1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Giá trị pháp lý của thoả thuận trọng tài PLTTTM 2003

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (418.55 KB, 71 trang )


trọng tài, cụ thể là liên quan tới điều khoản trọng tài theo hướng nếu điều khoản trọng tài bất lợi cho người tiêu dùng, điều khoản này sẽ không được viện dẫn
làm bất lợi cho người tiêu dùng. Đây là vấn đề phát sinh nhiều trong thực tiễn và cần có sự điều chỉnh của pháp luật, đặc biệt là dưới góc độ các Điều kiện giao
dịch chung và các hợp đồng tiêu chuẩn. Nghị định số 252004NĐ-CP ngày 1512004 quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh Trọng tài thương mại quy
định trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại mà các bên tranh chấp là cá nhân kinh doanh hoặc tổ chức
kinh doanh. Như vậy, theo pháp luật Việt Nam hiện hành, tranh chấp mà chỉ có một bên có mục đích kinh doanh khơng thể đưa ra trọng tài. Điều này hạn chế
quyền định đoạt của các chủ thể liên quan khởi kiện vụ việc trước trọng tài. Mặt khác, nghiên cứu Luật Thương mại của Việt Nam phần phạm vi điều chỉnh có
thể nhận thấy, Luật Thương mại có thể điều chỉnh cả khi một bên khơng nhằm mục đích sinh lợi
14
.
LTTTM 2010: Điều 17. Quyền lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp của người tiêu dùng:
Đối với các tranh chấp giữa nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng, mặc dù điều khoản trọng tài đã được ghi nhận trong các điều kiện chung
về cung cấp hàng hoá, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn thỏa thuận trọng tài thì người tiêu dùng vẫn được quyền lựa chọn Trọng tài hoặc Tòa án để giải quyết
tranh chấp. Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ chỉ được quyền khởi kiện tại Trọng tài nếu được người tiêu dùng chấp thuận.
Như vậy, ở LTTTM 2010 mở rộng quyền của người tiêu dùng quyền kiện ra tọng tài mà PLTTTM 2003 khơng có.

2.5. Giá trị pháp lý của thoả thuận trọng tài PLTTTM 2003


LTTTM 2010
Trong trường hợp vụ tranh chấp Trong trường hợp các bên tranh
14
Vấn đề hiệu lực của thoả thuận trọng tài
http:www.phaply.net.vn? page=4sessionpage=611pagecat=56sessionid=
60
đã có thỏa thuận trọng tài, nếu một bên khởi kiện ra Tòa án thì Tòa án phải từ
chối thụ lý, trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài vơ hiệu
chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Tồ án
phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận
trọng tài không thể thực hiện được PLTTTM 2003: Thiếu quy định về Thỏa thuận trọng tài không hoặc không
thể thực hiện được Pháp lệnh đã bỏ sót một quy định rất cơ bản là vấn đề “thỏa thuận trọng tài
không thực hiện được hoặc khơng thể thực hiện được”. Trong thực tế, có rất nhiều điều khoản trọng tài có hiệu lực theo quy định của pháp luật, đó là: phạm
vi tranh chấp thuộc thẩm quyền của Trọng tài; người ký Thỏa thuận trọng tài có đủ thẩm quyền, đủ năng lực hành vi;, quy định rõ đối tượng tranh chấp và tổ
chức trọng tài có thẩm quyền nhưng vẫn khơng thể giải quyết được bằng Trọng tài. Ví dụ, có một số điều khoản trọng tài quy định như sau:
“Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này sẽ được giải quyết trước tiên tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Namsau đó sẽ được giải quyết chung thẩm tại
Tòa án”; hoặc “Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc có liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam theo Pháp lệnh Thủ
tục giải quyết các vụ án kinh tế”; hoặc “Tranh chấp nếu có sẽ được giải quyết tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam và Tòa án Trọng tài Quốc tế ICC” v.v…
Theo quy định của Pháp lệnh, các điều khoản trọng tài nêu trên không thuộc trường hợp vơ hiệu vì đã chỉ rõ tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải quyết
vụ tranh chấp. Tuy nhiên, những điều khoản trọng tài này không thể thực hiện được trong thực tiễn bởi thỏa thuận có sự mâu thuẫn. Vậy vấn đề này sẽ được
giải quyết như thế nào? Các bên sẽ đưa tranh chấp ra cơ quan nào để giải quyết? Nếu đưa ra Tòa án thì Tòa án sẽ từ chối. Điều 5 Pháp lệnh quy định “trong
trường hợp vụ tranh chấp đã có thỏa thuận trọng tài, nếu một bên khởi kiện ra Tòa án thì Tòa án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài vô
hiệu”.Như vậy, Pháp lệnh mới chỉ giải quyết vấn đề Thỏa thuận trọng tài vô
61
hiệu, chưa giải quyết vấn đề Thỏa thuận trọng tài khơng thể thực hiện được. Do đó, sẽ có nhiều vụ tranh chấp phát sinh nhưng không được cơ quan nào giải
quyết. Vấn đề này nếu không được điều chỉnh kịp thời sẽ tạo ra hậu quả xấu làm giảm tính hấp dẫn của Trọng tài.
Luật Mẫu và Pháp luật trọng tài các nước đều quy định rất rõ về vấn đề này. Khoản 1 Điều 8 Luật Mẫu quy định “Tòa án, nơi có khiếu kiện về vấn đề
đối tượng của thỏa thuận được đưa ra, nếu một bên yêu cầu không muộn hơn thời gian khi nộp bản giải trình đầu tiên của mình về nội dung tranh chấp, sẽ
chuyển tranh chấp ra trọng tài trừ khi thấy rằng thỏa thuận trọng tài vơ hiệu, khơng có hiệu lực hoặc không thể thực hiện được”. Điều II Công ước New York
quy định “Tòa án của một quốc gia thành viên, khi nhận được một đơn kiện về một vấn đề mà vấn đề đó các bên đã có thỏa thuận theo nội dung của điều này,
sẽ, theo yêu cầu của một bên, đưa các bên ra trọng tài , trừ khi Tòa án thấy rằng thỏa thuận nói trên khơng có hiệu lực hoặc khơng thể thực hiện được”. Luật
Trọng tài các nước đều có quy định tương tự về vấn đề này
15
. Ở LTTTM 2010 đã giải quyết được vấn đề này, đã quy định thêm cả trường
hợp “thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được”

2.6. Thực thi thoả thuận trọng tài.


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (71 trang)

×