoả thuận không được xác lập bằng văn bản nhưng được một bên viện dẫn và bên kia không phủ nhận thì việc trao đổi đó tạo thành một thỏa
thuận bằng văn bản có giá trị pháp lý . Như vậy, quy định của Pháp lệnh về hình thức của thỏa thuận trọng tài
chưa tương thích với Luật Mẫu và luật trọng tài các nước. Điều đáng lưu lý là trường hợp một bên viện dẫn đến thỏa trọng tài và bên kia khơng phản đối thì
được coi là chấp nhận. Tuy nhiên, Pháp lệnh không công nhận trường hợp này. Phạm vi quy định thoả thuận trọng tài vô hiệu rộng và không hợp lý
Việc quy định thoả thuận trọng tài vô hiệu khi thỏa thuận trọng tài “không xác định rõ tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp” Điều 10
khoản 4 là không hợp lý và không phù hợp với pháp luật và thực tiễn trọng tài quốc tế. Nguyên tắc giải quyết bằng trọng tài là phải dựa trên ý chí của các bên.
Vì vậy, bằng việc dẫn chiếu đến Trọng tài, các bên đã có chủ ý và thể hiện ý định đưa ra giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài. Tuy nhiên, do nhiều nguyên
nhân khác nhau, các bên đã diễn đạt chưa chuẩn xác tên một tổ chức trọng tài cụ thể. Do đó, trong mọi trường hợp, khi các bên đã có thỏa thuận trọng tài, pháp
luật trọng tài các nước đều ưu tiên giải quyết bằng Trọng tài. Luật Mẫu và luật trọng tài các nước không đưa ra tiêu chí phải xác định tên tổ chức trọng tài cụ
thể và khơng có quy định về trường hợp thỏa thuận trọng tài bị coi là vô hiệu nếu không chỉ rõ tên tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp.
Bên cạnh đó, hầu hết các tổ chức trọng tài uy tín trên thế giới đều không đưa tên tổ chức mà chủ yếu là đưa Quy tắc tố tụng của mình vào điều khoản
trọng tài mẫu. Ví dụ, Tòa án Trọng tài của Phòng Thương mại Quốc tế ICC
43
đưa ra điều khoản trọng tài mẫu như sau: “Tất cả các tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan tới hợp đồng này được giải quyết chung thẩm theo Quy tắc tố
tụng trọng tài của Phòng thương mại quốc tế bởi một hoặc nhiều trọng tài viên được chỉ định theo Quy tắc nêu trên”,.
Thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam cho thấy, số lượng các Thỏa thuận trọng tài khơng diễn đạt chính xác tên gọi của
tổ chức trọng tài chiếm tỷ lệ tương đối lớn. Việc Pháp lệnh đưa ra yêu cầu các bên phải thỏa thuận bổ sung để xác định tên tổ chức trọng tài cụ thể là điều
khơng khả thi, vì khi tranh chấp đã phát sinh thì các bên rất khó có cơ hội để thỏa thuận lại, đặc biệt là bên vi phạm hợp đồng sẽ tìm mọi cách để lẩn tránh
nghĩa vụ của mình. Bên cạnh đó, Pháp lệnh còn cho phép Tòa án có quyền hủy Quyết định
trọng tài nếu Thỏa thuận trọng tài không xác định rõ tên tổ chức trọng tài Điều 54. Quy định này hoàn tồn khơng phù hợp với Luật Mẫu, Cơng ước New York
1958 về Công nhận và thi hành Quyết định Trọng tài nước ngoài. Ngoài ra, việc đưa ra điều kiện coi thỏa thuận trọng tài vô hiệu khi không
xác định rõ tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lại mâu thuẫn với quy định của Điều 4 Pháp lệnh. Điều 4cho phép tồn tại hai hình thức trọng
