1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Hình Thức

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (418.55 KB, 71 trang )


Như vậy, trong khi tinh thần của Pháp lệnh thì “mở” nhưng văn bản hướng dẫn thi hành, tuy có hiệu lực thấp hơn, lại đưa ra quy định “đóng”. Điều này
khiến các Trung tâm trọng tài đã phải từ chối rất nhiều vụ tranh chấp do chủ thể ký thoả thuận trọng tài không phải là “tổ chức, cá nhân kinh doanh”.
Trong thực tế, có rất nhiều tổ chức, như các ban quản lý dự án, tham gia đấu thầu hoặc giao kết các hợp đồng, trong đó sử dụng trọng tài theo khuyến
nghị của các nhà tài trợ, định chế tài chính như Ngân hàng thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á v.v… Tuy nhiên, khi phát sinh tranh chấp, các trung tâm trọng
tài của Việt Nam sẽ phải từ chối giải quyết vì các chủ thể này không phải là tổ chức kinh doanh. Điều này không phù hợp với pháp luật và thực tiễn trọng tài
quốc tế vốn chỉ nhấn mạnh tiêu chí thoả thuận, nghĩa là khi có thoả thuận của các bên chọn trọng tài thì trọng tài sẽ có thẩm quyền. Còn tiêu chí chủ thể ký
thoả thuận trọng tài khơng có ý nghĩa quan trọng, thậm chí trong một số trường hợp chủ thể ký thoả thuận trọng tài là Nhà nước thì thoả thuận trọng tài vẫn có
giá trị bởi vì bằng việc tự nguyện ký kết thoả thuận trọng tài, Nhà nước đã “từ bỏ” quyền miễn trừ của mình.
Ở Luật trọng tài thương mại năm 2010 thì có định nghĩa rõ ràng về các bên thỏa thuận trọng tài: “Các bên tranh chấp là cá nhân, cơ quan, tổ chức Việt Nam
hoặc nước ngoài tham gia tố tụng trọng tài với tư cách nguyên đơn, bị đơn”.Như vậy phạm vi các bên tham gia thỏa thuận trọng tài ở Luật trọng tài thương mại
năm 2010 mở rộng hơn và như vậy có thể giải quyết được một số tranh chấp mà chủ thể ký thoả thuận trọng tài khơng phải là “tổ chức, cá nhân kinh doanh”
,2
Duthaoonline.quochoi.vn: Bình luận Pháp lệnh trọng tài thương mại

