1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Y khoa - Dược >

Phân loại - Cơ chế bệnh sinh của các thể bệnh trong chứng huyễn vựng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.05 MB, 100 trang )


- Yếu tố thất tình: tình chí là yếu tố chính gây ra chứng huyễn vựng. Tinh thần căng thẳng lâu ngày, tình chí không th thái, hoặc lo nghĩ tức giận làm can
khí uất kết, uất lâu ngày hoá hoả, hoả thịnh thơng âm, làm can âm mất nuôi d-
ỡng, can âm hao tổn. Âm không liễm đợc dơng can dơng nhiễu loạn lên trên làm đau đầu mắt đỏ và xuất hiện những cơn bốc hoả. Can và thËn cã quan hƯ
mËt thiÕt víi nhau, can ho¶ nung đốt phàn âm của can thận, dẫn tới can thận âm h, can dơng vợng.
- ẩm thực bất điều: Do ăn uống nhiều chất bổ béo làm tổn thơng tỳ vị, khiến chức năng vận hoá của tỳ suy giảm mà dẫn tới đàm thấp nội sinh nên phát bệnh
hoặc uống nhiều rợu làm thấp trọc sinh ra, lâu ngày hoá nhiệt, nhiệt ung nấu tân
dịch thành đàm. Đàm thấp lại làm rối loạn chức năng kiện vận của tỳ vị, hậu quả sinh đàm thấp lai làm cho thanh dơng bất thăng, trọc âm bất giáng mà gây
ra chứng hun vùng. - Néi th¬ng h tỉn: Do lao th¬ng quá độ hoặc tuổi cao làm chức năng của thận
suy giảm, thận thuỷ bất túc, thuỷ không dỡng đợc mộc, can không đợc nuôi dỡng dẫn đến can thận âm h, can hoả vợng mà sinh ra huyễn vựng.