tài là Trọng tài quy chế do các Trung tâm trọng tài tổ chức và Trọng tài vụ việc “adhoc” do các bên thành lập. Trên thực tế, khơng bao giờ có tên một tổ
chức trọng tài cụ thể nếu các bên lựa chọn hình thức trọng tài adhoc. Thiếu quy định về Thỏa thuận trọng tài không hoặc khơng thể thực hiện
được Pháp lệnh đã bỏ sót một quy định rất cơ bản là vấn đề “thỏa thuận trọng tài
không thực hiện được hoặc không thể thực hiện được”. Trong thực tế, có rất nhiều điều khoản trọng tài có hiệu lực theo quy định của pháp luật, đó là: phạm
vi tranh chấp thuộc thẩm quyền của Trọng tài; người ký Thỏa thuận trọng tài có đủ thẩm quyền, đủ năng lực hành vi;, quy định rõ đối tượng tranh chấp và tổ
44
chức trọng tài có thẩm quyền nhưng vẫn không thể giải quyết được bằng Trọng tài. Ví dụ, có một số điều khoản trọng tài quy định như sau:
“Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này sẽ được giải quyết trước tiên tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam sau đó sẽ được giải quyết chung thẩm tại
Tòa án”; hoặc “Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc có liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam theo Pháp lệnh Thủ
tục giải quyết các vụ án kinh tế”; hoặc “Tranh chấp nếu có sẽ được giải quyết tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam và Tòa án Trọng tài Quốc tế ICC” v.v...
Theo quy định của Pháp lệnh, các điều khoản trọng tài nêu trên không thuộc trường hợp vô hiệu vì đã chỉ rõ tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải quyết
vụ tranh chấp. Tuy nhiên, những điều khoản trọng tài này không thể thực hiện được trong thực tiễn bởi thỏa thuận có sự mâu thuẫn. Vậy vấn đề này sẽ được
giải quyết như thế nào? Các bên sẽ đưa tranh chấp ra cơ quan nào để giải quyết? Nếu đưa ra Tòa án thì Tòa án sẽ từ chối. Điều 5 Pháp lệnh quy định “trong
trường hợp vụ tranh chấp đã có thỏa thuận trọng tài, nếu một bên khởi kiện ra Tòa án thì Tòa án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài vô
hiệu”. Như vậy, Pháp lệnh mới chỉ giải quyết vấn đề thỏa thuận trọng tài vô hiệu, chưa giải quyết vấn đề Thỏa thuận trọng tài khơng thể thực hiện được. Do
đó, sẽ có nhiều vụ tranh chấp phát sinh nhưng khơng được cơ quan nào giải quyết. Vấn đề này nếu không được điều chỉnh kịp thời sẽ tạo ra hậu quả xấu làm
giảm tính hấp dẫn của Trọng tài. Luật Mẫu và Pháp luật trọng tài các nước đều quy định rất rõ về vấn đề
này. Khoản 1 Điều 8 Luật Mẫu quy định “Tòa án, nơi có khiếu kiện về vấn đề đối tượng của thỏa thuận được đưa ra, nếu một bên yêu cầu không muộn hơn
thời gian khi nộp bản giải trình đầu tiên của mình về nội dung tranh chấp, sẽ chuyển tranh chấp ra trọng tài trừ khi thấy rằng thỏa thuận trọng tài vô hiệu,
không có hiệu lực hoặc khơng thể thực hiện được”. Điều II Cơng ước New York quy định “Tòa án của một quốc gia thành viên, khi nhận được một đơn kiện về
một vấn đề mà vấn đề đó các bên đã có thỏa thuận theo nội dung của điều này,
45
sẽ, theo yêu cầu của một bên, đưa các bên ra trọng tài , trừ khi Tòa án thấy rằng thỏa thuận nói trên khơng có hiệu lực hoặc khơng thể thực hiện được”. Luật