2.2. Hình Thức


Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003
Luật trọng tài thương mại năm 2010
Thoả thuận trọng tài phải được Thỏa thuận trọng tài có thể được
51
lập bằng văn bản. Thoả thuận trọng tài thông qua
thư, điện báo, telex, fax, thư điện tử hoặc hình thức văn bản khác thể
hiện rõ ý chí của các bên giải quyết vụ tranh
chấp bằng trọng tài được coi là thoả thuận trọng tài
bằng văn bản. xác lập dưới hình thức điều khoản
trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng
Thoả thuận trọng tài có thể là điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc là
một thoả thuận riêng.
Thoả thuận trọng tài phải được xác lập dưới dạng văn bản. Các hình
thức thỏa thuận sau đây cũng được coi là xác lập dưới dạng văn bản:
a Thoả thuận được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram,
fax, telex, thư điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật;
b Thỏa thuận được xác lập thông qua trao đổi thông tin bằng văn bản
giữa các bên; c Thỏa thuận được luật sư, công
chứng viên hoặc tổ chức có thẩm quyền ghi chép lại bằng văn bản theo
yêu cầu của các bên; d Trong giao dịch các bên có dẫn
chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa thuận trọng tài như hợp đồng, chứng
từ, điều lệ công ty và những tài liệu tương tự khác;
52
đ Qua trao đổi về đơn kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự
tồn tại của thoả thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận
Ở Pháp lệnh trọng tài năm 2003 về các hình thức văn bản thì có một số hình thức chưa liệt kê, ở luật trọng tài thương mại năm 2010 đã bổ sung cho một
số hình thức văn bản khác đó là: Thỏa thuận được luật sư, cơng chứng viên hoặc tổ chức có thẩm quyền ghi chép lại bằng văn bản theo yêu cầu của các bên;
Trong giao dịch các bên có dẫn chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa thuận trọng tài như hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ty và những tài liệu tương tự
khác; Qua trao đổi về đơn kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thoả thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận
2.3. Điều kiện hiệu lực của thoả thuận trọng tài và thoả thuận trọng tài vô hiệu
Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003
Luật trọng tài thương mại năm 2010
1. Tranh chấp phát sinh không thuộc hoạt động thương mại được quy định tại
Khoản 3 Điều 2 của pháp lệnh này;
Khoản 3 Điều 2: Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi
thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hoá, cung
ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý thương mại; ký gửi; thuê, cho thuê; thuê
mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; li - xăng; đầu tư; tài chính, ngân hàng; bảo hiểm;
1.Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của
Trọng tài quy định tại Điều 2 của Luật này.
Điều 2. Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của Trọng tài
1. Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại.
2. Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt
động thương mại. 3. Tranh chấp khác giữa các bên
53
thăm dò, khai thác; vận chuyển hàng hố, hành khách bằng đường hàng khơng, đường
biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp
luật. mà pháp luật quy định được giải
quyết bằng Trọng tài.
2. Người ký thoả thuận trọng tài khơng có thẩm quyền ký kết theo quy định
của pháp luật;
2. Người xác lập thoả thuận trọng tài khơng có thẩm quyền theo
quy định của pháp luật.
3.Một bên ký kết thoả thuận trọng tài khơng có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
3. Người xác lập thoả thuận trọng tài khơng có năng lực hành vi
dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự.
4. Thoả thuận trọng tài không quy định hoặc quy định không rõ đối tượng
tranh chấp, tổ chức trọng tài có thẩm quyền
giải quyết vụ tranh chấp mà sau đó các bên khơng có thoả thuận bổ sung.
5. Thoả thuận trọng tài không được lập theo quy định tại Điều 9 của pháp lệnh
này; 4. Hình thức của thoả thuận
trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16 của Luật này.
54
6. Bên ký kết thoả thuận trọng tài bị lừa dối, bị đe doạ và có yêu cầu tuyên bố
thỏa thuận trọng tài vô hiệu; thời hiện yêu
cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài vô hiệu là sáu tháng, kể từ ngày ký kết thoả
thuận trọng tài, nhưng phải trước ngày Hội đồng
trọng tài mở phiên họp đầu tiên giải quyết vụ tranh chấp quy định tại Điều 30
của Pháp lệnh này.
Điều 30. Xem xét thoả thuận trọng tài, thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp
của Hội đồng Trọng tài
1. Trước khi xem xét nội dung vụ tranh chấp, nếu có đơn khiếu nại của một
bên về việc Hội đồng Trọng tài khơng có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp; vụ
tranh chấp khơng có thoả thuận trọng tài hoặc thoả thuận trọng tài vô hiệu, Hội đồng
Trọng tài phải xem xét, quyết định với sự có mặt của các bên, trừ trường hợp các bên
có yêu cầu khác. Bên khiếu nại đã được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt khơng có lý
do chính đáng thì được coi là đã rút đơn khiếu nại. Hội đồng Trọng tài tiếp tục xem
5. Một trong các bên bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép trong quá trình xác
lập thoả thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vơ
hiệu. 6. Thỏa thuận trọng tài vi phạm
điều cấm của pháp luật.
55
xét giải quyết vụ tranh chấp. 2. Trong trường hợp không đồng ý với
quyết định của Hội đồng Trọng tài về nội dung nêu tại khoản 1 Điều này, trong thời
hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Hội đồng Trọng tài,
các bên có quyền u cầu Tồ án cấp tỉnh nơi Hội đồng Trọng tài đã ra quyết định
xem xét lại quyết định của Hội đồng Trọng tài. Bên có u cầu phải đồng thời thơng
báo việc này cho Hội đồng Trọng tài. Đơn yêu cầu phải có những nội dung
chủ yếu sau đây: a Ngày, tháng, năm viết đơn;