1.2.2. Phân loại - Cơ chế bệnh sinh của các thể bệnh trong chứng huyễn vựng


Theo YHCT, chứng huyễn vựng đợc chia làm 4 thể chính, mỗi thể có những Biểu đồ hiện lâm sàng và cơ chế bệnh sinh khác nhau [70] [7]
1.2.2.1. Thể can dơng thợng cang - Triệu chứng lâm sàng: nhức đầu, ngời bứt rứt, dễ cáu gắt, tai ù, mặt đỏ
mắt đỏ, họng khô, ngủ ít, rêu lỡi vàng, mạch huyền sác. - Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh:
Trong điều kiện bình thờng can âm và can dơng cân bằng nhau, bất kỳ lý
do nào làm mất sự cân bằng này làm can dơng vợng lên đều gây ra chứng huyễn vựng. Can âm h có thể gặp ở ngời có bẩm tố dơng mạnh, can dơng dễ thăng lên
trên mà phát thành huyễn vựng hoặc do ngời bệnh có quá trình căng thẳng về mặt tinh thần làm rối loạn tình chí làm uất hoá hoả gây tổn thơng đến can âm,
phần âm bị tiêu hao đi phần dơng của can thăng động lên tạo thành huyễn vựng hoặc do thận âm thơng tổn không nuôi dỡng đợc can mộc, can âm không đủ can
dơng thăng động mà gây ra huyễn vựng. Can hoả vợng làm cho ngời bệnh căng
váng đầu, hoa mắt mặt đỏ ù tai, ngời bứt dứt khó chịu, tính tình nóng nảy, hay cáu giận. Can khai khiếu ra mắt khi can hoả vợng thì mắt đỏ. Can nhiễu động
tâm, đồng thời không nuôi dỡng đợc tâm huyết dẫn đến mất ngủ, can đởm vợng làm miệng đắng, lỡi đỏ mạch huyền sác.
1.2.2.2. Thể thận tinh bất túc - Triệu chứng lâm sàng: nhức đầu, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, hoảng hốt,
ngủ ít hay mê, lng gối mỏi yếu, miệng khô mặt đỏ, chất lỡi đỏ, mạch huyền tế sác nếu thiên về âm h.
Nếu thiên về dơng h thì sắc mặt trắng, lng gối mềm yếu, đi tiểu nhiều, liệt dơng, di tinh, mạch trầm tế.
- Nguyên nhân cơ chế bệnh sinh: Thận gồm hai phần thận âm và thận dơng hay thận thuỷ và thận hoả, thận
tinh và thận huyết. Khi thuỷ hoả mất cân bằng, hoả thời vợng lên, thận âm bất túc không hoà hợp đợc với tâm hoả, hoả của thận và của tâm kết hợp lại mà gây
bệnh. Sách nội kinh viÕt: “thËn sinh tinh, tinh sinh tuû, tuû sinh n·o, mà não lại là bể của tuỷ, Mọi chứng choáng váng chao đảo đều thuộc can mộc, thận h
thì đầu nặng, tuỷ thiếu thì ù tai. Lng là phủ của thận, chức năng thận kém sẽ dẫn đến đau lng, mỏi gối. Do vậy khi bẩm tố thiên thiên không đủ hoặc lao th-
ơng quá độ làm tiêu hao thận tinh nên tinh không thể thợng xung lên não, bể tuỷ không đầy đủ gây ra chứng huyễn vựng.
1.2.2.3. Thể khí huyết lỡng h - Triệu chứng lâm sàng: sắc mặt trắng, da khô, mệt mỏi, ngủ ít ăn kém,
hay đi phân lỏng, đầu choáng, hoa mắt, rêu lỡi nhạt, mạch huyền tế. - Nguyên nhân cơ chế bệnh sinh:
ở những ngời mắc bệnh lâu ngày làm tổn thơng khí hoặc huyết kéo dài hoặc cha kịp hồi phục do tỳ vị h nhợc làm mất khả năng sinh hoá làm cho khí
huyết bị tổn thơng. Khí h làm cho chất thanh không thăng đợc, chất trọc không giáng, huyết h làm não kém đợc nuôi dỡng mà gây ra huyễn vựng hoặc huyết h
làm cho sự lu thông khí huyết bị ngừng trệ, huyết tắc lại lâu ngày hoá hoả gây huyễn vựng.
Sách Tỳ vị luận của Lý Đông Viên nói: Tuổi từ 40 trở lên, nguyên khí đã suy và do lo nghĩ phiền uất càng hại đến nguyên khí vì thế mà phát bệnh
thành huyễn vựng[7]. Hải Thợng Lãn Ông cho rằng: Âm huyết của hậu thiên h thì hoả động
lên, chân thuỷ của tiên thiên suy thì hoả bốc lên mà gây thành chứng huyễn vựng[62].
Trên thực tế lâm sàng huyễn vựng do nguyên các nguyên nhân đơn lẻ gây ra hoặc có thể do một vài nguyên nhân phối hợp gây ra.
1.2.2.4. Thể đàm trọc trung trở - Triệu chứng lâm sàng ngời béo mập, ngực sờn đầy tức, hay lợm giọng, buồn
nôn, ăn ít ngủ kém, rêu lỡi trắng dính, mồm nhạt, mạch huyền hoạt. - Nguyên nhân cơ chế bệnh sinh:
Thờng gặp ở những ngời có thể trạng mập phì do ăn nhiều đồ béo ngọt trong thời gian dài làm tổn thơng đến tỳ vị, làm rối loạn đến chức năng kiện vận
của tỳ vị tạo nên đàm thấp, làm cho thanh dơng bất thăng và trọc âm bất giáng mà gây ra huyễn vựng.
Sơ đồ tóm tắt cơ chế bệnh sinh chứng Huyễn vựng
Rối loạn tình chí
Thận âm thương
ẩm thực thất điều
Can âm tổn thư
Can âm không đủ
Tổn thư ơng tỳ vị
Đàm thấp
Huyễn vựng
Can dơng thăng động
Tổn thơng khí huyết Bể tuỷ không đủ
Tỳ vị hư nhược
Mắc bệnh lâu ngày
Tinh tuỷ thiếu
Tiêu hao thận tinh
Lao thư ơng quá độ
Tiên thiên bất túc

1.2.3. Điều trị chứng huyễn vựng


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (100 trang)

×