Trọng tài các nước đều có quy định tương tự về vấn đề này. Nguyên tắc “thẩm quyền của thẩm quyền” chưa được ghi nhận tuyệt đối
Điều 11 của Pháp lệnh quy định “Điều khoản trọng tài tồn tại độc lập với hợp đồng. Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, sự vô hiệu của hợp đồng
không ảnh hưởng đến hiệu lực của điều khoản trọng tài”. Như vậy, Pháp lệnh đã đưa ra một nguyên tắc rất quan trọng, đảm bảo mọi tranh chấp phát sinh đều
được giải quyết kể cả khi hợp đồng vô hiệu. Nguyên tắc này được ghi nhận trong Luật Mẫu và trong hầu hết luật trọng tài các nước. Khác với tòa án vốn có
thẩm quyền đương nhiên để giải quyết tranh chấp nếu các bên khơng có thỏa thuận khác, Trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp nếu được các
bên thỏa thuận. Tuy nhiên, với việc lựa chọn trọng tài, các bên đã loại trừ sự can thiệp của tòa án. Do đó, việc xác định điều khoản trọng tài độc lập với hợp đồng
có ý nghĩa quan trọng, bởi vì đây là cơ sở duy nhất để Hội đồng Trọng tài được thành lập xem xét và quyết định hợp đồng có hiệu lực hay không. Pháp luật
trọng tài quốc tế coi nguyên tắc này là “thẩm quyền của thẩm quyền”- “competence of competence” tức là Hội đồng Trọng tài có quyền xem xét, xác
định thẩm quyền của chính mình khi có khiếu nại của các bên. Nguyên tắc này cũng được thể hiện trong Điều 30 của Pháp lệnh “Trước khi xem xét nội dung vụ
tranh chấp, nếu có đơn khiếu nại của một bên về việc Hội đồng Trọng tài khơng có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp; vụ tranh chấp khơng có thỏa thuận
trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu, Hội đồng Trọng tài phải xem xét, quyết định với sự có mặt của các bên, trừ trường hợp các bên có u cầu
khác...”. Mục đích của nguyên tắc này chính là đảm bảo các tranh chấp đều được xem xét và giải quyết. Nếu công nhận hợp đồng vô hiệu mặc nhiên kéo
theo điều khoản trọng tài vô hiệu và dẫn đến Hội đồng Trọng tài khơng thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp thì vụ tranh chấp sẽ không được giải quyết.
46
Tuy nhiên, quy định trong Pháp lệnh vẫn chưa thể hiện được một cách tuyệt đối nguyên tắc “thẩm quyền của thẩm quyền” giống như quy định trong
Luật Mẫu, theo đó “Hội đồng trọng tài có thể quyết định trong phạm vi thẩm quyền xét xử của chính mình, kể cả những ý kiến phản đối về sự tồn tại hoặc giá
trị pháp lý của thỏa thuận trọng tài. Vì mục đích này, một điều khoản trọng tài là một phần của hợp đồng sẽ được coi là một thỏa thuận độc lập với các điều khoản
khác của hợp đồng. Quyết định của hội đồng trọng tài về việc hợp đồng bị vô hiệu không làm cho điều khoản trọng tài bị vô hiệu theo” Điều 16 Khoản 1 Luật
Mẫu. Việt Nam đang hội nhập sâu rộng, do đó các quy định của pháp luật cần
phải tương thích với pháp luật quốc tế. Trong bối cảnh tồn cầu hóa, sẽ có nhiều đối tác nước ngoài chọn Trọng tài Việt Nam, pháp luật của Việt Nam để giải
quyết tranh chấp. Do vậy, những bất cập như đã phân tích nêu trên cần sớm được sửa đổi để đảm bảo phương thức trọng tài được vận hành một cách hoàn
chỉnh theo tinh thần tiến bộcủa Luật mẫu UNCITRAL và luật trọng tài của các nước trên thế giới.