b Tên và địa chỉ của người viết đơn; c Nội dung yêu cầu.
Đơn yêu cầu phải kèm theo các bản sao đơn kiện, thoả thuận trọng tài, quyết
định của Hội đồng Trọng tài. Các bản sao phải có chứng thực hợp lệ.
Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, Chánh án
Toà án giao cho một Thẩm phán xem xét, giải quyết đơn yêu cầu. Trong thời hạn
mười ngày, kể từ ngày được giao, Thẩm phán phải xem xét, quyết định. Quyết định
của Toà án là chung thẩm. Trong trường hợp Toà án quyết định
vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của
56
Hội đồng Trọng tài, vụ tranh chấp khơng có thoả thuận trọng tài hoặc thoả thuận trọng
tài vơ hiệu thì Hội đồng Trọng tài ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ tranh chấp. Nếu
khơng có thoả thuận khác, các bên có quyền khởi kiện vụ tranh chấp ra Tồ án.
Thời hiệu khởi kiện ra Toà án theo quy định tại Điều 21 của Pháp lệnh này, nhưng
khơng tính thời gian từ ngày ngun đơn khởi kiện tại Trọng tài đến ngày Toà án ra
quyết định quy định tại Điều này. 2.3.1.Về tranh chấp giữa các bên
Theo Điều 1 Pháp lệnh, “Pháp lệnh này quy định về tổ chức và tố tụng trọng tài để giải quyết các vụ tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại
theo sự thỏa thuận của các bên”. Khoản 1 Điều 10 của Pháp lệnh còn quy định là “thỏa thuận trọng tài vô hiệu” khi “tranh chấp phát sinh không thuộc hoạt động
thương mại được quy định tại khoản 3 Điều 2 của Pháp lệnh này”. Như vậy, thỏa thuận Trọng tài có giá trị pháp lý đối với các tranh chấp phát sinh từ hoạt
động thương mại. Khoản 3 Điều 2 Pháp lệnh quy định thế nào là hoạt động thương mại bằng
hai phương pháp. Bằng phương pháp liệt kê, Pháp lệnh đã đưa ra một danh sách những hành vi thương mại. Cụ thể, theo Điều khoản này, “hoạt động thương mại
là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý
thương mại; ký gửi; thuê, cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; li- xăng; đầu tư; tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò khai thác; vận chuyển
hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ”.
57
Những hành vi liệt kê ở trên không phải là hoạt động thương mại duy nhất mà các bên có thể đưa tranh chấp ra trước trọng tài. Bởi theo khoản 3 Điều 2
Pháp lệnh, ngoài những hành vi vừa liệt kê còn có “các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật”. Do vậy, quan điểm mà theo đó “Luật thương mại
quy định bao quát hơn” Pháp lệnh về hoạt động thương mại là không thuyết phục. Với cách quy định như trên, chúng ta thấy tất cả những gì quy định trong
Luật Thương mại mà khơng có trong danh sách trên đều thuộc phạm vi điều
chỉnh của Pháp lệnh vì đó là “các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật
12
. Ở Luật trọng tài thương mại năm 2010 đã mở rộng hơn và rõ ràng hơn của
trường hợp vô hiệu trong tranh chấp, ở PLTTTM 2003 thì các tranh chấp là thuộc hoạt động thương mại, ở LTTTM 2010 thì ngồi các tranh chấp giữa các
bên liên quan đến hoạt động thương mại còn có cả tranh chấp khác mà pháp luật quy định giải quyết bằng trọng tài.
2.3.2. Về tính khơng rõ ràng của thỏa thuận trọng tài Ở PLTTTM 2003 thì thoả thuận khơng rõ ràng. Trong thực tế, khi xác lập
thoả thuận trọng tài, có thể các bên không rõ ràng về đối tượng tranh chấp hay tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Trong trường hợp này, các bên nên
bổ sung nếu không thì thoả thuận có nguy cơ bị vơ hiệu và Trọng tài khơng có thẩm quyền xét xử. Bởi lẽ, theo Điều 10, khoản 4, thoả thuận trọng tài vô hiệu
khi “thỏa thuận trọng tài không quy định hoặc quy định không rõ đối tượng tranh chấp, tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp mà sau đó
các bên khơng có thỏa thuận bổ sung”. Pháp lệnh không định nghĩa khi nào là “thỏa thuận trọng tài không quy định hoặc quy định không rõ đối tượng tranh
chấp, tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải quyết”. Một vấn đề có thể rõ ràng với người này và không rõ ràng với người khác. Thực ra mà nói thì khơng có khái
niệm nào “khơng rõ ràng” bằng khái niệm “rõ ràng”. Tất cả phụ thuộc vào những người áp dụng nó. Do đó, ranh giới giữa thỏa thuận trọng tài có giá trị
12
http:thongtinphapluatdansu.wordpress.com200810101806
58
pháp lý và thỏa thuận trọng tài khơng có giá trị pháp lý là rất mỏng manh. ở đây, nhận thức và chính sách áp dụng pháp luật của Tòa án là rất quan trọng. Xin dẫn
một ví dụ minh họa. Đánh giá của Tòa án. Giữa các bên đã thoả thuận với nhau rằng “Tranh
chấp sẽ được giải quyết bởi Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh”. Nhưng theo Tòa án, đây “là một thoả thuận khơng rõ ràng về tổ
chức trọng tài có thẩm quyển giải quyết vụ tranh chấp; và theo đó, nếu như giữa các bên khơng có sự thoả thuận bổ sung để chọn trọng tài như quy định tại
Điều 10.4 Pháp lệnh trọng tài thương mại thì phải coi thoả thuận chọn trọng tài tại Điều 7 hợp đồng 73RK-HNF là thoả thuận trọng tài vô hiệu”.
Ở đây, rõ ràng các bên đã muốn chọn “Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam”, mà ở nước ta chỉ có duy nhất một “Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt
Nam”. Tuy nhiên, phần sau của đoạt trên có thêm là “tại TP. Hồ Chí Minh”. Và do vậy, Tòa án đã cho rằng thỏa thuận trên là khơng “rõ ràng”. Ví dụ cho thấy
ranh giới giữa “rõ ràng” và “không rõ ràng” đôi khi là quá mỏng manh. Nếu chúng ta ủng hộ Trọng tài, chúng ta có thể cho rằng đó chỉ là sơ suất về sử dụng
từ chứ thực ra ý tưởng của các bên đã rõ ràng là chọn “Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam”. Còn phần sau có thể là nơi xét xử tại TP. Hồ Chí Minh mà nếu
các bên có mâu thuẫn về nơi xét xử cũng không làm cho thỏa thuận trọng tài vô hiệu
13
Ở LTTTM 2010 đã bỏ điều vô hiệu này vì sự khơng rõ ràng này gây rất nhiều rắc rối.

2.4. Quyền khởi kiện ra trọng tài của người tiêu dùng


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (71 trang)

×