11

II. Những điểm mới của LTTTMVN 2010 về TTTT 2.1.Khái niệm


Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003PLTTTM 2003
Luật trọng tài thương mại năm 2010LTTTM 2010
Thoả thuận trọng tài là thoả thuận giữa các bên cam kết giải quyết bằng trọng tài
các vụ tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh trong hoạt động thương mại
Thoả thuận trọng tài là thoả thuận giữa các bên về việc giải
quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh
Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương
mại được các bên thoả thuận và được tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng do
11
http:www.vibonline.com.vnvi-VNDraftsArticleDetails.aspx?ArticleID=365
47
Pháp lệnh này quy định
Hoạt động thương mại là việc thực
hiện một hay nhiều hành vi thương mại cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua
bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, phân phối,đại diện, đại lý thương mại, ký gửi,
thuê, cho thuê, thuê mua, xây dựng; tư vấn, kỹthuật, li-măng, đầu tư, tài chính, ngân
hàng, bảo hiểm, thăm dò, khai thác; vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường
hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo
quy định của pháp luật Nghị định của Chính phủ số 252004
NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh lại giới hạn phạm vi
chủ thể chỉ bao gồm “cá nhân kinh doanh hoặc tổ chức kinh doanh”. Cụ thể, Điều 2
của Nghị định quy định “Trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết tranh chấp
phát sinh trong hoạt động thương mại quy định tại khoản 3 Điều 2 của Pháp lệnh m à
các bên tranh chấp là cá nhân kinh doanh hoặc tổ chức kinh doanh”
Các bên tranh chấp là cá nhân, cơ quan, tổ chức Việt Nam
hoặc nước ngoài tham gia tố tụng trọng tài với tư cách nguyên đơn,
bị đơn
Ở Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003 đã có một số điều khơng rõ ràng về thỏa thuận trọng tài và luật trọng tài thương mại năm 2010 đã phần nào
khắc phục được điều đó. Các tranh chấp thỏa thuận là các tranh chấp trong hoạt động thương mại,
trong khi hoạt động “thương mại” ở đây có những cách hiểu khác nhau.
48
Thứ nhất, đã có cách hiểu khác nhau về thuật ngữ “thương mại” trong Pháp lệnh. Điều này dẫn đến tranh cãi trong việc xác định phạm vi giải quyết tranh
chấp của trọng tài
1
. Có ý kiến cho rằng một số tranh chấp như tranh chấp nội bộ phát sinh trong
nội bộ doanh nghiệp, tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu thuộc thẩm quyền của trọng tài bởi vì việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu cũng
như việc góp vốn chính là hoạt động đầu tư, tài chính vì có bản chất kinh doanh thu lợi nhuận. Hơn nữa, cần phải hiểu tính “mở” của khái niệm thuật ngữ thương
mại trong Pháp lệnh. Theo đó, ngồi việc liệt kê các hành vi thương mại, Pháp lệnh còn quy định các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật. Do
vậy, bất kỳ quy định nào của pháp luật xác định lĩnh vực hoạt động là thương mại thì trọng tài đều có thẩm quyền giải quyết.
Tuy nhiên, có ý kiến khác cho rằng trọng tài khơng có thẩm quyền giải quyết các loại tranh chấp trên bởi vì các tranh chấp này khơng được liệt kê cụ
thể tại Khoản 3 Điều 2 của Pháp lệnh. Do vậy, chỉ có tòa án mới có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp này. Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã quy
định cụ thể những tranh chấp thuộc thẩm quyền của tòa án bao gồm: 1. Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá
nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận bao gồm: Mua bán hàng hoá; Cung ứng dịch vụ; Phân phối; Đại diện, đại lý; Ký gửi;
Thuê, cho thuê, thuê mua; Xây dựng; Tư vấn, kỹ thuật; Vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thuỷ nội địa; Vận chuyển hàng
hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển; Mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác; Đầu tư, tài chính, ngân hàng; Bảo hiểm; Thăm dò,
khai thác. 2. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao cơng nghệ giữa cá nhân,
tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
49
3. Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp
nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của cơng ty .
4. Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định.
Như vậy, hiện nay pháp luật Việt Nam có các quy định, giải thích khác nhau về phạm vi giải quết tranh chấp của tòa án và trọng tài. Điều này sẽ dẫn
đến việc hiểu và áp dụng khác nhau và sẽ tạo ra hậu quả khác nhau. Cụ thể, dựa theo quan điểm “mở” trọng tài có thể thụ lý giải quyết các tranh chấp thuộc Điều
29 nêu trên. Tuy nhiên, nếu áp dụng một cách “máy móc” và dựa theo nguyên tắc “chỉ được làm những gì luật pháp cho phép”, tòa án sẽ cho rằng trọng tài
vượt quá thẩm quyền. Điều này dẫn đến hậu quả là các quyết định trọng tài có nguy cơ khơng được tòa án cơng nhận và cho thi hành.
Ở luật trọng tài thương mại năm 2010 đã phần nào khắc phục được sự khơng rõ ràng đó, các đối tượng tham gia tranh chấp ở đây được định nghĩa rõ
ràng: “Các bên tranh chấp là cá nhân, cơ quan, tổ chức Việt Nam hoặc nước ngoài tham gia tố tụng trọng tài với tư cách nguyên đơn, bị đơn”
Vấn đề thứ hai
2
, đó là phạm vi các chủ thể được giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Điều 2 khoản 1 Pháp lệnh quy định “Trọng tài là phương thức giải
quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại được các bên thỏa thuận và được tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng do Pháp lệnh này quy định”. Theo
quy định trên, thuật ngữ “các bên” sẽ có hàm ý rất rộng. Các bên có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Trong khi đó, Nghị định của Chính phủ số 252004NĐ-CP
quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh lại giới hạn phạm vi chủ thể chỉ bao gồm “cá nhân kinh doanh hoặc tổ chức kinh doanh”. Cụ thể, Điều 2 của
Nghị định quy định “Trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại quy định tại khoản 3 Điều 2 của Pháp lệnh
m à các bên tranh chấp là cá nhân kinh doanh hoặc tổ chức kinh doanh”.
50
Như vậy, trong khi tinh thần của Pháp lệnh thì “mở” nhưng văn bản hướng dẫn thi hành, tuy có hiệu lực thấp hơn, lại đưa ra quy định “đóng”. Điều này
khiến các Trung tâm trọng tài đã phải từ chối rất nhiều vụ tranh chấp do chủ thể ký thoả thuận trọng tài không phải là “tổ chức, cá nhân kinh doanh”.
Trong thực tế, có rất nhiều tổ chức, như các ban quản lý dự án, tham gia đấu thầu hoặc giao kết các hợp đồng, trong đó sử dụng trọng tài theo khuyến
nghị của các nhà tài trợ, định chế tài chính như Ngân hàng thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á v.v… Tuy nhiên, khi phát sinh tranh chấp, các trung tâm trọng
tài của Việt Nam sẽ phải từ chối giải quyết vì các chủ thể này khơng phải là tổ chức kinh doanh. Điều này không phù hợp với pháp luật và thực tiễn trọng tài
quốc tế vốn chỉ nhấn mạnh tiêu chí thoả thuận, nghĩa là khi có thoả thuận của các bên chọn trọng tài thì trọng tài sẽ có thẩm quyền. Còn tiêu chí chủ thể ký
thoả thuận trọng tài khơng có ý nghĩa quan trọng, thậm chí trong một số trường hợp chủ thể ký thoả thuận trọng tài là Nhà nước thì thoả thuận trọng tài vẫn có
giá trị bởi vì bằng việc tự nguyện ký kết thoả thuận trọng tài, Nhà nước đã “từ bỏ” quyền miễn trừ của mình.
Ở Luật trọng tài thương mại năm 2010 thì có định nghĩa rõ ràng về các bên thỏa thuận trọng tài: “Các bên tranh chấp là cá nhân, cơ quan, tổ chức Việt Nam
hoặc nước ngoài tham gia tố tụng trọng tài với tư cách nguyên đơn, bị đơn”.Như vậy phạm vi các bên tham gia thỏa thuận trọng tài ở Luật trọng tài thương mại
năm 2010 mở rộng hơn và như vậy có thể giải quyết được một số tranh chấp mà chủ thể ký thoả thuận trọng tài không phải là “tổ chức, cá nhân kinh doanh”
,2
Duthaoonline.quochoi.vn: Bình luận Pháp lệnh trọng tài thương mại

2.2. Hình Thức


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (71 trang)

×